Showing posts with label Giới thiệu tác phẩm. Show all posts
Showing posts with label Giới thiệu tác phẩm. Show all posts

Friday, June 29, 2018

Lời Phật Dạy Về Sự Hòa Hợp Trong Cộng Đồng Và Xã Hội

book-cover-buddha-s-teachings-on-social-communal-harmony-2.jpg


Đọc tác phẩm:
Lời Phật Dạy Về Sự Hòa Hợp
Trong Cộng Đồng Và Xã Hội
Mùa Phật Đản 2642 năm nay tôi nhận được món quà pháp bảo quý báu của dịch giả Nguyên Nhật Trần Như Mai, đó là tập sách “Lời Phật Dạy Về Sự Hòa Hợp Trong Cộng Đồng Và Xã Hội, Hợp Tuyển Từ Kinh Tạng Pali” nguyên tác Anh ngữ của Tỷ Kheo Bodhi.
Sách in rất đẹp, dày 318 trang, khổ lớn 15x21, bìa màu do Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành đầu năm 2018.
Sau lễ Phật Đản hằng năm là mùa An Cư Kiết Hạ của người xuất gia, tôi dành thời gian trong những ngày đầu mùa An Cư này đểđọc tập sách này và xin ghi lại nơi đây những gì mình tâm đắc từ tập sách này.
Tác giả tập sách là Hòa Thượng người Mỹ đạo hiệu Bhikkhu Bodhi, thế danh Jeffrey Block, sinh năm 1944 tại Brooklyn, New York. Ngài là một tu sĩ Phật giáo theo truyền thống Theravāda. Sau khi lấy bằng Tiến sĩ Triết học tại Đại học Claremont năm 1972, Ngài đến Tích Lan xuất gia tu học và thọ giới Sa-di. Năm 1973, Ngài thọ giới Tỷ-kheo với Hòa Thượng Ānanda Maitreya, một vị Đại sư học giả lãnh đạo PG Tích Lan thời bấy giờ. Năm 1984, HT Bodhi được bổ nhiệm làm Chủ biên Hội Xuất bản kinh sách Phật giáo ở Kandy, Tích Lan, sau đó Ngài được thỉnh cử làm Chủ tịch Hội này. Ngài đã lưu trú tu tập và làm việc  hơn30 năm tại Tích Lan. Vào năm 2002, HT Bodhi đã trở về New York, Hoa Kỳ để làm công việc hoằng pháp lợi sinh cho đến ngày nay.Hiện nay Ngài cư ngụ tại Tu viện Chuang Yen, New York, giảng dạy Phật pháp tại đây và tại Tu Viện Bồ Đề ở New Jersey.Ngài cũng là Chủ tịch Hội Phật giáo Hoa Kỳ (Buddhist Association of the United States – BAUS) và vài Hội khác.Chính nhờ duyên lành sống và tu tập trong hơn một phần tư thế kỷ tại xứ sở Tích Lan mà HT Bodhi đã làu thông cổ ngữ Pali để có thể chuyển dịch những bộ Kinh lớn của hệ Pali ra Anh Ngữ như: Tăng Chi Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh, Tương Ưng Bộ Kinh… và cũng chính nhờ dịch 3 bản Kinh quan trọng này mà Ngài đã tuyển chọn những chủ đề cốt tủy của Kinh Tạng Pali để biên soạn 2 tập sách giá trị, tập thứ nhất“ In the Buddha’s Words” (Hợp Tuyển Lời Phật Dạy từ Kinh Tạng Pali, do GS Nguyên Nhật Trần Như Mai dịch và ấn hành năm2016)” và tập sách thứ hai đang giới thiệu ở đây là“The Buddha’s Teachings on Social and Communal Harmony”(Lời Phật Dạy Về Sự Hòa Hợp Trong Cộng Đồng Và Xã Hội , ấn hành đầu năm 2018).
ht bodhi.jpg
Tác giả, Hòa Thượng Bodhi
Về dịch giả Việt ngữ tập sách này là Giáo Sư Trần Như Mai, pháp danh Nguyên Nhật, đệ tử quy y ngũ giới của HT Thích Minh Châu và từng là giảng viên môn Anh văn Phật Pháp tại Trường Cao Cấp Phật Học TP HCM niên khóa 1988-1990 (nay là Học viện Phật giáo tại TP HCM). Tưởng cũng nên biết rằng GS Trần Như Mai là em ruột của GS Trần Phương Lan (đệ tử HT Minh Châu, pháp danh Nguyên Tâm, người đã giảng dạy Anh văn Phật pháp trên 20 năm cho sinh viên cấp Cử nhân Phật học, đã biên soạn và ấn hành giáo trình “Buddhism Through English Reading” gồm 3 tập để giảng dạy cho sinh viên; phiên dịch Kinh Tiểu Bộ (5 tập cuối) ; các tác phẩm“ Đức Phật Lịch Sử ”,  “Đức Phật Gotama” từ Anh ngữ sang Việt Ngữ, và nhiều tài liệu Phật học khác…). Người viết bài này đã có duyên theo học môn Anh Văn Phật Pháp với GS Trần Phương Lan trong 4 năm tại Trường Cao Cấp Phật Học niên khóa 1993-1997 và được cố Giáo Sư hướng dẫn dịch thuật trong thời gian này ở Sàigòn (nhóm luyện dịch của chúng tôi khi ấy khoảng 10 tăng ni do hai Giáo Sư hướng dẫn là GS Trần Phương Lan và Giáo Sư Minh Chi (bào đệ Ôn Minh Châu) nay hai vị này đã mãn phần). Chính vì vậy mà khi sang định cư tại Úc vào đầu năm 1998, tôi được GS Trần Phương Lan giới thiệu em gái của cô là GS Trần Như Mai, người đã đến Úc định cư từ năm 1991.  Nhờ mối liên hệ như vậy mà tôi đã mời GS Trần Như Mai cộng tác với Trang Nhà Quảng Đức và giúp thông dịch nhiều buổi Pháp thoại bằng tiếng Anh tại Tu Viện Quảng Đức mỗi khi có những Giảng sư người Úc,  Tây Tạng về thuyết giảng.
Đối với độc giả bốn phương thì đã quen thuộc với Giáo Sư Trần Như Mai qua các dịch phẩm trước đây là “Từ Chánh Niệm Đến Giác Ngộ, Cẩm Nang của người Tu Thiền” (nguyên tác Anh Ngữ “ Mindfulness, Bliss and Beyond ” , của Đại Sư người Anh Ajahn Brahm, ấn hành năm 2010), dịch phẩm thứ hai là “Hợp Tuyển Lời Phật Dạy Từ Kinh Tạng Pali”, (nguyên tác Anh Ngữ “ In the Buddha’s Words” của HT Bodhi, sách ấn hành năm 2016 ). Cả hai dịch phẩm này đều được khắp nơi đón nhận nồng nhiệt và đã tái bản nhiều lần. Riêng tập sách “Hợp Tuyển Lời Phật Dạy Từ Kinh Tạng Pali” đã được quý Phật tử Tu Viện Quảng Đức Úc Châu phát tâm ấn tống để cúng dường Chư Tôn Đức và biếu tặng đồng hương Phật tử trong mùa An Cư Kiết Hạ năm 2016 tổ chức ngay tại Tu Viện Quảng Đức.
Vì đây là tập hợp tuyển những lời dạy của Đức Phật từ cổ ngữ Pali, văn cú phần lớn là lập đi lập lại, rất khó đọc và khó hiểu, khó nắm bắt, nhưng qua ngòi bút điêu luyện của dịch giả Trần Như Mai, người đọc sẽ cảm thấy thấu hiểu dễ dàng hơn trong bản Việt ngữ. Cô Như Mai đã thổ lộ phong cách chuyển ngữ của mình như sau: “Trong lúc phiên dịch, tôi đã nghĩ đến các bạn trẻ, nên đã cố gắng diễn đạt bằng thứ tiếng Việt trong sáng dễ hiểu. Tôi cũng cố gắng Việt hóa một số thuật ngữ Phật học Hán Việt khó hiểu, hoặc chú thích thêm từ ngữ thuần Việt bên cạnh thuật ngữ Hán Việt hoặc ngược lại, để độc giả có thể nhận biết và học hỏi thêm. Tuy nhiên, có một số thuật ngữ Phật học Hán Việt vốn đã rất phổ biến trong giới Phật tử thì tôi vẫn tiếp tục sử dụng.Trong phần kinh trích dẫn, tôi dịch theo bản tiếng Anh của Tỷ-kheo Bodhi, trong đó Ngài Bodhi đã lược bớt các phần lặp lại để giúp độc giả khỏi chán nản khi phải đọc phần lặp lại nhiều lần. Dưới mỗi phần kinh trích dẫn, tôi có ghi chú thêm nguồn gốc bài kinh ấy theo bản dịch của cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu để độc giả có thể tham khảo thêm”.
Và như trước đây, với dịch phẩm mới nhất này, “Lời Phật Dạy Về Sự Hòa Hợp Trong Cộng Đồng Và Xã Hội”, dịch giả Trần Như Mai đã phát tâm ấn tống 1000 quyển để cúng dường Pháp bảo này đến Tăng Ni tại các Học viện Phật giáo ở Việt Nam, và chư Tăng Ni tại Úc trong Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19 của Giáo Hội năm nay, tổ chức tại Tổ Đình Pháp Hoa, Adelaide, Nam Úc từ ngày 9 đến 19/07/2018. Thật là một công hạnh đáng tán dương, một công đức thù thắng khó nghĩ bàn cho một đệ tử Phật như GS Trần Như Mai trong công cuộc hộ trì  và bảo vệ Chánh Pháp, vừa phát tâm phiên dịch và vừa ấn tống để phổ biến giáo lý đến với nhân gian này.
Sau đây chúng ta lần lượt khám phá những gì có trong tập sách quý báu này.
Trước tiên là sách này hân hạnh được Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 viết lời giới thiệu. Ngài đã hết lời tán thán công đức sưu tập phiên dịch Kinh Tạng Pali, ngôn ngữ gốc của Phật Giáongõ hầu cung cấp những lời dạy nguyên chất giáo lý cho chúng sanh thời nay. Ngài viết “Trong quyển sách xuất sắc này, Bhikkhu Bodhi, là
Duc Dat Lai Lat Ma.jpg
một nhà Sư học giả Phật giáo đầy kinh nghiệm, đã trích dẫn từKinh điển thuộc truyền thống Pāli, một trong những tài liệu cổ xưa nhất về những lời Phật dạy, còn được gìn giữ đến ngày nay, để chứng minh mối quan tâm của Đức Phật về việc duy trì sự hòa hợp trong cộng đồng và xã hội. Tôi chắc chắn rằng các Phật tử sẽ tìm thấy tuyển tập này rất giá trị, nhưng tôi hy vọng là một số độc giả khác rộng lớn hơn cũng thấy tuyển tập này rất hấp dẫn. Những tài liệu được sưu tập trong sách này chứng tỏ rõ ràng rằng mục đích tối hậu của Phật giáo là để phục vụ và làm lợi ích cho nhân loại. Bởi vì những gì làm tôi thích thú không phải là để cải đạo người khác theo đạo Phật, nhưng là làm thế nào để Phật tử chúng ta có thể đóng góp cho xã hội loài người bằng những tư tưởng Phật giáo của chính chúng ta”.
Hozan Alan Senauke.jpg
Thiền Sư Hozan Alan Senauke
Sách này cũng được Thiền Sư Hozan Alan Senauke, người Mỹ tu theo truyền thống Thiền Tào Động Nhật Bản viết lời mở đầu. Ngài sinh năm 1947 trong một gia đình Do Thái ở New York và có duyên lành tu học Phật từ thập niên 1960. Mặc dù Ngài là một nhà văn, một biên tập viên, một nhà hoạt động xã hội và làmột nhạc sĩ dân ca đáng kính, nhưng Ngài đã từ bỏ tất cả để xuất gia tu học, được thọ Đại giới năm 1998, và hiện Ngài là phó TrụTrì Trung Tâm Thiền Tập Berkeley, miền Bắc California, Hoa Kỳ.
Là bạn thân của HT Bodhi cho nên Thiền Sư Hozan Alan Senauke đã sử dụng phiên bản đầu tiên của tập sách này như là một cẩm nang trong công tác của một nhà hoạt động xã hội để giúp duy trì sự hòa hợp và hòa giải ở Ấn Độ và Miến Điện, cho nên Ngài thừa hưởng lợi ích của tập sách này. Ngài viết rằng “Hợp tuyển này nhấn mạnh đến việc sống theo Giáo pháp trong một xã hội tự do, hòa hợp, sử dụng lời Phật dạy đã được chứng nghiệm qua thời gian. Trở về từ Miến Điện năm 2011, tôi đã suy nghĩ về nhu cầu ở đất nước ấy và những nơi khác về một bộ sưu tập kinh điển Pāli theo kiểu này. Năm 2012, một cuộc bạo động của quần chúng đã bùng nổ ở tiểu bang Rakhine của Miến Điện và một vài nơi khác ở quốc gia này.Nhu cầu cần hiểu sâu hơn về những lời Phật dạy về sự hòa hợp xã hội đã trở nên cấp thiết. Tôi không phải là một học giả hay một  dịch giả, vì thế tôi đã liên lạc với nhiều bạn bè trong giới trí thức để tìm hiểu. Từ đó mới biết rằng nhiều năm trước, Bhikkhu Bodhi, một trong những dịch giả đáng kính đã có rất nhiều dịch phẩm giá trị về Phật giáo Nguyên Thủy, đã thực hiện một bộ sưu tập như thế để làm tài liệu bổ sung cho một chương trình học tập về sự hòa hợp xã hội ở Tích Lan (Sri-Lanka) do Viện Nghiên cứu Khoa học Xã hội của Đại học Columbia tổ chức”.
Về nội dung, sách này được chia ra 10 chương và Hòa Thượng Bodhi cũng là một Giảng sư nổi tiếng, hiểu thấu lòng của đại chúng, nên Ngài đã sắp xếp cẩn thận theo từng chủ đề xoay quanh ý tưởng kiến lập một đời sống xã hội hòa hợp và an bình, đặc biệt bắt đầu mỗi chương, HT tác giả đã giới thiệu, phân tích chi tiết những lời Phật dạy về chủ đề ấy để giúp người đọc dễ nắm bắt những bài kinh sắp được trích dẫn.
Chương 01: Chánh Kiến.
Phật dạy Chánh kiến để loại bỏ Tà kiến, vì Tà kiến giống như hạt giống đắng (Tăng Chi BK, Chương 10:104) từ đó sẽ nẩy mầm và sinh ra quả đắng. Còn Chánh kiến giống như hạt giống của quả ngọt, gieo hạt giống ngọt sẽ cho ra trái ngọt.
Chánh kiến là thấy đúng mọi vật theo Chánh Pháp, vì thấy đúng mới suy nghĩ đúng và hành động để có một đờisống chân chánh, an vui.
Có Chánh kiến thì ta sẽ rõ biết đường đi lối về của nhân quả nghiệp báo, biết phân biệt thiện pháp và bất thiện pháp, biết để mà tránh những lỗi lầm, khổ đau và thất vọng.
Ở trong sách này giới thiệu 2 loại Chánh Kiến khác nhau:Đó là Chánh kiến có phước báu nhưng vẫn còn trong vòng phiền não, đó là hành giả có bố thí, có cúng dường, có tin quả báo của hành động thiện và ác ở đời này và đời sau…;thứ hai làChánh kiến cao thượng là vượt ra ngoài phiền não khổ đau, đó là hành giả có trí tuệ, có tuệ căn, tuệ lực, có trạch pháp…đây là loại Chánh kiến mà chúng ta cần có.
Chương 02: Rèn Luyện Cá Nhân.
Có Chánh kiến rồi mới phát tâm tu sửa và rèn luyện bản thân cho tốt đẹp hơn, ở đây Phật dạy pháp tu đầu tiên để đào luyện bản thân là bố thí.Vì sao?Vì bố thí là nền tảng của một lộ trình tu tập dài lâu về sau.Bố thí cũng giống như đào giếng, càng đào xuống sâu thì nước càng nhiều.Bố thí để loại trừ tham lam, keo kiệt, bủn xỉn và mở rộng lòng thương.

Bố thí có hai loại: Tài thí và pháp thí, trong hai loại bố thí ấy pháp thí là tối thượng nhất. “Có hai loại cúng dường này… hai loại bố thí này… hai đối tượng để từ bỏ này.Thế nào là hai?Từ bỏ của cải vật chất và từ bỏ bằng cách bố thí Pháp.Đó là hai loại bố thí.Trong hai loại bố thí này, bố thí Pháp là tối thắng’’. (Tăng Chi BK I, Ch XIII: 1-10; tr 168).
Giống như ánh sáng của tất cả vì sao không bằng một phần mười sáu ánh sáng của mặt trăng, tỏa sáng và rực sáng; cũng vậy, cho dù dựa trên những lập luận nào để tạo công đức đưa đến tái sanh trong tương lai, tất cả công đức ấy cũng không bằng một phần mười sáu của sự giải thoát bằng tâm từ. Giải thoát bằng tâm từ vượt qua tất cả công đức ấy, tỏa sáng và chiếu sáng rực rỡ”.Và người tu tập Tâm Từ sẽ có 11 điều lợi lạc:
1/ Ngủ ngon
2/Thức dậy an vui
3/Không bị ác mộng
4/Dễ chịu với mọi người
5/Dễ chịu với các thần linh
6/Được chư Thiên bảo hộ
7/Không bị lửa, thuốc độc hay vũ khí làm hại
8/Đạt chánh định nhanh chóng
9/Dung nhan đẹp đẽ
10/ Mạng chung tâm không tán loạn
11/ Chưa giác ngộ sẽ tái sanh vào cõi Phạm Thiên
“ Giết cái gì, được ngủ ngon?
Giết cái gì, không sầu khổ?
Giết cái gì, được Ngài chấp nhận?
Thế Tôn giải đáp:
“Giết sân hận, được ngủ ngon
Giết sân hận, không sầu khổ
Hởi Sakka Thiên Chủ, giết sân hận
Với gốc rễ độc hại và chút mật ngọt
Việc này được bậc Thánh tán thán
Vì giết được sân hận, sẽ không còn sầu khổ”.
Phật cũng dạy tình bạn tốt đẹp trong đời sống gia đình với người: “… có đạo đức chân chính, có đức tin đúng đắn, có giới hạnh, biết bố thí và có trí tuệ; người gia chủ nói chuyện và tham gia những cuộc thảo luận với họ. Người ấy bắt chước làm theo những gì họ đã thành tựu về đức tin, về giới hạnh, về bố thí, về trí tuệ. Như vậy gọi là tình bạn tốt đẹp ”. (Tăng Chi BK III, Ch VI (IV): 54, tr 663)
Chương 07: Cộng đồng thành lập có chủ đích.
Chương 08: Tranh chấp.
Cho dù một hội chúng được thành lập có chủ đích và ai ai cũng mong ước sống chung hòa hợp, không oán ghét, không chống đối hay thù hận nhau, nhưng vì nghiệp chướng trái ngang của chúng sinh, cứ sống chung với  nhau là có xung đột, tranh chấp rồi hận thù và khổ đau. Trong Chương này Đức Thế Tôn đã giải đáp thắc mắc cho vị Trời Đế Thích lý do tại sao chúng sanh lại tranh chấp với nhau cho dù họ không muốn điều ấy xảy ra. Ngài dạy rằng chính vì do lòng đố kỵ và keo kiệt mà sanh ra, trong khi lòng đố kỵ và keo kiệt là bắt nguồn từ sự yêu ghét mà có và sự yêu ghét này phát sinh từ tham dục và nhân duyên phát sinh tham dục là phát xuất từsuy nghĩ. Vị Trời Đế Thích hỏi: “Nhưng do nhân duyên gì suy nghĩ sinh khởi?”; Đức Phật giải thích: “Này Thiên Chủ, suy nghĩ sinh khởi từ những ý niệm và tri giác sai lầm. Khi ý niệm và tri giác sai lầm có mặt thì suy nghĩ có mặt.Khi ý niệm và tri giác sai lầm không có mặt thì suy nghĩkhông có mặt”.
Kẻ phá hòa hợp Tăng bị rơi vào đọa xứ
Bị rơi vào địa ngục, và ở đó trọn một kiếp.
Ưa thích gây chia rẽ, an nhiên trong phi pháp
Kẻ ấy không được an ổn xa lìa mọi hệ lụy
Sau khi phá hòa hợp Tăng,
Kẻ ấy bị hành hạ trong địa ngục trong một kiếp
       (Tương Ưng BK I, Ch XI (IV): 239, tr 532-533)
2/Người ấy tìm cách gây thiệt hại cho các Tỷ-kheo
3/  Người ấy ngăn cản việc cư trú của các Tỷ-kheo (không cho ở gần quần chúng)
5/ Người ấy gây chia rẽ giữa các Tỷ-kheo
6/ Người ấy chê trách Phật
7/Người ấy chê trách Pháp
8/ Người ấy chê trách Tăng
2/ Vị ấy tìm gây thiệt hại cho các cư sĩ
3/ Vị ấy sỉ nhục và mắng nhiếc các cư sĩ
4/ Vị ấy gây chia rẽ giữa các cư sĩ
5/ Vị ấy chê trách Phật
6/ Vị ấy chê trách Pháp
7/ Vị ấy chê trách Tăng
8/ Họ thấy vị ấy ở những nơi không xứng đáng
Và Đức Thế Tôn cũng dạy nếu một vị Tỷ-kheo sở hữu tám tính cách ngược lại với tám điều trên thì các cư sĩ có thể tuyên bố họ giữ vững niềm tin đối với vị Tỷ-kheo ấy.
      (Tăng Chi BK IV, Ch.VIII (IX): 88,tr 56-57)
Phật dạy trong Kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt về trách nhiệm hỗ tương trong đời sống đạo đức gia đình và xã hội. Ngài dạy cho thanh niên Singala rằng:Lễ phương Đông không phải là quay mặt về phương Đông làm lễ mà phương Đông chính là cha mẹ, lễ phương Đông là đối xử có hiếu với cha mẹ; phương Nam là thầy dạy; phương Tây là vợ con; phương Bắc là bạn bè; phương dưới là lao công, người phục vụ; phương trên là Tu sĩ Sa-môn và Bà-la-môn. Lễ sáu phương tức là đối xử có đạo đức với cha mẹ, thầy dạy, vợ con, bạn bè, tôi tớ và Sa-môn, Bà-la-môn.


Tâm Từ tỏa sáng như vầng trăng:
Trong Chương này cũng dạy hành giả tu tập Tứ Vô Lượng Tâm để tự thay đổi bản thân,tu tập Tâm Từ là bước ngoặc quan trọng cho đời sống. Vì sao? Vì rằng:
Chương 03: Đối Trị Sân Hận.
Người đệ tử Phật đều rõ biết, sân hận là đầu mối dẫn đến xáo trộn và gây khổ đau cho đời sống, nên Phật nhấn mạnh ai loại bỏ sân hận thì sẽ không sầu khổ và ngủ yên giấc, như trongTương Ưng 1, ghi rằng Sakka vị vua cõi Trời hỏi Đức Thế Tôn rằng :

Chương này Phật cũng dạy rõ có 3 hạng người khi chạm mặt với nghịch cảnh sẽ khởi lòng sân tức: Thứ nhất là hạng người thường sân hận sẽ lưu lại sự thù hận và đau khổ dài lâu, như đường kẻ đã vạch khắc trên tảng đá; thứ hai kẻ hay sân tức sẽ không để lại sự tổn hại dài lâu, như đường kẻ vạch lên mặt đất sẽ được gió và nước xóa đi nhanh chóng; thứ ba là hành giả tu tập khi đối với nghịch cảnh, ngay cả khi bị đối phương nói lời thô bạo, độc ác, vẫn giữ tâm bình yên hòa ái, như một đường kẻ vạch trên mặt nước bị xóa mất ngay tức khắc
Trong chương này Phật cũng đề cập có 4 hạng người mỗi khi sân hận cũng giống như 4 loài rắn: đó là loại rắn có nọc phun ra rất nhanh nhưng không độc, chỉ cho hạng người dễ nổi giận nhưng cơn giận không kéo dài; loại rắn có nọc độc nhưng không phun ra nhanh, chỉ cho hạng người không dễ nổi giận nhưng cơn giận lại kéo dài; loại rắn vừa có nọc độc vừa phun ra rất nhanh, là hạng người dễ nổi giận và cơn giận kéo dài; và loại rắn không có nọc độc và cũng không phun ra nhanh là hạng người không dễ nổi giận và cơn giận không kéo dài.
Trong chương 03, Phật dạy có năm mối nguy hại cho người không biết nhẫn nhục: 1/ Kẻ này bị nhiều người không ưa và ghét bỏ; 2/ Có nhiều kẻ thù; 3/ Có nhiều lỗi lầm; 4/ Khi chết tâm mê loạn; 5/ Sau khi chết, tái sanh vào đọa xứ, địa ngục. Ở đây Phật dạy “Này các Tỷ Kheo, có năm lợi ích cho người biết nhẫn nhục.Thế nào là năm? Kẻ này được nhiều người ưa thích mến mộ; không có nhiều kẻ thù; không có nhiều lỗi lầm; khi chết tâm không bị mê loạn; sau khi thân hoại mạng chung, kẻ này sẽ tái sanh vào cõi thiện lành, Thiên giới. Đây là năm lợi cho người biết nhẫn nhục”.
Phật dạy 10 cách loại trừ sân sận: (1) Nghĩ rằngChúng nó đã hành động để làm hại ta, nhưng ta đâu có làm gì được về chuyện này? Người ấy loại trừ sân hận.(2) Nghĩ rằng “Chúng nó đang hành động để làm hại ta…..(3) ….Chúng nó sẽ hành động….(4)….Chúng nó đã hành động… (5)…Chúng nó đang hành động…(6) …Chúng nó sẽ hành động làm hại người ta yêu mến…(7) …Chúng nó sẽ hành động…(8)….Chúng nó sẽ hành động…(9)…Chúng nó sẽ hành động…(10)

Chương 04: Chánh Ngữ.
Nếu con mắt là cửa sổ của tâm hồn thì lời nói chính là làm hiển lộ cái tâm hồn đó. Lời nói có thể mang đến niềman lạc cho người mà cũng có thể tạo nên thù ghét cho người. Trong Chương này Phật dạy hãy cẩn thận trong lời nói của mình để không bị tai họa về sau “Ở đây, này các Tỳ Kheo, một Tỷ-kheo chỉ nói những lời thiện lành, không nói lời xấu ác. Vị ấy chỉ nói Chánh pháp, không nói lời không phải Chánh pháp.Vị ấy chỉ nói những gì vui vẻ dễ chịu, không nói những gì khó chịu.Vị ấy chỉ nói những lời chân thật, không nói láo.Khi lời nói có được bốn yếu tố này, thì lời nói ấy được xem là thiện lành khéo léo, không phải nói xấu ác, và không bị người chỉ trích và chê trách”. (Tương Ưng BK I, Ch III (VIII:V, tr 415)
Phật dạy chúng đệ tử không nên nói những lời gây sự tranh cãi, nếu phạm phải sẽ có 5 điều tệ hại đang chực chờ vị ấy. “(1) Vị ấy sẽ không đạt được những gì vị ấy chưa đạt được; (2) Vị ấy thối thất đối với những gì vị ấy đã đạt được; (3) Tiếng đồn xấu về vị ấy được lan truyền; (4) Vị ấy chết trong mê loạn; (5) Khi thân hoại mạng chung, vị ấy sẽ tái sanh vào cõi dữ, đọa xứ, cõi thấp kém, địa ngục. Khi một vị Tỷ kheo là người tạo ra tranh cãi, gây sự, tranh chấp, tạo ra cuộc đàm luận gây bất đồng ý kiến, và tạo ra những vấn đề về Giới luật trong Tăng chúng, năm điều nguy hại này đang chờ đợi vị ấy.”

Chương 05: Tình Bạn Tốt Đẹp.
“Học Sư Bất Như Học Hữu” tức là “Học thầy không bằng học bạn”, trong chương này Phật nhắc đến việc thiết lập mối quan hệ tình bạn, cách chọn lựa bạn, bởi vì mối liên hệ này sẽ có ảnh hưởng lớn lao đến việc phát triển cá nhân cũng như xây dựng một cộng đồng hòa hợp và có đạo đức vững vàng. Ở đây Đức Phật dạy bảy đức tánh của một người bạn đích thực: “Này các Tỷ-kheo, hành giả nên kết bạn với người sở hữu bảy đức tánh: (1) Người ấy cho những gì khó cho; (2) Làm những gì khó làm; (3) Nhẫn nhục chịu đựng những gì khó chịu đựng; (4) Tiết lộ những bí mật của mình cho bạn biết; (5) Che dấu những bí mật của bạn. (6) Không bỏ bạn khi bạn gặp khó khăn. (7) Không khinh rẻ khi bạn bị khánh tận ”. (Tăng Chi BK III, Ch VII (IV): 35, tr 322-323).
Phật dạy có bốn loại bạn tốt “Người bạn thường giúp đỡ mình, người bạn biết chia sẻ niềm vui nỗi buồn với mình, người bạn chỉ cho mình biết những điều thiện lành và người bạn biết đồng cảm với mình’’.

Phật cũng dạy tình bạn tốt đẹp trong đời sống xuất gia, là những người cùng chí hướng tốt, cùng tu tập theo Bát Chánh Đạo “ Ở đây này Ananda, vị Tỷ-kheo tu tập Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định…đặt trên nền tảng viễn ly, ly tham và đoạn diệt, đạt đến kết quả giải thoát rốt ráo. Này Ananda, bằng cách này, một Tỷ-kheo có một người bạn tốt, một người đồng hành tốt, một người đồng chí hướng tốt, vị ấy phát triển và tu tập Bát Thánh Đạo.”
Một chỗ khác trong chương này, Phật dạy rõ đời sống phạm hạnh là tình bạn tốt đẹp để cùng tu tập đi đến giải thoát: “ Này Ananda, bằng cách nương tựa vào ta như một người bạn tốt đẹp, chúng sinh phải chịu sự chi phối của sanh, già, bịnh, chết, sầu bi, than van, đau đớn, thất vọng và tuyệt vọng, sẽ được giải thoát khỏi sanh, già,bịnh, chết, sầu bi, than van, đau đớn, thất vọng và tuyệt vọng. Bằng pháp môn này, có thể hiểu toàn bộ đời sống phạm hạnh là tình bạn tốt đẹp, tình bạn đồng hành tốt đẹp, tình bạn đồng chí hướng tốt đẹp ”. (Tương Ưng BK.V-Phẩm Vô Minh: (2.III, tr 10-12)
Chương 06: Lợi lạc cho chính mình và người khác.
Trong chương này Phật dạy những ai muốn có lợi lạc cho chính mình và lợi lạc cho người khác thì phải tu tập để loại trừ tam độc tham, sân, si: “Và thế nào là người hành xử vì lợi lạc cho bản thân mình lẫn lợi lạc của kẻ khác? Ở đây có người thực hành việc đoạn trừ tham dục, sân hận và si mê của chính mình, và khuyến khích người khác đoạn trừ tham dục, sân hận và si mê của họ.Như vậy là người hành xử vì lợi lạc cho bản thân mình lẫn lợi lạc của kẻ khác.”(Tăng Chi BK I, Ch IV (X): 96, tr 735-736)
Phật cũng đề cập đến hình ảnh một vịTỷ-kheo mang lợi lạc cho mình và cho người như sau “ Này Tỷ-kheo, một bậc hiền trí với đại trí không có ý định làm tổn hại chính mình, hoặc làm tổn hại kẻ khác, hoặc làm tổn hại cả hai. Mà trái lại, khi vị ấy có ý định gì, thì vị ấy có ý định làm những việc lợi lạc cho chính mình, lợi lạc cho kẻ khác, lợi lạc cho cả hai, và lợi lạc cho toàn thế giới.Bằng cách này một người được gọi là một bậc hiền trí với đại trí tuệ.”(Tăng Chi BK II, Ch IV (XIX): 186, tr 158-159)

Thông thường có hai loại cộng đồng trong xã hội, cộng đồng tự nhiên và cộng đồng có chủ đích. Ở trong chương này, Phật dạy thành lập một cộng đồng Phật tử có chủ đích mà trong đó các thành viên đến từ nhiều vùng địa lý khác nhau, được sinh ra từ những giai cấp khác nhau, có những quan điểm, thái độ, ngôn ngữ khác nhau…có thể cùng sống chung hòa hợp để tu tập đạt đến giác ngộ và giải thoát. Ví dụ như Phật dạy cách để phân biệt rõ các loại hội chúng như hội chúng nông nổi và hội chúng sâu sắc; hội chúng chia rẽ và hội chúng hòa hợp; hội chúng thấp kém và hội chúng cao thượng; hội chúng không nghiêm minh và hội chúng nghiêm minh; hội chúng phàm phu và hội chúng bậc Thánh:“Thế nào là hội chúng phàm phu? Hội chúng trong đó các Tỷ-kheo không hiểu đúng như thật:“Đây là khổ, đây là nguồn gốc của khổ; đây là sự diệt khổ; đây là con đường đưa đến diệt khổ’. Đây gọi là hội chúng phàm phu.Và thế nào là hội chúng bậc Thánh? Hội chúng trong đó các Tỷ-kheo hiểu đúng như thật:“Đây là khổ, đây là nguồn gốc của khổ; đây là sự diệt khổ; đây là con đường đưa đến diệt khổ’. Đây gọi là hội chúng bậc Thánh”.
(Tăng Chi BK I, Ch.II, (V): 1-10, tr.136)
Trong Chương này Phật còn dạy về Sáu nguyên tắc hòa hợp; Mười nguyên tắc hòa hợp; Bảy điều kiện để hòa hợp xã hội; Bảy điều kiện để hòa hợp Tăng chúng; Chăm sóc người bệnh; Mọi người đều có thể chứng đắc mục tiêu tối thượng..v.v.

(Trường Bộ Kinh II, Kinh 21: Đế Thích Sở Vấn, tr 276-77)
Trong Chương này còn giới thiệu nhiều Kinh Phật nói về sự tranh chấp giữa Cư sĩ với nhau, giữa Sa môn với nhau; tranh chấp do lục lạcgiác quan, tranh chấp do tham ái, đặc biệt là đề cập đến sự tranh chấp trong Tăng đoàn và phá hòahợp Tăng.
Phá hòa hợp là đầu mối dẫn tới phá hoại Chánh Pháp, vậy phá hòa hợp Tăng là như thế nào? Phật dạy trong phần 9, Chia Rẽ Tăng Đoàn/ Phá Hòa Hợp Tăng như sau: “Các Tỷ Kheo thuyết giảng những phi pháp là Chánh pháp, Chánh pháp là phi pháp, những phi luật là giới luật… và kẻphá hòa hợp Tăng, một trong ngũ nghịch tội, quả báo đắng cay dành cho kẻ tội đồ này là sẽ nhận quả báo khủng khiếp mãi về sau như lời kệ Phật nói trong Kinh Tăng Chi IV:

Chương 09: Giải quyết tranh chấp.
Vì có tranh chấp nên Phật phảidạy cách để giải quyết, trả lại sự hòa hợp và bình yên cho cuộc sống.Kiểu tranh chấp dễ giải quyết nhất là tranh chấp giữa hai người cùng có những ý định thiện lành.Cách giải quyết nhanh nhất là hai bên tranh chấp biết sám hối và tha thứ cho nhau.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh kể câu chuyện có hai Tỷ-kheo gây gỗ với nhau và một vị đã phạm tội đối vị kia và vị này đến xin sám hối tội lỗi của mình nhưng vị kia không chấp nhận và tha thứ. Vụ việc này được các Tỷ-kheo trình bạch đến Đức Thế Tôn và được Ngài dạy rằng, có hai hạng người ngu là người không thấy việc phạm tội của mình và người không chịu tha thứ cho kẻ phạm tội xin sám hối. Ngài cũng dạy có hai hạng người trí: “Người thấy được việc phạm tội như là phạm tội; và người chịu tha thứ khi kẻ phạm tội đã xin sám hối. Đó là hai hạng người trí”.
Lật úp bình bát:Đây là cách giải quyết tranh chấp giữa cư sĩ và Tăng chúng, khi một vị cư sĩ phạm phải 8 tính cách sau thì các Tỷ-kheo có thể giải quyết bằng cách lật úp bình bát của mình:
1/ Người ấy tìm cách ngăn cản những gì lợi lạc cho các Tỷ-kheo
4/ Người ấy sỉ nhục và mắng nhiếc các Tỷ kheo
Và Phật cũng dạy nếu một vị cư sĩ sở hữu tám tính cách ngược lại với tám điều trên thì các Tỷ-kheo có thể lật ngửa bình bát đối với người cư sĩ ấy.
Tuyên bố mất niềm tin: Khi một Tỷ-kheo sở hữu tám tính cách sau đây thì người cư sĩ có thể tuyên bố là họ mất niềm tin đối với vị Tỷ-kheo ấy:
1/Vị ấy tìm cách ngăn cản những gì lợi lạc cho các cư sĩ
Trong Chương này Phật còn dạy nhiều phương pháp giải quyết tranh chấp như biểu quyết luận tội theo pháp Yết Ma, quét sạch rơm rạ, trải cỏ che lấp và thậm chí có cả phương pháp dùng vũ lực để giải quyết tranh chấp, rất gay cấn và hồi hộp, xin hãy tìm đọc trong sách này trang 249.
Chương 10: Thiếp lập một xã hội công bằng.
Chương cuối này Phật dạy cách thiết lập một xã hội, một quốc giaan bình thịnh trị, cho dù Phật và chúng đệ tử xuất gia đã và đang vượt thoát khỏi thế gian hệ lụy tang thương này, nhưng với tuệ giác nhạy bén và trí tuệ thực tiễn, Ngài vẫn một lòng thương tưởng dành cho chúng sanh đang chìm đắmtrong bể khổ này mà cung cấp cho họ những phương cách sắp xếp lại một xã hội an vui từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm.
Đó là lý do vì sao đạo Phật coi trọng đạo đức, và đạo Phật được mệnh danh là một tôn giáo đạo đức.
Chương này còn cung cấp nhiều Kinh về công ơn trời biển của cha mẹ; ân nghĩa của vợ chồng; những phương cách tìm kiếm tài sản; sử dụng tài sản đúng đắn; giai cấp chỉ là ước lệ của xã hội; địa vị được xác định bằng hành động; hành động tạo ra kẻ bần cùng… Về lãnh đạo đất nước, Phật dạy các bài Kinh xoay quanh các chủ đề: Khi các quốc vương không chơn chánh; nhiệm vụ của nhà vua; giúp cho dân chúng được an cư lạc nghiệp; chiến tranh nuôi dưỡng hận thù:
Thắng trận sinh thù hận
Bại trận thêm mất ngủNgười từ bỏ thắng, bạiAn vui ngủ ngon giấc”,


Kết luận:
Sau cùng xin mượn lời của Thiền Sư Hozan Alan Senauke đã đúc kết trong tập sách này ở lời cuối sách rằng “Nếu Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là bậc Đại Y Vương, thì giáo lý của Ngài là phương thuốc chúng ta cần để giúp cuộc sống của chúng ta được quân bình và hài hòa. Thuốc men sẽ không có lợi ích gì nếu nó còn nằm trong tủ. Giáo lý và kinh văn sẽ không lợi ích gì nếu chúng vẫn nằm im trên giá sách và không được mở ra đọc. Thuốc men cũng như giáo lý cần phải được đưa vào thân và tâm chúng ta, để chúng có thể tạo ra chất xúc tác giúp ta thoát khỏi khổ đau.”
Trên tinh thần đó, người viết mong sách này nên được ấn hành và tìm đọc rộng khắp trong các học đường và cộng đồng Phật tử trong và ngoài nước, để có sự lợi lạc an vui cho mình và cho người. Xin thành tâm niệm ơn tác giả Hòa Thượng Bodhi và dịch giả Nguyên Nhật Trần Như Mai đã cống hiến cho trần gian này một tác phẩm quý báu như vậy.
Nam Mô A Di Đà Phật
Viết tại Tu Viện Quảng Đức Mùa An Cư 2018.
Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng

Thursday, May 31, 2018

Đọc "Bát Cơm Hương Tích” của TT Thích Nguyên Tạng

Bìa sách - thiết kế bởi Huynh trưởng Quảng Pháp

Đọc "Bát Cơm Hương Tích”
của TT Thích Nguyên Tạng


Nguyên Giác


Tuyển tập “Bát Cơm Hương Tích” của Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng là một phần lớn của đời tác giả, ghi lại những gì Thầy mắt thấy tai nghe một thời và rồi nhớ lại...
Tuyển tập chứa đựng rất nhiều kỷ niệm của Thầy Thích Nguyên Tạng, một nhà sư một thời lớn lên nơi vùng cát trắng Khánh Hòa, tu học từ chùa này sang chùa kia, rồi hoàn tất các học vị cao hơn  để vào Sài Gòn và rồi sang Úc châu khi bào huynh bảo lãnh sang để tiếp tục tu học và hoằng pháp.
Tuyển tập gồm 25 bài viết trong đó, ghi lại nhiều hình ảnh sinh hoạt trong đời tu sĩ từ thơ ấu cho tới khi sang Úc,  và có cơ duyên đi hoằng pháp nhiều nơi trên thế giới.
Trong phần Lời Giới Thiệu, HT. Thích Như Điển viết: “Đó chính là việc 'chân thật bất hư'mà Thầy Nguyên Tạng cũng đã thể hiện được điều đó.”
Bài chính trong tuyển tập là Bát Cơm Hương Tích, ghi nhận cảm xúc tác giả về vai trò tu học và hoằng pháp... Tại sao bát cơm Hương Tích?
Đó là hình ảnh từ Kinh Duy Ma Cật, khi ngài Duy Ma Cật vào chánh định, “dùng thần thông thị hiện khiến cho đại chúng nhìn thấy cõi Phật Hương Tích. Mùi hương ở cõi nước đó vượt hơn mùi hương của cõi trời, cõi người và các cõi Phật khác trong mười phương thế giới. Mọi sự, mọi vật trong cõi đó, đều dùng hương thơm tạo thành. Từ đất đai, kinh thành, lầu các, cỏ cây hoa lá... đều ngào ngạt hương thơm. Mùi hương của cơm cõi ấy cũng tỏa ngát khắp mười phương thế giới. Lúc ấy, Đức Phật Hương Tích cùng các vị Bồ Tát đang ngồi thọ trai, có các Thiên tử cùng một danh hiệu gọi là Hương Nghiêm, đều đã phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, đến cúng dường Phật và các Bồ Tát...
Cõi Phật Chúng Hương khác với cõi giới Ta Bà. Đức Phật Hương Tích không dùng ngôn ngữ văn tự mà chỉ dùng phương pháp “Hương trần” để giáo hóa chúng sanh, tức là chúng sanh nơi đó khi ngửi được mùi thơm huyền diệu lập tức quay về chơn tâm, nhẹ nhàng, an lạc và giác ngộ.”
Đó  chính là hương của chánh pháp, hương của giới định huệ... Vai trò người tu sĩ từ thời thơ ấu nơi sân chùa miền cát trắng Khánh Hòa vào Sài Gòn, và sang Úc châu, lúc nào cũng sống trong chánh pháp, và đó chính là mang theo bát cơm Hương Tích để mời chúng sinh cõi này cùng thọ dụng -- đó là hương giới, hương định, hương huệ.
Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng viết:
“Trong Kinh Pháp Cú đã đề cập đến ý này: Hương các loài hoa thơm, không ngược bay chiều gió. Nhưng hương người đức hạnh, ngược gió khắp tung bay. Và Người Xưa cũng từng phán quyết rằng: “Quế hương bất viễn thư hương viễn, thế vị vô như Ðạo vị trường”. Có nghĩa là hương thơm của cây quế không bay xa bằng mùi thơm của kinh sách, vị ngọt của thế gian không bền vững lâu dài bằng vị ngọt của Đạo. Rõ ràng, hương thơm của bất cứ thứ gì hữu hình bên ngoài đều vô thường, chỉ có hương thơm vô hình bên trong mới miên viễn...”
Tác giả cũng kể lại một kỷ niệm trong bài “Ngồi Thuyền Bát Nhã”...
Thuyền Bát Nhã chính là con thuyền trí tuệ có thể chuyên chở chúng sanh vượt qua biển khổ sanh tử để đến bến bờ Niết bàn giải thoát an vui...
Duyên khởi là, Bộ Đại Bát Nhã 600 quyển, bộ Kinh đã truyền đến VN vào năm 1958 và được Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm (1911-2003) phát tâm dịch sang tiếng Việt. Ôn Trí Nghiêm đã phiên dịch bộ kinh này ròng rã suốt 8 năm, từ 1972 đến 1980 mới hoàn tất. Và theo lời Ôn Đỗng Minh, HT Trí Nghiêm đã dịch theo bản Biệt Hành, gồm 24 tập, mỗi tập gần 1000 trang với 25 quyển nhỏ, và cũng đóng thành 24 tập như nguyên bản chữ Hán.
Thầy Thích Nguyên Tạng viết rằng Thầy có duyên làm thị giả cho Ôn Trí Nghiêm và Ôn Thiện Siêu trong 3 mùa An Cư Kiết Hạ tại Chùa Hải Đức, Nha Trang từ 1981 đến 1983. Đầu năm 1998 người viết được bào huynh là Thượng Tọa Thích Tâm Phương bảo lãnh sang Úc định cư, khi nghe Ôn đau nặng nên đã về thăm Ôn đang nằm bệnh tại Chùa Tỉnh Hội Long Sơn sau mùa An Cư năm 2002 và đứng bên giường bệnh của Ngài, người viết đã phát nguyện sẽ đưa toàn bộ bản dịch của Ngài vào mạng lưới điện toán toàn cầu qua trang nhà quangduc.com, để cúng dường mười phương Phật tử gần xa và cũng để hồi hướng công đức cho Ôn. Sau khi về lại Úc, chúng tôi đã viết một thông báo ngắn cần gấp 24 người phát tâm đánh máy 24 tập Kinh Bát Nhã (bản in năm 1998) ngay lập tức có 24 Phật tử khắp nơi trên thế giới từ Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam, Hoa Kỳ, Âu Châu và Úc Châu phát tâm nhận mỗi người một tập để đánh máy, và đây là bản kinh Đại Bát Nhã tiếng Việt đầu tiên đã online trước lễ Tiểu Tường của Ôn Trí Nghiêm vào ngày 13-01-2004.


Cũng trong bài về chiếc thuyền Bát Nhã, Thầy Thích Nguyên Tạng giải thích vì sao:
“Chư Tổ Đức dạy chúng ta thọ trì Bát Nhã Tâm Kinh mỗi ngày sáu thời là để giúp cho ta huân tập chủng tử Bát Nhã, sống trong thế giới Bát Nhã, mà sống trong thế giới Bát Nhã là sống trong chánh niệm tỉnh giác với tâm rỗng rang, thanh tịnh, rõ ràng thường tri, trực nhận mỗi phút giây của đời sống này là quý báu và mầu nhiệm. Nhờ ánh sáng của Bát Nhã Ba La Mật mà đời sống của chúng ta khinh an trong từng sát na mới mẻ hiện tiền, mỗi bước đi, mỗi hơi thở, ta không rời xa chân như thật tướng, ta sống với một tinh thần vô ngã vị tha, mang tình thương đến cho người, làm vơi bớt khổ đau của người. Nhờ ánh quang minh của Bát Nhã Ba La Mật mà hành giả luôn an trụ trong “đương thể tức không”, là khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần sanh ra sáu thức, ngay nơi đó ta nhận biết được vạn pháp là không tướng, vô tướng, không phải ngoại cảnh biến mất rồi mới là Không mà ngay khi thấy sự vật còn hiện tiền đó vốn đã Không rồi, nên hành giả luôn tỉnh giác chánh niệm, mà chánh niệm là vô niệm, mà vô niệm chính là cứu cánh Niết Bàn, đây là chỗ đến cuối cùng của người đệ tử Phật.”


Không chỉ viết về kinh điển, Thầy Thích Nguyên Tạng còn kể một số chuyện trong nhà chùa.
Thí dụ, trong bài “Cúng Cháo,” khi giải thích về nguồn cơn vì sao các chùa cúng cháo cho cô hồn, tác giả kể lại:
“...Tôi nhớ lại Sư Phụ của tôi (cố TT Chơn Kiến) có kể, lúc Hòa Thượng Thanh Bình mới về Trụ Trì một chùa làng ở trên Thanh Minh, Trường Lạc ở Diên Khánh (ngoại thành Nha Trang); vì HT bận rộn việc chùa nên quên cúng cháo, tối hôm đó, cô hồn hiện ra đập cửa phòng Ngài xin cháo để ăn, HT liền thức dậy nấu cháo để cúng ngay trong đêm khuya. Ngoài ra có nhiều chuyện kể khác, có vị Trụ Trì quên cúng cháo nên đêm về bị cô hồn khiêng đặt xuống đất, hoặc nghe dưới nhà bếp có tiếng khua chén bát, do cô hồn lục lạo đòi ăn...”
Tương tự, Thầy Thích Nguyên Tạng cũng có các bài như Cúng Đại Bàng,   kể lại duyên do vì đâu, trích:
“Theo lời thuật lại trong khế kinh, ngày kia Đức Phật đi du hóa gặp một con chim Đại Bàng bắt các loài chim nhỏ ăn thịt. Chim Đại Bàng này có chiều kích rất lớn, mỗi lần há miệng, một hơi hút của nó chiếm một phạm vi nhiều cây số, tất cả các loài chim nhỏ đều bị cuốn hút vào miệng nó. Thấy việc sát sanh quá nhiều nên Đức Phật đã từ bi giáo hóa. Ngài dạy rằng: “Tất cả chúng sanh đều ham sống sợ chết, do đó chớ giết và chớ bảo giết”. Chim Đại Bàng tự nghĩ: “Thực phẩm hằng ngày của mình là thịt sống của các loài chim, nay Phật không cho ăn, lấy gì để nuôi thân mạng này”. Phật dạy: “Từ đây về sau ngươi về Chùa nào gần nhất để quý Tăng Ni cho ăn”...”
Hay về ý nghĩa khi thọ trai, qua bài “Cúng Quá Đường,” Thầy Thích Nguyên Tạng viết: “Quá Đường, còn gọi là Thượng Đường hay Phó Đường, nơi Tăng chúng đến thọ thực mà tâm không tham trước ...”
Hay là thói quen “lưu phạn”... tác giả giải thích:
“Lưu phạn là san sẻ phần cơm của mình cho chúng quỷ thần và cho người ăn sau mình; ý nghĩa bố thí, mở rộng tình thương của mình dành cho người bất hạnh, không đủ cơm ăn áo mặc, ý tưởng này giúp cho hành giả nuôi dưỡng từ tâm ngay trong lúc mình ăn.”


Với giọng văn vừa uyên bác, vừa chơn chất, Thầy Thích Nguyên Tạng đã kể về  nhiều vị Thầy, ghi nhận cảm xúc riêng đối với từng vị thầy.
Như khi viết về ân sư là cố Thượng Tọa Thích Chơn Kiến, tác giả ghi ơn cố ân sư đã làm môt cầu nối cho bản thân Thầy Thích Nguyên Tạng và truyền thống Phật Giáo Tây Tạng ngoài nước:
“Thầy là một hành giả Mật Tông Kim Cang Thừa, Thầy từng gặp Thượng Tọa Viên Đức tại Thủ Thiêm, Sài Gòn thọ học cốt tủy của Mật Giáo và sau đó Thầy hành trì theo bộ sách Hiển Mật Viên Thông. Trong tịnh thất của Thầy có thờ hình Phật Mẫu Chuẩn Đề Vương, Thầy đã áp dụng thực hành Tam mật tương ưng, phương pháp trọng yếu của Mật Tông mong đạt đến diệu dụng của pháp tu này. Con có phước duyên làm thị giả Thầy trong các kỳ Thầy nhập thất tịnh tu, nên dần dần được ảnh hưởng và chú ý đến pháp tu Mật Tông này. Đó chính là nhân duyên thù thắng mà Thầy đã trực tiếp gieo mầm hạt giống cho con làm quen với pháp tu này, đặc biệt là Thầy đã khai thị cho con về hành trạng tái sinh của các vị Lạt Ma Tây Tạng như Ngài Padmasambhava, Ngài Govinda, Ngài Milarepa.... Thầy đã bắt một chiếc cầu nối giữa con với Phật giáo thế giới bên ngoài, làm khơi dậy một thiện duyên cho con sau này tìm hiểu nghiên cứu dịch thuật các tài liệu...”


Độc giả cũng sẽ tìm gặp các bài viết về cố Hòa Thượng Thích Minh Tâm, ngươì hoằng pháp bên Châu Âu và được Thầy Nguyên Tạng gọi là “Người trồng Sen trên tuyết”...
Trong khi đó, giọng văn Thầy Thích Nguyên Tạng chùng xuống,  bùi ngùi khi viết về Thầy Thích Hạnh Tuấn đã ra đi trong khi ước mơ xây dựng Phật Việt còn dở dang:
“Hành trình Phật Việt của Thầy Hạnh Tuấn cũng thể hiện rõ nét ở Tổ Đường Chùa Trúc Lâm qua phong cách thờ phượng của Thầy. Thầy không thờ Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma (470-543) theo truyền thống mà lại tôn thờ Sơ Tổ Trúc Lâm (1258-1308, đạo hiệu của Vua Trần Nhân Tông sau khi xuất gia), người khai sáng Thiền phái Trúc Lâm trên núi Yên Tử, mở ra một trào lưu tu học Phật tại VN vào triều đại nhà Trần.
Một nét riêng Phật Việt khác của Thầy Hạnh Tuấn là tôn thờ và phổ biến tôn tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn. Pho tượng này đang tôn trí tại Chánh Điện Chùa Trúc Lâm từ 2007 là phục chế theo mẫu của pho tượng Quan Thế Âm Nghìn Tay Nghìn Mắt, một di sản, một bảo vật đang được bảo tồn tại Chùa Bút Tháp, tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam. Đây là một kiệt tác nghệ thuật điêu khắc của nền PGVN...”
Tuyển tập cũng kể về một số kỷ niệm với Hòa Thượng Thích Như Huệ, được tác giả gọi là “Người giữ vững mái chèo” với ghi nhận:
“Một điều thú vị khác mà người viết lưu tâm về Đức Trưởng Lão HT Như Huệ, Ngài là người có trí nhớ như máy thu âm mp3, bằng chứng là người viết đã từng “thi đua” với Ngài trùng tuyên lại “Quy Sơn Cảnh Sách” (khoảng 12 trang A4 cả nguyên văn chữ Hán và nghĩa Việt) của Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu, đây là một áng văn bất hủ trong văn khố Phật Giáo. HT Như Huệ nhớ vanh vách từng câu từng chữ trong bộ sách gối đầu giường này...”
Tương tự, độc giả sẽ thấy trong sách những hình ảnh và cảm xúc của tác giả Trưởng Lão Hòa Thượng  Thích Huyền Tôn...
Hay là kỷ niệm với Hòa Thượng Thích Như Điển trên các chặng đường hoằng pháp, trong đó gặp một số Phật tử tinh tấn, như cụ bà Diệu Bích, hơn 90 tuổi, ở thành phố Montreal, miền Nam Canada -- “bà cụ từng là chủ hãng viết BIC xưa kia, nhưng điểm làm cho tôi chú ý là bà cụ đang niệm Phật công cứ, không bỏ sót một ngày nào trong mấy mươi năm qua.”
Và nhiều bài khác, với nhiều chủ đề dễ dàng lôi cuốn người đọc.
Trong sách này, độc giả sẽ  được Thầy Thích Nguyên Tạng dẫn đi xem một vòng các sinh hoạt thiền môn, trong khi kể nhiều chuyện rất ít khi nghe ở ngoài cổng chùa -- thí dụ, sự tích Bồ Tát Quan Thế Âm hiện thân làm một thiếu nữ xinh đẹp, và rao rằng hễ chàng nào thuộc kinh điển sẽ được cô chọn làm chồng. Câu chuyện ly kỳ, gay cấn, dẫn tới một nút thắt cuối truyện đã hiển lộ lên pháp ấn vô thường và bất như ý của cõi này.
Hay là chuyện từ một sát thủ trở thành nhà sư theo Phật, và rồi trở thành A Lá Hán... đó là truyện về ngài “Angulimala, Một Câu Chuyện Về Sức Mạnh Của Lòng Từ...”


Được biết, Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng sinh năm 1967 tại Nha Trang. Xuất gia năm 1980, thọ giới Sa Di năm 1985 và thọ giới Tỳ Kheo năm 1988. Tốt nghiệp Trường Cơ bản Phật học Vĩnh Nghiêm năm 1992, trường Đại học Sư phạm (ngoại ngữ Anh) năm 1995 và trường Cao cấp Phật học Vạn Hạnh năm 1997. Đến Úc định cư năm 1998 và sáng lập trang nhà Quảng Đức www.quangduc.com. Tốt nghiệp Cử nhân Xã hội học tại Đại học La Trobe năm 2006. Hiện TT là Trụ Trì Tu Viện Quảng Đức,Melbourne, Úc Châu và là Phó Tổng Thư Ký của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan. Thượng Tọa là tác giả và dịch giả của nhiều tập sách như: Chết và Tái Sanh, Phật Giáo Khắp Thế Giới, Sức Mạnh của Lòng Từ, Hỏi Hay Đáp Đúng, Phật ngọc hòa bình, Lịch sử Phật Giáo Úc Đại Lợi...
Nói ngắn gọn, tuyển tập “Bát Cơm Hương Tích” mang sức mạnh ở các thể văn: văn học, đạo học, sự tích một số sinh hoạt trong chùa, kỷ niệm về một số vị Thầy, và trong tận cùng... là sức kể chuyện từ một ngòi bút chân tu thực học như Thầy Thích Nguyên Tạng, và từ các trang sách là mùi hương của Giới Định Huệ...
Sách có thể mua ở Amazon, xin gõ nhóm chữ “bat com huong tich”...