Showing posts with label Bạch Xuân Phẻ. Show all posts
Showing posts with label Bạch Xuân Phẻ. Show all posts

Tuesday, May 29, 2018

40 Năm Qua - 40 Năm Tới

Đại Lễ Phật Đản, PL 2642. Photo - Kiêm Nguyễn

40 Năm Qua - 40 Năm Tới
"Tạnh mưa, ta ngó lên trời
Hỏi đôi cánh nát ai người vá khâu." Toại Khanh

40 năm cũng có thể nói là hơn nữa kiếp người, sự hiện hữu của Gia đình Phật tử Kim Quang cũng vừa tròn 40 năm. 

Cái tuổi Tứ Thập Nhi Bất Hoặc rồi, còn gì. Cái tuổi mà có thể phân tích và thấu hiểu mọi lý sự trong thiên-hạ, mọi lẽ đúng-sai, có-không, còn-mất v.v… Mừng cho Đơn vị GĐPT Kim Quang, mừng cho Tổ chức Áo Lam nói riêng và mừng cho Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ nói chung.

GĐPT Kim Quang, Sacramento, CA là một trong 3 đơn vị đầu tiên tại bang California Hoa Kỳ, chỉ sau, GĐPT Long Hoa, Chùa Việt Nam, Los Angeles, CA, GĐPT Cựu Kim Sơn, Chùa Từ Quang, Francisco, CA.  Riêng tại Hoa Kỳ, có thể nói GĐPT Kim Quang là một trong 5 đơn vị đầu tiên ở xứ sở Tự do này. Sự đóng góp của đơn vị Kim Quang cho tổ chức Gia đình Phật tử Việt Nam tại Hoa Kỳ và cho Cộng đồng Phật giáo tại miền Bắc California không lớn, như cũng có thể gọi là như thị.

Đơn vị Kim Quang đã qua 4 thời Gia trưởng: Bác gia trưởng đầu tiên - Bác Huỳnh Ngọc Cấm (1978-1982). Bác Gia trưởng thứ 2 - Bác Trần Văn Điều (1981-1983), Bác Gia trưởng thứ 3 - Diệu Lan - Lâm Ngọc Liên (1985-1997) và Bác Gia trưởng thứ 4 - Nguyên Chiếu - Nguyễn Thanh Minh (2000 - hiện tại) và 11 đời Liên Đoàn Trưởng.

1.     Liên Đoàn trưởng đầu tiên - Quảng Thành Đoàn Thanh Nam (1978-1983).

2.     Liên Đoàn trưởng thứ 2 - Nguyên Phú - Nguyễn Sanh Tỵ (1983-1984).
3.     Liên Đoàn trưởng thứ 3 - Nguyên Nhơn - Ngô Thị Thu (1984-1985 & 1986-1987).
4.     Liên Đoàn trưởng thứ 4 - Diệu Thiện - Nguyễn Xuân Mộng Liên (1987-1990). Chị Mộng Liên (Sư Cô Thoại Nghiêm) xuất gia vào năm 1992 với Sư Ông Làng Mai.
5.     Liên Đoàn trưởng thứ 5 - Quảng Quý - Huỳnh Kim Lân (1990-1998)
6.     Liên Đoàn trưởng thứ 6 - Nhật Liên Dũng - Lê Minh Dũng (1998-2004)
7.      Liên Đoàn trưởng thứ 7 - Nguyên Cần - Nguyễn Đình Tiến (2004-2006)
8.      Liên Đoàn trưởng thứ 8 - Tâm Thường Định - Bạch Xuân Khoẻ (2006-2008)
9.      Liên Đoàn trưởng thứ 9 - Nguyệt Kim Tường - Thạch Ngọc Bích Vân (2008-2012)
10.   Liên Đoàn trưởng thứ 10 - Nhật Quang Khánh - Lê Minh Khánh (2012-2016)
11.   Liên Đoàn trưởng thứ 11 - Quảng Mỹ - Võ Thị Thuý Thương (2016 - hiện tại)


 Ngoài ra, không biết bao nhiêu ngàn huynh trưởng và đoàn sinh khác đã đến và đi trong 4 thập niên qua. Trong 40 năm qua thăng trầm đó, cũng đã có nhiều Thầy Cô cố vấn giáo hạnh, hướng dẫn Phật pháp, dìu dắt và nâng đỡ. Quý Thầy Cô này đều có những ảnh hưởng lớn cho hàng huynh trưởng Kim Quang mà chúng tôi còn nhớ theo thứ tự thời gian, đó là.

1. Hòa thượng Thích Tịnh Từ
2. Cố Hòa thượng Thích Thiện Tường
3. Cố Hòa Thượng Thích Thiện Trì
4. Ni Sư Thích Nữ Tịnh Thường
5. Hòa thượng Thích Phước Hạnh
6. Thượng tọa Thích Thiện Duyên
7. Thượng tọa Thích Phước Hiền
8. Thượng tọa Thích Thiện Quang
9. Hòa thượng Thích Minh Đạt
10. Thượng tọa Thích Thiện Nhơn
11. Thượng tọa Thích Thiện Long
12. Ni Sư Thích Nữ Thuần Chánh
13. Ni Sư Thích Nữ Thuần Bạch
14. Ni Sư Thích Nữ Thuần Tuệ
15. Ni Sư Thích Nữ Tịnh Nghĩa.

Ngoài ra còn có cố Hòa thượng Thích Hạnh Tuấn, Thầy Thích Từ Lực, Thích Thông Đạt, Thích Đạo Quảng, Thích Đạo Chí, Thích Tín Chánh, Thích Đạt Tiến, Thích Huyền Thiện, Thích Trúc Thái Tâm, Sư Cô Thích Nữ Hiền Hỷ, v.v… Dù không có dạy huynh trưởng và đoàn sinh Kim Quang trực tiếp, nhưng qua sự tiếp xúc và thân giáo của mỗi vị là những bài học tiêu biểu cho hàng huynh trưởng và đoàn sinh Kim Quang.

Trong suốt 40 năm qua, đã biết bao nhiêu người đến và đi cũng không ngoài mục đích làm cho GĐPT Kim Quang nói riêng và tổ chức Áo Lam nói chung cũng đã ‘vá khâu’, và dựng xây cho ngày thêm vững mạnh, phát triển và hòa nhập vào xã hội mới. Chúng tôi tin chắc rằng 40 năm sau, GĐPT cũng sẽ hội nhập vào dòng chính nếu chúng ta uyển chuyển thay đổi. Vậy, xin hãy tiếp tục cùng nhau hơn nữa trong 40 năm tới.

XIN HÃY CÙNG NHAU! 

Đôi mắt ai cay cay
Chưa bao giờ buồn thế

Và những đều có thể
Ta nói không nên lời

Giữa những nỗi chơi vơi
Tìm về trong cõi vắng
Khi tâm ta tĩnh lặng
Sẽ nhận thấy chính mình

Có những buổi bình minh
Chim líu lo ca hát
Giữa cách đồng Bát ngát

Bao nguồn xanh nhiệm mầu

Ở tận cùng khổ đau
Cũng có mầm hạnh phúc
Người như sông có khúc
Thấy dòng chảy nhân sinh
 

Đời sống bao nghĩa tình
Có gì đâu còn mất?
Giữa cõi đời tất bật
Bi-Trí-Dũng đồng hành!


Cuộc sống quá mong manh
Tấm lòng ta dâng hết
"Và nếu mai ta chết
Nụ cười mỉm trên môi!" *

Hôm nay làm báo, chúng tôi xin mạn phép nhắc lại như lời Tri ân và biết ơn chân thành. Biết là dùng ngôn ngữ nào cũng không thể diễn đạt được hết ý vừa; thôi thì, chúng tôi chỉ ngồi đây yên lặng và nhớ tưởng về quý Thầy Cô và tất cả quý vị. Ngồi yên, lắng nghe dòng thác và dòng nhạc đang quyện lẫn vào nhau.  Cầu mong 40 năm sau, dòng chảy của Kim Quang vẫn tiếp tục không ngừng, trong đạo cũng như ngoài đời.  Và trong mỗi chúng ta cũng đều thấy được mình là dòng thác tiếp nối nhiệm mầu, phải chăng chỉ khi…
"Nhiều đêm thấy ta là thác đổ
Tỉnh ra có khi còn nghe." Trịnh Công Sơn

Viết tại công ty 2BS – văn phòng làm báo của GĐPT Kim Quang
Tâm Thường Định

* Ý thơ Hoà thượng Thích Minh Đạt


Monday, May 28, 2018

DỐC CÁ NGÀY XƯA - và TRĂNG

Dốc Cá ngày xưa cũng trắng và rộng như bãi/đồi Hưng Lương như thế này - Cả hai, nay không còn nữa.

DỐC CÁ NGÀY XƯA

Con dốc  trắng ngày xưa

Bây chừ thương dĩ vãng
Có những đêm lãng mạn
Biển rì rào gọi tên.

Con dốc trắng ngày xưa

Dưới chân em rác đổ
Lãng mạn kia là mộ
Biển gầm gừ trách nhau.

Con dốc trắng ngày xưa

Như con sông trôi chảy
Con dốc trắng ngày mai
Biển cát có ngất ngây?

Nhơn Lý, 2005

Trích Tập thơ Hương Lòng, xuất bản năm 2007. Trang 107




VẦNG TRĂNG ĐÊM NAY
Thương tặng em P.
Đêm thanh vắng gã ly hương thầm lặng
Uống trăng rằm và uống nỗi cô đơn
Rượu đâu cạn nỗi trầm tư đâu hết
Đời long đong vận nước cũng long đong. 

TRĂNG UYÊN NGUYÊN
Đêm hè nằm võng đu đưa
Trăng khuya thanh tịnh chốn xưa vọng về
Trăng rằm lấp lánh biển quê
Gió hoà nhịp thở đề huề có-không!

BIỂN VÀ TRĂNG I

Biển hát hay than những tháng ngày
Hoà mình với sóng khúc tình say
Nhịp hò theo điệu thiên nhiên hóa
Hay dỗi hờn cho nỗi đọa đày.

Biển mang tâm sự những đêm trăng
Lấp lánh thuyền ai bóng chị Hằng
Vọng về biển hát lời êm ả
Ầm ĩ biển gầm khi vắng trăng.

Và biển giận nhiều dâng thần sóng
Gầm gừ khi Nguyệt đến mới xong
Biển hờn biển động trăng không đến
Mòn mõi ngày đêm vẫn đợi trông.

...Nguyệt trách biển kia quá vô tình
Vì khi nàng đến biển lặng thinh
Biển sao êm ả, trăng nào biết!
Không nói không năng Nguyệt dỗi mình.

Bạch X. Phẻ viết lúc còn tuổi học trò.
Trích từ tập thơ Mẹ, Cảm Xúc và Em, trang 38, xuất bản năm 2004.



Thơ Bạch X. Phẻ * 4 mùa trăng

Để tưởng nhớ 100 năm ngày sinh thi sĩ Hàn Mặc Tử hay Hàn Mạc Tử
(tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh 22 tháng 9, 1912 – mất 11 tháng 11, 1940).
Xin đăng lại những dòng thơ về trăng mà tác giả tạm gọi là: TRĂNG – Đông Thu Hạ Xuân – TRĂNG.

NHỚ TRĂNG VÀ BIỂN

Trăng Đông vằng vặc buồn tê tái
Gió lạnh thấu xương nhớ quê nhà
Nhớ biển trăng ngà sao nhớ lạ
Ai buồn biển động nổi phong ba

TRĂNG SÁNG MÙA THU

Trăng Thu thanh sáng dịu dàng
Đêm khuya tĩnh lặng cung đàn véo von
Quỳnh lan khóm trúc nỉ non
Phù sinh đất khách cho tròn trăm năm

NGỒI DƯỚI ÁNH TRĂNG

Đêm hè trăng mới mọc
Tiếng suối róc rách ca
Thanh thản lại trong ta
Ngồi đây vằng vặc sáng.

TRĂNG XUÂN

Trăng sáng ngoài kia
Trăng sáng trong lòng
Trăng nào viên miễn
Trăng này thong dong.
TRĂNG !
Bạch X. Phẻ

MỘNG ĐẸP DƯỚI TRĂNG

Vầng trăng sáng có màu đen trong đó
Có vui/buồn, tròn/khuyết, có hợp/tan
Có tỉnh/mê, ai say đắm, hững hờ
Từng hơi thở, đôi bàn chân thanh thản.


ĐÊM NGUYỆT THỰC
Trăng tháng tư sao ửng hồng như thế
Mắt lệ đã khô nước mắt sông dài
...Quê hương thương yêu nghìn năm muôn thuở
Đến/có và đi/không! vằng vặc một vầng trăng.


Rằm Tháng Tư dương lịch, 2014.
Bạch Xuân Phẻ