Thursday, May 4, 2017

Thăm Động Postojna, Slovenia và Học bài Quản lý Du lịch

Thăm Động Postojna, Slovenia và Học bài Quản lý Du lịch Hang Động ở Nước Ta
IMG_0508.JPG
Cách đây không lâu, tôi được dịp tham quan hang động Postojna cùng với hai người bạn đến từ Macedonia và Jordan. Thời tiết trong tuần không được thuận lợi, và ngày chúng tôi đi rơi vào ngày mưa, nhưng chẳng sao, trong lòng vẫn hừng hực đến chiêm ngưỡng hang động nổi tiếng bậc nhất này của châu Âu. Từ thủ đô Ljubljana đi tàu chừng một giờ là đến thị trấn Postojna, tiếp đó đi bộ 2 km tới điểm tham quan, lúc đến nơi trời đổ mưa tầm tã, chúng tôi loay hoay để gọi taxi thì được một người địa phương nhiệt tình chỉ thông tin, nhưng rồi ông ta đề nghị chở đến nơi và lấy 5 euro, nghĩ đó cũng là một cái giá hợp lý, chúng tôi gật đầu đồng ý, ông lái vòng vèo chừng vài phút là đến nơi, cũng may đường ngắn, không thì cái mùi trên xe có thể làm cả đám nôn ra. Dù sao cũng cảm ơn ông ấy đỡ mất thời gian chờ đợi.
Cả ba đi bộ chừng vài chục mét thì đến quầy bán vé, thật ra là một văn phòng được xây dựng khang trang và sạch sẽ. Trước khi mua vé có cô nhân viên mặc áo gió đồng phục màu cam chờ sẵn, cung cấp cho chúng tôi thông tin cụ thẻ từng điểm và giá cả. Khu vực tham quan gồm 4 nơi, mỗi nơi một giá khác nhau và có giá combo (giá kết hợp nhiều điểm với nhau). Chúng tôi chọn 3 điểm gồm hang động, bảo tàng và triển lãm Expo, điểm thứ 4 là tòa lâu đài trong vách núi nhưng cách xa địa điểm đến 9 km nên khá bất tiện, và cũng vì họ không có phương tiện vận chuyển khách đến nơi mà phải tự thuê taxi. Giá vé combo cho sinh viên là 26 Eur, còn khách thường là 32 Eur. Tuy là ngày mưa, nhưng vì rơi vào thời điểm du lịch nên rất đông khách và chủ yếu là khách đoàn đến từ nhiều nơi, bao gồm nhóm học sinh, và tất nhiên không thiếu nhóm khách Trung Quốc. Khách được chia ra làm hai nhóm, nhóm nói tiếng Slovenia và nhóm nói Tiếng Anh, hình như có thêm nhóm tiếng Tây Ban Nha. Khách tham quan bằng tàu điện, chừng 2 km đường tàu và đi bộ 1 km. Trong khi chờ đợi tàu đến, hệ thống Tivi chiếu hình ảnh bên trong động và những điều khách không nên làm khi vào bên trong, qua một clip hài hước và rất thông minh do ”người tiền sử” dẫn dắt ( xem clip đính kèm).
Chừng 10 phút chờ đợi thì tàu lửa đến, đầu tàu nhỏ nhắn đủ 1 người lái ngồi, kéo theo sau là một dãy ghế dài thường thược, cho chừng 200 người, mỗi 2 người một ghế, do kết cấu này đường ray cũng khá nhỏ, và có 2 đường ray, một lần có thể vận chuyển chừng 400 khách cùng một lúc. Sau khi khách ổn định chổ ngồi, tàu lăn bánh, không hề nghe tiếng động cơ, và âm thanh đường ray vừa đủ, tàu chạy chầm chậm qua từng không gian của hang động, chỉ có thể nói đẹp và kỳ vỹ. Hang động được hình thành chừng 4 triệu năm về trước, dài 20km, hơn 80 loài sinh sống, mà nổi tiếng là cá hình người (human fish). Hang có 2 tầng, khách đang tham quan ở tầng thứ 2, tầng đáy là một con sông ngầm, trên cùng là mặt đất cách 70m. Tàu chạy qua nhiều không gian khác nhau, có chỗ hẹp và thấp, có “phòng” cao và rộng với nhiều thạch nhũ đa màu sắc mà chủ yếu và trắng, đen và nâu, hệ thống đèn chiếu màu vàng làm các cột thạch nhũ đẹp lung linh hơn. Chừng 15 phút tàu dừng lại, và khách rời tàu đi bộ, lối đi được tráng si măng để chống trơn trượt, bên trong hang động luôn ẩm ướt và nhiệt độ giao động trong 10oC. Hệ thống đèn đủ sáng cho khách thấy lối đi, và cả hệ thống âm thanh đủ lớn để HDV (Hướng dẫn viên) viên thuyết minh. Nhóm khách nói Tiếng Anh mà chúng tôi đi cùng gần cả trăm người, thỉnh thoảng đi mà không thấy HDV đâu, nhưng theo cách họ tổ chức để cung cấp thông tin cho khách rất thông minh, và tạo sự chủ động cho khách tham quan, ví dụ ở mỗi điểm dừng đều có bản màu cam, có ký hiệu headphone trên đó và có gắn loa, khách thấy cái bản là tự động dừng lại chờ HDV thuyến minh. Có những nơi họ phải xây một chiếc cầu nhỏ, hay đào hầm để tàu hay khách đi qua, đường đi lót xi măng chống trượt (do ẩm ướt), rất dễ dàng và an toàn cho mọi đối tượng, gồm người già và trẻ em. Khi chúng tôi đi bộ qua gian phòng nọ, đèn bỗng tắt mấy giây, cả không gian tối đen như mực, chúng tôi đều nghĩ chắc là hệ thống đèn có lỗi, nhưng đến trạm dừng chân, cô HDV cười tươi nói “đó nhà một điều ngạc nhiên nhỏ mà chúng tôi giành cho các bạn, đèn khu vực đó sẽ tự tắt mỗi 30 phút để bạn cảm nhận môi trường thực sự của hang động khi không có đèn.” Lúc đó cả nhóm khách mới ồ lên thích thú. Chúng tôi tiếp tục đi thì đến một không gian rộng khác, rộng đến mức 2000 người có thể ngồi vừa, trần động cao hơn 30m, âm thanh vang to và rõ, chính vì vậy ở nơi đây một năm họ tổ chức đêm nhạc thính phòng vài lần, nhưng vì “hội trường tự nhiên” này quá  gần mặt đất (chừng 60 m), khi mưa đến nước thấm và nhiễu xuống, là điều bất tiện duy nhất khiến họ không thể tổ chức thường xuyên. Ngạc nhiên là bên cạnh hội trường có một quầy bán đồ lưu đồ niệm bằng kính khá xinh xắn. Đi xuyên qua hội trường là kết thúc tham quan trong động, chúng tôi ngồi lại tàu điện và trở về cổng vào, tàu đi chừng 10 phút thì dừng lại tại con sông, cũng là điểm kết thúc chương trình. Khách có dịp nhìn con sông chảy qua trước khi tạm biệt hang động.
Phát triển xung quanh hang động còn có bảo tàng trưng bày các loại sinh vật sống trong hang, và cơ cấu hình thành hệ thống hang động ở Slovenia. Phương pháp trình bày sinh động, không chỉ cho thông tin rõ ràng, và các màng hình chiếu được tạo để khách tương tác. Không gian trong bảo tàng sống động bởi âm thanh nước chảy, chim hót, hay chuyển động của con sông dưới nền. Cách trình bày không hề nhàm chán mà thực sự gợi trí tò mò của du khách. Bên cạnh bảo tàng thì các khu lưu niệm bán các loại đá nhiều mầu sắc, trang sức, postcard, margnet, v.v được trang trí đẹp mắt, mời gọi khách.
Qua chuyến tham quan Postojna - một trong những hang động nổi tiếng nhất của Châu Âu, khiến tôi liên tưởng đến động Sơn Đoong, và tự hỏi về việc quản lý hang Động ở nước ta như thế nào. Năm 2015 tôi có dịp đi tuyến động Tú Làn do Oxalis tổ chức tại VQG Phong Nha Kẽ Bàng, tuyến bao gồm đi bộ và bơi trong và ngoài động chừng gần 30km, thông qua con 3 động khác nhau, điểm cắm trại tại gần miệng động, nơi con suối chảy qua, thiên nhiên đẹp hoang sơ, và hệ thống động bên trong thật tuyệt vời với thạch nhũ, sông chảy, bờ cát đặc trưng không thua kém gì Postojna. Ngoài Tú Làn, VQG Phong Nha Kẽ Bàng có hơn 300 hang động khác để phát triển du lịch. Hiện tại, dưới sự quản lý của VQG, công ty Oxalis đang khai thác khá bền vững loại hình Cave (tham quan động) này.  Điều tôi cảm kích ở công ty là tinh thần du lịch trách nhiệm cao. Trước khi khách phải ký vào bản cam kết, trong đó yêu cầu không tổn hại đến tài nguyên trong động như bẻ thạch nhủ, lấy đá vv… HDV thu nhặt rác trong lúc đi, và không để lại dấu vết gì (ngoài dấu chân) trên tuyến đi, đấy là điểm mà bất kỳ điểm tham quan thiên nhiên nào cũng nên thực hiện.
Có thể nói nước ta rất may mắn được trời phú cho nguồn tài nguyên vô giá và rất độc đáo này, không phải nước nào trên thế giới cũng có kỳ quan hình thành bởi hàng triệu năm về trước. Chưa có thống kê rõ là nước ta có bao nhiêu hang động tất thảy, nhưng theo thống kê từng vùng, riêng Vinh Hạ Long có hơn 60 hang, VQG Phong Nha Kẽ Bàng  hơn 300 hang, và còn những khu vực khác chưa nằm trong danh sách.  Trong khi, mỗi quốc gia đang cố gắng tìm kiếm cho mình sản phẩm du lịch độc nhất để cạnh tranh trên thương trường quốc tế, thì hệ thống hang động của nước ta chính là điểm mạnh, nhưng lại là “hòn ngọc bị bỏ quên” trong sách lược quản bá du lịch của nước ta. Hiện tại, thế giới đang dần biết Việt Nam thông qua động Sơn Đoòng, được cho là Hang động lớn nhất Thế Giới nhờ vẻ đẹp kỳ vỹ và hệ thống khí hậu riêng bên trong động, điều này mang đến cho nước ta cả thách thức và cơ hội chuyển mình trong vị thế cạnh tranh với các nước lân cận. Tuy nhiên Sơn Đoòng vẫn đang là đề tài đang giằn co giữa các nhà môi trường và nhà kinh tế học, khai thác như thế nào để hiệu quả?  Thực tế đã có rất nhiều ví dụ trên thế giới về việc cân bằng hai yếu tố này, Nhà nước vẫn tạo nguồn lợi từ Sơn Đoòng và các hang động khác trong khi kiểm soát hiệu quả sự tác động đến môi trường, để làm được điều này, trước tiên Nhà nước phải xem hệ thống hang động là tài sản quý của quốc gia và ưu tiên bảo tồn tài nguyên này, trong khi đó ban hành chính sách liên quan để “lèo lái” song song con đường bảo tồn và phát triển sản phẩm độc đáo này.
Qua việc tìm hiểu thông tin trên mạng về tình hình phát triển du lịch hang động của nước ta, tôi nhận thấy rằng Nhà nước ta chưa quan tâm đúng mức đến loại hình này, một phần vì ngành du lịch nước ta còn non trẻ, mặt khác vì chúng ta chưa nhận ra lợi thế mình đang có. Do vậy, tôi xin đưa ra một số gợi ý bổ xung sau nhằm góp một phần nào đó vào sự phát triển chung của ngành du lịch nước nhà.
Điều tiên quyết, và hiển nhiên là Nhà nước phải có kế hoạch trong ngắn hạn và dài hạn, có chính sách phát triển và bảo tồn các hang động một cách chi tiết, và quan trọng nhất là phải có quy trình chọn đúng nhà đầu tư để giao quả trứng vàng này. Để đạt được mục tiêu, theo tôi, Nhà nước cần có những bước đi sau:
  1. Xác định mục đích đầu tiên là bảo tồn, mục tiêu thứ 2 là phát triển du lịch. Việc xác định này sẽ là kim chỉ nam cho các quyết định về sau. Biết cái nào là ưu tiên trong mọi tình huống khi cần phải ra quyết định.
  2. Với số lượng hang động phong phú ở nước ta, và tình hình tăng trưởng của ngành du lịch hiện nay, rất cần thiết để hình thành tổ chức hay hiệp hội quản lý-bảo vệ- phát triển hang động Việt Nam nhằm tập trung chuyên sâu vào lĩnh vực này. Hiệp hội nên được hình thành từ các nhóm chuyên gia có hiểu biết về thổ nhưỡng, kinh tế, quản lý, chiến lược, vv (tương tự như Hiệp hội Khách Sạn, Hiệp hội HDV, vv). Tất nhiên, so với quốc tế chúng ta còn thiếu kinh nghiệm, kỹ thuật, và kiến thức thể phát triển loại hình du lịch mới này, do đó, khi ( tạm gọi) Hiệp hội/ tổ chức được hình thành, điều phải làm đầu tiên là mời chuyên gia quốc tế tư vấn, và làm việc cùng trong vài năm đầu, nhờ vậy chúng ta sẽ học được phong cách làm việc, công nghệ, và kiến thức của họ, sau đó chúng ta có thể tự vận hành. Hiện nay, EU đang giúp VN thực hiện chiến lượt Du Lịch Trách nhiệm ở VN, tương tự chúng ta nên đề xuất thêm hạn mục này.


  1. Việc lên chính sách nên có sự tư vấn của các chuyên gia hàng đầu, nhờ đó chiến lược lập ra mang tính chính xác và thực tiễn cao, các chiến lược (strategy), phải đi kèm với hành động ( action plan), tiêu chí đánh giá và lựa chọn nhóm đầu tư ( evaluation system), v.v. Để làm được điều này, cần tìm kiếm các hình mẫu  (benchmark) đã thành công trên thế giới để học hỏi theo, Postojna cave là một ví dụ. Thông qua các hình mẫu, ta có thể đánh giá được vị thế hiện tại thông qua điểm mạnh, điểm yếu và lợi thế cạnh tranh của hang động nước ta so với các nước lân cận và trên thế giới. Từ đó xây dựng cho chúng ta một thương hiệu (Branding) riêng cho loại hình du lịch này, hài hòa với Brand chung của quốc gia.


  1. Khuyến khích các nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước (thông qua giải thưởng) liên quan đến động thực vật trong các hang động để tạo nguồn tư liệu, và phát triển một bảo tàng của các loại hình hang động ở Việt Nam. Ý tưởng thế giới đã làm từ lâu, chỉ là nước ta vẫn còn chậm, thông quá đó, các nghiên cứu tự do sẽ giúp Nhà nước tiết kiệm chi phí nghiên cứu, mà còn khuyến khích các chuyên gia, sinh viên nghiên tự cứu khoa học, và bắt đầu kiến tạo nên tảng kiến thức về thiên nhiên cho cộng đồng nói chung cho các thế hệ sau. Nói cách khác, hang động nên mở cửa, tạo thuận lợi cho các nhóm học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh được tiếp cận thực địa ( nên được đưa vào chương trình giáo dục). Mặc khác, khi chứng kiến vẻ đẹp bất tận của thiên nhiên qua các chuyến thực địa sẽ gợi nguồn cảm hứng, nâng tầm hiểu biết về tự nhiên. Và rằng, ai đã từng đi nhiều nơi và thấy sự tươi đẹp của thiên nhiên thường có xu hướng trở nên yêu thiên nhiên hơn, từ đó hình thành một ý thức bảo vệ.


  1. Nhà nước không thể hoàn toàn quản lý mọi mặt kinh tế học vi mô, do vậy, việc lựa chọn các tập đoàn tư nhân khai thác là chuyện đáng và phải làm. Tuy nhiên, với tình trạng hiện nay, việc lựa chọn các tập đoàn thiếu tính minh mạch, người dân không được thông tin từ ban đầu, và tiêu chí cũng chưa rõ ràng, do vậy lòng tin vào quản lý nhà nước các tài nguyên này cũng sụt giảm, người dân thể hiện sự bất mãn, hay cảm thấy tài sản nghìn xưa của làng xã “tự nhiên bị chiếm” bới một kẻ lạ mặt nào đó. Để cải thiện, Nhà nước cần thiết nên thông tin về chính sách đến người dân trước khi thực hiện, thông báo rõ ràng mục đích và phương pháp như thế nào, đây chính là cách Nhà nước tôn trọng công dân của mình. Ngoài ra, Nhà nước cần thể hiện tính công bằng và minh mạch cho các nhà đầu tư, bằng việc mở đấu thầu các doanh nghiệp tự do cạnh tranh. Không chỉ đơn thuần một tập đoàn lớn, với vốn đầu tư khổng lồ, trình kế hoạch lên chính phủ là nhận cái gật đầu dễ dàng, mà Nhà nước phải ở trong thế chủ động, quy tắc và có tính chọn lọc hơn, đề ra tiêu chí tuyển chọn cụ thể. Lập chiến lược phát triển du lịch dài hạn, xác định Bản đồ quy hoạch du lịch, xác định khu vực bảo tồn và khu vực cho phép phát triển du lịch. Trong các khu vực phát triển du lịch đó, Nhà nước kêu gọi nhà đầu tư không chỉ thông qua nguồn vốn, mà còn đánh giá nhà đầu tư tìm năng qua bản kế hoạch chi tiết về quy trình quản lý, kế hoạch bảo vệ tài nguyên, quản lý rác thải như thế nào, đào tạo nguồn nhân lực, cam kết của doanh nghiệp mang đến cộng đồng địa phương? Thuê nhân công bản địa hay đưa nhân công từ nơi khác tới? Mua vật tư trong nước ngày ngoài nước? Và hàng tá vấn đề khác cần phải cân nhắc trước khi lựa chọn một doanh nghiệp đầu tư cho phát triển điểm đến.


  1. Mục đích cuối cùng của phát triển kinh tế là nâng cao chất lượng sống của người dân, do đó, trong mọi chiến lược phát triển, việc đánh giá sức ảnh hưởng tích cực và tiêu cực  đến người dân địa phương là hết sức cần thiết, như đánh giá mức độ thay đổi nguồn thu nhập, phát triển giáo dục đào tạo để đáp ứng nhu cầu du lịch, tăng trưởng cơ sở hạ tầng, sự quá tải của du khách trong các mùa du lịch, v.v và qua đó thiết lập phương án đối phó tương ứng.


Nhìn chung, có nhiều yếu tố và khía cạnh khác, phức tạp hơn trong việc phát triển loại hình du lịch độc đáo ở tầm quốc gia, đòi hỏi cách nhìn và nghiên cứu đa chiều từ các chuyên gia. Trong bài này chỉ đưa ra một vài ý kiến sơ bộ, dựa vào kinh nghiệm thực tế thông qua các chuyến đi, kinh nghiệm làm việc và kiến thức có được thông qua chương trình thạc sỹ quản trị du lịch. Mỗi đề xuất có thể tạo tiền đề và cần được phát triển hơn qua các thực nghiệm và nghiên cứu về sau.
Nguyễn Thị Hồng Hà
Tốt nghiệp ngành Quản Trị Du Lịch, Nhà hàng và Khách sạn trường ĐH Hoa Sen. Từng hoạt động trong lĩnh vực tổ chức đua thể thao mạo hiểm, quản lý dự án phát triển cộng đồng tại vườn quốc gia,  thiết kế và điều phối chương trình( từ dưới 500 khách), phát triển sản phẩm du lịch. Là người yêu thích du lịch, thể thao, thiên nhiên và hoạt động bảo vệ môi trường. Hiện nay đang học chương trình Thạc sỹ Quản trị du lịch Châu Âu (EMTM) ở Đan Mạch, Slovenia và Tây Ban Nha.
Link for Cave etiquette with the Caveman
https://www.youtube.com/watch?v=1bVPnUpHp_Q

IMG_0460.JPGIMG_0461.JPG
IMG_0507.JPGIMG_0536.JPG
IMG_0508.JPG
Photos - Hồng Hà

Monday, May 1, 2017

Phật Lịch và Phật Đản (Buddhist Era and Buddha's Birth Year)


Phật Lịch và Phật Đản
(Buddhist Era and Buddha's Birth Year)


Nhiều Phật tử hỏi người viết về sự khác biệt giữa hai con số 2561 và 2641 trên các thông báo trong Mùa Phật Đản năm 2017 nên người viết xin được trình bày vắn tắt vấn đề này để phân biệt hai con số đó.  Thật ra  không có gì mâu thuẫn giữa năm Đức Phật đản sinh 2641 BE và năm Đức Phật niết bàn 2561 BE cả, nhưng trước hết cần phân biệt vài chữ viết tắt về niên đại.
BE là Buddhist Era, niên đại Phật giáo, Phật lịch tính từ khi Đức Phật đản sinh.
CE là Common Era, niên đại công nguyên, Dương lịch, đồng nghĩa với CE là Christian Era, niên đại Thiên Chúa giáo tính từ khi Chúa Jesus giáng sinh.
BC là Before Christ, trước Chúa Jesus giáng sinh.
BCE là Before Christian Era, Before Common Era, trước công nguyên.

Phật Đản (Buddha's birthday) căn cứ vào năm Đức Phật đản sinh cộng với năm dương lịch, tức là Ngài đã đản sinh 2641 năm trước: 624 BCE + 2017 CE = 2641 BE.  Theo Sử học thì ngày sinh của một vĩ nhân đã mở ra một thời đại mang tên tuổi của vị vĩ nhân đó; do vậy Phật Lịch (BE / Buddhist Era) được tính từ ngày Đức Phật đản sinh.  Nhưng một số nước Đông phương, nhất là Trung Hoa và ba nước “đồng văn dị chủng” là Nhật Bản, Nam Bắc Hàn quốc, và Việt Nam lại có truyền thống văn hóa lấy ngày từ trần làm ngày kỷ niệm và tưởng nhớ người quá vãng.  Chính vì thế mà đôi khi người ta thấy một số tự viện dùng niên đại Đức Phật niết bàn để tính Phật Lịch, tức là lấy năm Đức Phật đản sinh trừ đi 80 năm trụ thế của Ngài: 624 BCE - 80 = 544 BCE.  Tính ra Dương lịch thì Đức Phật đã niết bàn 2561 năm trước: 544 BCE + 2017 CE = 2561 BE.  Cách tính Phật Lịch này lý luận rằng khi Đức Phật đã thành Phật rồi thì mới tính Phật Lịch chứ khi mới sinh thì Thái tử Siddartha Gautama vẫn là người bình thường.  Nếu nói như thế thì phải căn cứ vào ngày Đức Phật thành tựu giải thoát và giác ngộ mới đúng, tức là ngày Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo khi Ngài 35 tuổi.  Ngài xuất gia năm 29 tuổi để đi vào rừng tu tập trong 6 năm và giác ngộ qua con đường Trung Đạo sau 49 ngày thiền định.

“ Sáu năm khổ hạnh rừng già,
“ Bảy thất nghiêm tinh thiền tọa.

Tóm lại, có ba niên đại cần để ý và phân biệt là ngày Phật Đản, ngày Phật Thành Đạo, và ngày Phật Niết Bàn, trong đó Phật Lịch phải căn cứ vào ngày Đức Phật Đản Sinh mà thôi.
Phật Đản và Phật Lịch: 624 BCE + 2017 CE = 2641 BE.
Phật Thành Đạo: 624 BCE - 35 = 589 BCE và 2641 BE - 35 = 2606 BE.
Phật Niết Bàn: 624 BCE - 80 = 544 BCE và 2641 BE - 80 = 2561 BE.

Lại có Phật tử muốn biết tại sao có nơi, có sách viết  Đức Phật đản sinh năm 563 BCE và niết bàn năm 483 BCE?  Sự khác biệt 61 năm này là do hai nguyên nhân.

Một là, theo niên đại truyền thống của Phật giáo thì Đức Phật đản sinh năm 624 BCE và niết bàn năm 544 BCE.   Niên đại này căn cứ vào những chiếc lá bối ghi lại ngày và nơi sinh của Đức Phật còn được một số tu sĩ Phật giáo Tích Lan lưu giữ.

The birth date given here (26 April 624 BCE (-623)) is based on "palm leaves in possession of certain Ceylonese priests" [tu sĩ SriLankan, tu sĩ người Tích Lan] which allegedly state that "the Buddha was born in Kaliyuga 2478, on the Full Moon day of the lunar month of Vaisakha, Tuesday, at about midday" (B.V. Raman, "Notable Horoscopes", 1991(6), pp. 9ff., footnote).

Nhưng theo truyền thống Nam Truyền Theravada thì Đức Phật đản sinh năm 563 BCE và niết bàn năm 483 BCE (Theravada Buddhist Chronology).  Niên đại này, 563 BCE và 483 BCE, được căn cứ vào cột đá do Vua A-Dục thiết lập tại nơi Đức Phật đản sinh Lâm Tỳ Ni trong giữa thế kỷ thứ 3, và vào Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahāparinibbāṇa Sutta), kinh thứ 16 trong Trường Bộ Kinh (Digha Nikaya / Collection of Long Discourses), nói về những lời dạy cuối cùng của Đức Phật trước khi Ngài niết bàn, và sự cung nghinh xá lợi Đức Phật của các vương quốc trong nước Ấn Độ vào thời đó.

Hai là, trong khi hầu hết các nước thì năm Đức Phật đản sinh đều được ghi  là năm thứ nhất (1) trong khi đó Lịch Sri Lanka ghi là năm zero (0) thành thử chúng ta có hai con số cách nhau một năm.
Lịch Sri Lanka: Đức Phật đã đản sinh năm 563 BCE và niết bàn năm 483 BCE.
Lịch Thái Lan: Đức Phật đã đản sinh năm 564 BCE và niết bàn năm 484  BCE.
Trong bài viết "Simple Buddhist-Christian Era Conversion Forms.  May 2011" cũng ghi rõ về sự cách biệt 1 năm và 61 năm đó như sau.

According to the traditional dating the Buddha was born in 624 BC, attained Awakening 35 years later in 589 BC and entered Paribbāna in 544 BC. It is from the latter date that we take the Buddhist Era (Thailand dates it as year 1, Sri Lanka as year zero).
Most scholars now think that the actual dates should be set approx. 100 years later (there is much difference in opinion), but the dates in any case should not be taken as hard and fast, but rather as agreed times for the purposes of celebrations, etc.
Christians may not realize [realize]that the same situation applies to Christ as there was a miscalculation in the early Church and it is now believed Jesus was born between 2 and 7 years before Christ.

Thật ra ngày giờ cùng năm tháng đản sinh của Đức Phật còn có nhiều dị biệt mà nguyên nhân chính là do các tổ chức Phật giáo tại mỗi địa phương của nhiều quốc gia chọn ngày cử hành Lễ Đức Phật Đản Sinh tùy theo thời tiết và ngày trăng sáng trong quá khứ khi mà sự giao thông liên lạc giữa các địa phương còn quá khó khăn trong lịch sử nhân loại hơn hai ngàn năm trước.  Ngày nay Liên Hiệp Quốc đã tuyên xưng ngày đản sinh của Đức Phật trong Lễ Vesak như là một ngày kết hợp cả ba ngày lễ quan trọng nhất của Phật giáo gồm các ngày Đức Phật đản sinh, thành đạo, và niết bàn (The Day of Vesak commemorates Buddha’s birth, enlightenment, and death), và Liên Hiệp Quốc cũng ghi nhận Đức Phật đản sinh năm 624 BCE và xem năm đó là năm khởi nguyên cho Phật Lịch.  Phật Giáo thế giới cũng đã đồng thuận như một quy ước năm Đức Phật đản sinh là 624 BCE, tức là 2641 BE trong năm 2017.
Người viết xin được đề nghị và ước mong tất cả các tự viện Phật giáo Việt Nam trong và ngoài nước thống nhất ngày Đức Phật đản sinh là ngày khởi nguyên Phật lịch, 624 BE hay 2641 BE của năm 2017.  

Trần Việt Long

Saturday, April 29, 2017

VỀ THĂM LẠI QUÊ HƯƠNG NHƠN LÝ



VỀ THĂM LẠI QUÊ HƯƠNG NHƠN LÝ 

Nhơn Lý ngày nay sao lạ quá
Đâu rừng thông hộ biển bao đời
Đâu cái 'Lầu' từ thuở pha phôi
Đâu Dốc Cá một thời lãng mạn

Bãi biển trắng nay không còn nữa
Chỉ bờ kè cốt sắt xi-măng
Đầu Xóm Mới nay không đến được
Giữa nghèo giàu rỏ nét phân đôi

Nhơn Lý ngày nay sao lạ quá
Có quán cafe, bia rượu đêm ngày
Có thanh niên nhậu nhẹt xỉn say
Và có ít người dân đi bộ

Bao nỗi niềm làm sao thố lộ
Xin khắc ghi một chút tâm tình
Quê hương ta vẫn đẹp buổi bình minh
Có tình nghĩa xóm làng yêu thương nâng đỡ

Có những nấm mộ Cha Ông nằm đó
Tự bao đời xin gìn giữ cho nhau
Vẫn biết có những niềm đau
Nhưng xin hãy nhìn xa để vươn lên mà sống

Con cháu ta cũng cần đất đai để sống
Cần biển thanh không khí trong lành
Cần thuyền ghe che chở cuộc đời xanh
Cần tôm cá lo cho con ăn học

Con cháu ta cần tình thương để sống
Cần từ bi, bác ái, hy sinh
Cần cuộc sống tâm linh
Cần môi trường xanh trong sạch đẹp

Nên chúng ta phải luôn ý thức
Nhơn Lý này là nhịp sống chung
Quê hương ta thì phải chung cùng
Xây dựng, yêu thương cho đến khi nhắm mắt.
















Một vài hình ảnh ở Kỳ Co, Nhơn Lý lúc về thăm- Bạch X. Khoẻ

Những bài viết liên quan đến Kỳ Co, Nhơn Lý


Và đây là những hình ảnh du lịch đang tàn phá vẻ đẹp tự nhiên của Kỳ Co và môi trường sống của nhiều loại sinh động vật.





















Sunday, April 23, 2017

XIN THẦY HỘI NHẬP TA BÀ HOẰNG DƯƠNG CHÁNH PHÁP


XIN THẦY HỘI NHẬP TA BÀ HOẰNG DƯƠNG CHÁNH PHÁP
Nhớ về Lễ Tiểu tường của Hòa Thượng Thích Như Huệ 

Thanh thản Ngài đi đã một năm
Quê hương Đạo Phật vẫn thăng trầm
Xin người hội nhập về Đông độ
Chánh pháp lưu truyền độ tha nhân

Tuesday, April 18, 2017

VỀ THĂM QUÊ NGOẠI

Vĩnh Hội - Phù Cát, Bình Định

VỀ THĂM QUÊ NGOẠI

Quê Ngoại tôi thơm hoa đồng cỏ nội,
Biển và trăng lấp lánh ngàn sao
Ruộng vườn xưa nay vắng bóng người
Ai bỏ xứ ra đi tìm lẽ sống

Khi tôi về ngỡ em còn trong mộng
Êm ả, lung linh ánh mắt đợi chờ
Em đã đến đã đi như cơn mộng
Thì tiếc gì lận đận một vần thơ.

Núi Bà đó vẫn ngàn đời kiên nhẫn
Tiếng chim chào gió lộng mây bay
Căn nhà cũ, bếp xưa không còn nữa
Người ra đi biền biệt phương trời

Dấu tích đó rêu phong ân nghĩa lớn
Người thương ơi! sao nhớ quá đi thôi.
Trong vạt nắng ta thấy mình giọt nước
Đổ về nguồn thân phận kẻ mồ côi!

For English, please click here. Đọc tiếng Anh, hãy bấm ở đây.

Friday, April 14, 2017

GẦN XA


GẦN XA

Tiếng chuông nhà thờ ngân
Cùng tiếng xe hú còi
Tiếng gõ bán hàng rong
Tiếng quét đường buổi sáng

Ôi âm thanh quen thuộc
Mà lạ quá đi thôi
Gần xa bao nhiêu cõi
Sao tấc dạ bồi hồi

Bao nhiêu người an phận
Việc lớn có người lo
Việc nhỏ không để ý
Tổ quốc ơi xa vời!

Ôi kìa bao quán trọ
Đôi chân - tiếng chuông ngân!

Saturday, April 8, 2017

THĂM LẠI NHÀ THƠ XƯA

Nhà thờ Trà Cổ - Mống Cái - Quảng Ninh.

THĂM LẠI NHÀ THỜ XƯA

Anh trở về xóm đạo
Nhìn đổ nát hoang tàn  
Đổ luôn cả bác ái
Đổ luôn cả từ bi

Ngày anh phải ra đi
Di tích này lịch sử
Sao bây giờ xử sự
Vỡ truyền thống quê Cha

Anh trở về xóm đạo
Nhìn đàn em ngác ngơ
Sao áo không đủ mặc?
Ai cướp mất tuổi thơ?

Anh trở về xóm đạo
Các cụ già bâng quơ
Sống qua ngày còn lại
Chờ đợi một giấc mơ!

Anh trở về xóm đạo 
Nhìn nhà thờ thương yêu
Nát tan hồn dân tộc
Quê-Hương ơi! tiêu-điều.

Anh trở về xóm đạo
Nghe tiếng khóc trẻ con
Cho dù ai xé nát
Tổ quốc ta vẫn còn!

Thursday, April 6, 2017

THAY LỜI NÓI ĐẦU - PREFACE for VẺ ĐẸP ĐA VĂN HÓA - THE BEAUTY OF MULTICULTURALISM


THAY LỜI NÓI ĐẦU

Chuyến này chúng tôi hộ tống Ba và đưa hai con nhỏ về thăm Quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn, về với Cội nguồn Tổ Tiên Ông Bà; sự hiện hữu của tập sách này là một thiện duyên, một kỷ niệm đẹp trong đời. Tập thơ song ngữ VẺ ĐẸP ĐA VĂN HÓA - THE BEAUTY OF MULTICULTURALISM ra đời trước là để tưởng niệm ân đức sâu dày của người Mẹ quá Cố, bà Ái Thị Trần ở Vĩnh Hội, Bình Định, người anh nuôi Bạch Xuân Thảo đã khuất và Ba tôi, ông Bạch Xuân Long, những người đã, đang và mãi mãi nuôi dưỡng chúng tôi với niềm tin cậy, trân quý và tình yêu thương vô điều kiện. Tác phẩm này là một sự nối tiếp, một hành trang, một lưu niệm cho các con thơ trong chuyến thăm nước Việt lần đầu.

Đây cũng là niềm tin vui, sự dâng hiến, biết ơn và thương yêu đến người vợ hiền, Nguyễn Thị Thanh Trang, cô gái An Dương, xứ Huế; các con của chúng tôi là Bạch Xuân Khang và Bạch Thanh Kiệt. Cảm ơn em đã, đang và sẽ ủng hộ anh trên con đường sự nghiệp tìm về bến Giác. Cảm ơn hai con Khang và Kiệt cùng Ba Mẹ về với Cội nguồn Tổ tiên. Em và hai con là tình yêu, hy vọng, và nguồn cảm hứng của anh trong đời. 

Cuối cùng, xin cảm ơn anh Nguyễn Minh Tiến và các cháu gái Trần Thị Thùy Trang, Nguyễn Thị Hồng Hà và Nguyễn Thị Quyền đã giúp cho ấn bản này khả thi theo dự định.

Với lòng tri ân và tâm từ cho tất cả mọi loài.
Bạch Xuân Phẻ

Sacramento, CA, Tháng Tư, 2017.

PREFACE

On this special trip to Vietnam to escort my Father and my family to our ancestral roots, this bilingual poetry book serves as a memory. This book is dedicated to my late Mother, Mrs. Ai Thi Tran of Vinh Hoi, Binh Đinh, my late adopted brother Thao X. Bach and my Father, Mr. Long Xuan Bach who had been and always nourished us with their never-ending unconditional joy, admiration, and love.
This book is also a symbol of joy, dedication, appreciation, gratitude and love to my wife Trang Thanh Nguyen of An Dương, Huế, our sons Khang X. Bach, and Kiet Thanh Bach for the source of life, of love, of hope, and of inspiration in this life. Thank you.
A special thanks to Mr. Tien Minh Nguyen and my nieces, Trang Tran, Ha Nguyen and Quyen Nguyen for making this publication possible.
With Gratitude and Loving-kindness for all.
Phe X. Bach
Sacramento, CA, April 2017