Showing posts with label Bạch Xuân Phẻ. Show all posts
Showing posts with label Bạch Xuân Phẻ. Show all posts

Saturday, September 12, 2026

NHỮNG CUỘC HẸN CHƯA THÀNH: Nhớ chị Đào Nguyên Dạ Thảo và một nhân duyên đẹp với Thầy Tuệ Sỹ

Bản PR mà chị Dạ Thảo nhờ Uyên Nguyên Trần Minh Triết làm để quảng bá

NHỮNG CUỘC HẸN CHƯA THÀNH: Nhớ chị Đào Nguyên Dạ Thảo và một nhân duyên đẹp với Thầy Tuệ Sỹ

Bạn Quảng Pháp/Uyên Nguyên nhắn tin cho hay chị Đào Nguyên Dạ Thảo, một họa sĩ tài ba mới có 61 tuổi, vừa rời cõi tạm. Tôi sững người, ngạc nhiên đến mức không thể tin đó là sự thật. Tôi vội gọi anh Bùi Chí Trung, lúc ấy đang ở Nhật, để hỏi thêm. Mãi một lúc sau, cơn bàng hoàng mới dịu xuống, nhường chỗ cho những kỷ niệm lần lượt trở về.

Tôi nhớ những lần chị làm sách cho Thầy Tuệ Sỹ. Hai chị em từng cố gắng quảng bá, phát hành, kêu gọi độc giả mua sách để đọc, rồi đôi khi lại mua thêm để tặng người khác. Mỗi lần chúng tôi tổ chức chương trình Có Mặt Cho Nhau, giới thiệu sách và các công trình văn hóa Phật giáo, chị gần như luôn là người gửi sách tặng chương trình. Có lần tại Tu Viện Đại Bi, chị không thể đến tham dự nhưng vẫn gửi Thiên Lý Độc Hành và Ngục Trung Mị Ngữ để trưng bày và trao tặng.

Giờ đây, nhìn lại hai cuốn sách ấy của Thầy Tuệ Sỹ và đọc lại những dòng tin nhắn cũ giữa chị và tôi, tôi chợt nhận ra: có những câu chữ khi được viết ra chỉ là một lời hẹn rất bình thường. Nhưng đến một ngày, khi người viết không còn nữa, những câu chữ ấy bỗng mang một sức nặng khác.

Tháng Tư năm 2025, chị Dạ Thảo nhắn cho tôi về dự định tổ chức một book festival, một cuộc gặp gỡ xoay quanh sách, văn hóa và những công trình nghệ thuật liên hệ đến Thầy Tuệ Sỹ. Chị cũng thực hiện cuốn Bồ Tát Quan Âm – Tín Ngưỡng và 50 Tượng Tuyển ở Nhật Bản của Giáo sư Bùi Chí Trung, rồi gửi cho tôi xem một mẫu sách và nhắn rất tự nhiên: “Đây là version bìa cứng.”

Một trong cái text cuối cùng với chị.

Chúng tôi bắt đầu bàn bạc và đã nghĩ đến một cuộc gặp. Nhưng rồi mẹ nuôi của chị ở Houston bất ngờ bị đột quỵ. Chị phải trở về chăm sóc bà. Căn phòng đã đặt tại Westminster Hall cũng phải hủy. Chị nhắn xin lỗi và nói một câu mà hôm nay đọc lại, tôi bỗng thấy lòng mình lặng xuống: “Mình sẽ có nhiều thời gian hơn để chuẩn bị nhé.” Mình sẽ có nhiều thời gian hơn…

Lúc ấy, ai cũng tin như vậy. Nhưng rồi cuộc hẹn ấy không bao giờ thực hiện được. Và đó cũng không phải là cuộc hẹn duy nhất. Có lần chị nhắc đến Đà Lạt, nơi chị ấp ủ một dự án hội họa, cũng là nơi chị dự định trở về sống những năm tháng hưu trí. Chị từng mời chúng tôi, giáo sư Bùi Chí Trung và tôi cùng chị trở về Đà Lạt, nơi chị đã sinh ra và lớn lên.

Chúng tôi đã hình dung một chuyến đi thật đẹp: gặp nhau ở Đamri hay giữa cao nguyên, thành phố mộng mơ Đà Lạt, thăm không gian nghệ thuật chị đang ấp ủ, nói chuyện về sách, hội họa, văn chương, rồi cùng đi lại những nơi còn lưu dấu chân Thầy Tuệ Sỹ.

Cuộc trở về ấy, trong dự tính của chúng tôi, không đơn thuần là một chuyến du ngoạn. Đó còn là một chuyến đi tìm lại dấu chân của Thầy. Nhưng cuộc hẹn Đà Lạt ấy rồi cũng chưa thành. Bây giờ nghĩ lại mới thấy đời người có biết bao nhiêu cuộc hẹn được gửi vào hai chữ “mai sau.” Ta thường nghĩ vẫn còn một mùa xuân khác, một chuyến đi khác, một ngày thuận tiện hơn. Nhưng vô thường không đi theo lịch trình của chúng ta. Chính vì vậy, những cuộc hẹn chưa thành ấy hôm nay không chỉ để lại tiếc nuối. Chúng trở thành một lời nhắc nhở về sự có mặt.

Nhân duyên của chị Dạ Thảo với Thầy Tuệ Sỹ là một nhân duyên đặc biệt. Có lần chị kể, qua nhà thơ Nguyễn Đức Sơn, chị được gặp Thầy tại Thị Ngạn Am, trong khuôn viên chùa Già Lam, vào năm 2001. (Xin được mở ngoặc là chị rất thân với Gia đình cố nhà thơ Nguyễn Đức Sơn và luôn giúp đỡ gia đình cố nhân sĩ này, cũng như đã bỏ tiền bạc và công sức xuất bản cuốn “Thơ và Đá” Thơ NGUYỄN ĐỨC SƠN do Văn Học Press xuất bản, 12/2019 với người viết tựa là Thầy Tuệ Sỹ gồm Ba ngôn ngữ: Việt - Anh - Nhật. Dịch sang tiếng Anh: Nguyễn Phước Nguyên. Dịch sang tiếng Nhật: Giáo sư Bùi Chí Trung và do chị làm biên tập. Nói chung chị là con người rất nhanh nhẹn, rộng lượng, từ bi và bác ái). Trong ký ức của chị, Thầy Tuệ Sỹ là một vị học giả uyên bác, thi sĩ tài hoa và bậc cao tăng thạc đức được nhiều người kính ngưỡng lại hiện ra hết sức bình dị: bộ đồ lam, đôi chân trần, ngồi trên chiếu, ngủ ngồi và tự tay rót trà mời khách. Chị thường nói đùa “chị là người ngoại đạo”, nhưng chị đến với Thầy bằng con đường văn học và nghệ thuật, rồi từ đó dành cho Thầy một niềm quý kính sâu xa. Chị đã nhìn thấy một Thầy Tuệ Sỹ rất gần với đời thường, bao dung và giản dị.

Thầy đang ký sách của Nguyễn Đức Sơn

Một vị Thầy có thể nói chuyện văn chương, kể chuyện những chuyến xe lửa từ Vạn Giã về Nha Trang, quan sát từng con người bình thường trên toa tàu, rồi từ đó hình thành ý tưởng cho truyện Chuyến Tàu Tốc Hành — trong đó cả địa cầu như một đoàn tàu đang lao đi, còn con người vẫn mải mê với những vui buồn, tranh chấp, thương yêu và tính toán của mình mà không biết phía trước là gì.

Chị cũng từng ngồi nghe Thầy kể về những năm tháng lao tù. Khi không có giấy bút, Thầy làm thơ rồi ghi nhớ từng câu trong tâm. Có lúc, Thầy dùng vật cứng viết chữ Hán lên tường hoặc nền nhà để người khác khó đọc được. Sau khi ra khỏi tù, từ ký ức ấy, những bài thơ được ghi lại và trở thành Ngục Trung Mị Ngữ. Có lẽ vì đã nhìn thấy cả hai phương diện ấy, một Tuệ Sỹ uyên áo trong tư tưởng nhưng vô cùng giản dị trong đời sống nên khi tham gia trình bày mỹ thuật và ấn hành những thi phẩm cuối đời của Thầy, chị Dạ Thảo không chỉ làm công việc của một họa sĩ. Chị còn giúp chuyển tải đến bạn đọc những hình ảnh rất đời thường, giản dị và thú vị về Thầy. Có lần Thầy cũng viết chữ “Thảo” tặng chị. Có thể nói, chị đã góp phần đưa một phần di sản văn học và nghệ thuật của Thầy đến gần hơn với bạn đọc trong và ngoài nước.

Cùng với Giáo sư Bùi Chí Trung và những người hữu duyên, chị đã góp công sức vào những ấn phẩm như Ngục Trung Mị Ngữ, Thiên Lý Độc Hành và những công trình liên hệ đến Thầy. Nhìn những cuốn sách ấy hôm nay, tôi hiểu rằng làm sách về Tuệ Sỹ không thể chỉ là chuyện chọn phông chữ, bố cục, hình ảnh hay màu sắc. Đó còn là một cách phụng sự văn hóa.

Mỗi trang sách là một phương tiện đưa tư tưởng, thi ca và khí phách của một con người đi xa hơn giới hạn của chính đời người ấy. Ở đó, tôi nghĩ đến ý nghĩa của Phật giáo dấn thân, dù chị vẫn thường khiêm tốn nhận mình là người “ngoại đạo”. Dấn thân không nhất thiết phải bắt đầu bằng những việc lớn lao. Có khi, dấn thân chỉ là làm thật đẹp một trang sách. Giữ lại một bản thảo hay chăm chút vẻ một bức ảnh. Tổ chức một buổi giới thiệu sách hay dịch một bài thơ hay. Gìn giữ một ký ức đẹp hay trao truyền một di sản tinh thần cho thế hệ sau.

Nếu Chánh pháp chỉ được đặt trang trọng trên bàn thờ mà không đi vào đời sống, thì ánh sáng của Chánh pháp vẫn chưa được tiếp nối trọn vẹn. Thầy Tuệ Sỹ đã sống một đời như thế. Thầy đi qua tù đày mà không đánh mất tự do nội tâm; đi qua những biến động dữ dội của lịch sử mà vẫn giữ được phẩm cách của người trí thức và giới hạnh của người xuất gia. Học thuật của Thầy không tách khỏi vận mệnh con người. Thi ca của Thầy cũng không trốn chạy khổ đau. Bởi vậy, gìn giữ di sản Thầy Tuệ Sỹ để lại không nên chỉ dừng ở sự tưởng niệm. Đó còn là sự tiếp nối. Tiếp nối tinh thần “duy tuệ thị nghiệp”, lấy giáo dục và văn hóa làm phương tiện. Tiếp nối tinh thần độc lập trong tư duy. Tiếp nối lòng từ bi trước khổ đau của con người. Tiếp nối trách nhiệm của người trí thức đối với văn hóa, giáo dục và xã hội. Và tiếp nối khả năng đứng giữa cuộc đời mà không để những biến động của cuộc đời làm mất đi tự do bên trong. Theo nghĩa ấy, những cuốn sách mà chị Dạ Thảo góp phần thực hiện cũng chính là một hình thức dấn thân. Và tôi tin rằng anh Bùi Chí Trung cũng sẽ tiếp tục con đường ấy. 

Trong cái nhìn Phật giáo, tất cả rồi cũng qua bốn giai đoạn thành-trụ-hoại-không. Thầy đã đi. Bây giờ chị Dạ Thảo cũng đã đi. Chúng ta rồi cũng sẽ ra đi. Giờ này còn lại trên bàn tôi là Ngục Trung Mị Ngữ, Thiên Lý Độc Hành, và những trang sách mà biết bao bàn tay đã âm thầm góp sức. Bỗng nhiên, sách trở thành kỷ niệm, thành hoài vọng, thành những ưu tư và những tiếp nối. Ở đó có bóng dáng Thầy. Có tâm huyết của chị. Có công sức của Giáo sư Bùi Chí Trung và những người cùng chung chí nguyện. Có cả một book festival làm chung chưa thành. Và có một Đà Lạt chưa kịp trở về.

Tôi vẫn từng hình dung một ngày nào đó, chúng tôi sẽ gặp nhau trên cao nguyên ấy: chị Dạ Thảo, anh Bùi Chí Trung, bạn thân của Thầy Tuệ Sỹ, và tôi đang hầu Thầy; cùng uống một chén trà, xem những bức tranh chị đang thực hiện, nói về những cuốn sách còn dang dở, rồi đi tìm một chút Chân – Thiện – Mỹ giữa sương lạnh Đà Lạt.

Thầy Tuệ Sỹ, Chị Đào Nguyên Dạ Thảo và anh Bùi Chí Trung gặp nhau ở Chùa Đức Lâm, Nagoya tháng Giêng, 2020 

 

Nhưng bây giờ, Thầy đã an nhiên thị tịch. Người hẹn cũng đã đi rồi. Có lẽ cuộc hành trình ấy, nếu một ngày được thực hiện, sẽ mang một ý nghĩa khác. Không còn là đi để gặp chị, mà là đi để làm điều gì có ích cho nhau và cho tha nhân. Phật giáo nói về vô thường không phải để con người bi quan trước sự chia lìa. Ngược lại, chính vì vô thường mà từng phút giây hiện hữu mới trở nên quý giá. Một cuộc gặp cần được trân trọng khi còn có thể gặp. Một lời thương cần được nói khi người kia còn có thể nghe. Một việc thiện cần được làm khi nhân duyên đang có mặt. Và một ước nguyện đẹp, nếu có thể thực hiện hôm nay, đừng mãi gửi về ngày mai.

Vì thế, điều còn lại sau sự ra đi của chị Dạ Thảo không nên chỉ là nỗi buồn. Đó có thể là một lời gởi gắm. Những dự án còn dang dở, những cuốn sách, những bức tranh, những câu chuyện về Thầy, và cả lời hẹn Đà Lạt chưa thành — tất cả nhắc những người ở lại rằng: Di sản chỉ thật sự sống khi có người tiếp tục mang nó đi vào cuộc đời.

Cảm ơn chị Dạ Thảo về một nhân duyên đẹp. Cảm ơn chị đã dùng đôi mắt của người nghệ sĩ để nhìn Thầy, dùng đôi tay của người làm mỹ thuật để gìn giữ những trang sách của Thầy, và dùng tình cảm của một người hữu duyên với Phật pháp để lưu lại cho chúng tôi những ký ức thật gần gũi, thật người về Thầy Tuệ Sỹ.

Cuộc hẹn triển lãm sách ở Westminster còn thiếu duyên. Cuộc hẹn dạo chơi ở DaoNguyen Art Village ở Đà Lạt cũng chưa thành. Nhưng có lẽ, trong tinh thần duyên khởi, một cuộc hẹn không thành không có nghĩa là một tâm nguyện đã mất. Người này đặt xuống, người khác tiếp nhận. Một bàn tay buông ra, một bàn tay khác tiếp nối. Một đời người khép lại, nhưng hạnh nguyện vẫn có thể tiếp tục đi.

Thầy đã thiên lý độc hành. Chị cũng vừa bước sang một nẻo thiên lý khác. Còn anh Trung và chúng tôi, những người ở lại trong những cuộc hẹn hò dang dở ấy, xin tiếp tục cuộc hành trình bằng những việc mình có thể, để văn hóa được gìn giữ, để Chánh pháp tiếp tục đi vào cuộc đời, và để những hạt giống đẹp mà người đi trước đã gieo không bị trôi vào lãng quên.

Mai này, nếu có dịp trở lại Đà Lạt, có lẽ chúng tôi vẫn sẽ thực hiện một buổi Có Mặt Cho Nhau để nhớ về chị. Chỉ khác rằng, giữa chén trà, sương núi và những đóa hoa Đà Lạt sẽ thiếu bóng dáng và đôi mắt sâu hun hút của Thầy, sẽ thiếu một người hiền lành có nụ cười tươi như hoa của chị. Nhưng biết đâu, trong một cánh thông lay, một áng mây ngang núi, hay một khoảng lặng giữa câu chuyện, chúng tôi lại nhận ra: Người đi không hẳn đã mất. Khi hạnh nguyện còn được tiếp nối, người vẫn đang cùng chúng ta thong dong khắp mọi nẻo đường.

Xin thành kính chia buồn cùng gia đình chị và bé Dali. Ngưỡng nguyện hương linh chị Đào Nguyên Dạ Thảo xả bỏ báo thân, tùy duyên thiện nghiệp, thênh thang trên nẻo về.

Nguyện những tâm nguyện về văn hóa và nghệ thuật mà chị còn để lại sẽ tiếp tục được những người hữu duyên nâng niu, gìn giữ và tiếp nối. Và nguyện cho bé Dali luôn được nâng đỡ bởi tình thương, lớn lên thành người như điều chị từng mong nguyện. Rest In Peace, Chị. Xin tiễn nhau đây.

Hẹn xưa chưa tròn
Đào Nguyên Dạ Thảo
Thong dong qua đồi.

Our old promise unfulfilled
Đào Nguyên Dạ Thảo
Wanders freely beyond the hill

Nam mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

Bạch Xuân Phẻ



Friday, December 19, 2025

Thanh Huy | Việt Báo: Tiến Sĩ Bạch Xuân Phẻ Hướng Dẫn về Đề Tài “Giáo Dục Trong Gia Đình và Giao Tiếp - Ứng Xử Chánh Niệm”

 

Tiến Sĩ Bạch Xuân Phẻ hướng dẫn phương pháp Giáo Dục Trong gia đình

Westminster (Thanh Huy) – Tại Chánh Điện Tu Viện Đại Bi, Thành Phố Westminster, Hội Đuốc Tuệ đã tổ chức buổi hướng dẫn về đề tài: "Giáo Dục Trong Gia Đình và Giao Tiếp - Ứng Xử Chánh Niệm” do Tiến Sĩ Bạch Xuân Phẻ hướng dẫn.
 
Một buổi chiều Chủ Nhật an lành, Tu Viện Đại Bi đón chào rất đông hành giả, phụ huynh, anh chị em Gia Đình Phật Tử, và những người quan tâm đến nghệ thuật giáo dục chánh niệm trong gia đình. Bầu không khí trang nghiêm nhưng gần gũi mở ra ngay từ khoảnh khắc bước vào chánh điện: ba pho tượng Phật vàng tỏa sáng, hoa sen hồng tươi thắm, và nụ cười hiền hòa của đại chúng khiến tâm người dự tự nhiên được lắng dịu. Tất cả tạo nên một nhân duyên tuyệt đẹp cho buổi pháp thoại “Giáo dục trong gia đình & Giao tiếp – Ứng xử Chánh niệm” do Tiến sĩ Bạch Xuân Phẻ (Tâm Thường Định) hướng dẫn.
 
Trước lúc hội thảo bắt đầu, cư sỹ Tâm Nguyên Trí cùng tiếng đàn guitar dìu dặt vang lên, mang lại cảm giác như cả chánh điện được ôm ấp bởi dòng suối nhạc. Những nốt nhẹ ngân như kéo mọi người về lại với hơi thở, với sự có mặt trọn vẹn của giây phút hiện tại.
 
Không khí và nhân duyên khởi đầu. Buổi học mở đầu bằng 5 phút ngồi thiền và theo dõi hơi thở. Trong sự im lặng nhiệm mầu, đại chúng theo lời hướng dẫn nhẹ nhàng: “Thở vào – biết mình đang thở vào; Thở ra – biết mình đang thở ra.” Chỉ một bài thực tập đơn giản, nhưng đủ giúp không gian trở nên trầm tĩnh và kết nối. Mỗi người trở về với chính mình, chuẩn bị để tiếp nhận một pháp thoại không chỉ bằng trí tuệ, mà bằng cả trái tim mở rộng.
 
Tiến Sĩ Bạch Xuân Phẻ hướng dẫn phương pháp Giáo Dục Trong gia đình 

Trong phần dẫn nhập, Tiến sĩ Bạch Xuân Phẻ chia sẻ rằng: “Gia đình chính là ngôi trường đầu tiên của nhân cách, và cha mẹ là người thầy lớn nhất.” Tiến sỹ nhấn mạnh giáo dục trong gia đình là quan trọng nhất; trường học đầu tiên của tâm hồn chính là ở nhà và người Thầy Cô đầu tiên chính là Ba Mẹ.

Từ cách cha mẹ nói năng, đứng ngồi, vui buồn, đến từng ánh mắt và cử chỉ đều là những bài học sống động mà trẻ tiếp nhận hằng ngày. Không ai có thể dạy con bình an nếu bản thân mình chưa có mặt bình an. Không thể dạy con hiểu biết khi chính người lớn chưa biết hiểu chính mình.
 
Giảng sư nhấn mạnh:
  • Giáo dục gia đình bắt đầu từ tình thương.
  • Tình thương nuôi lớn bằng sự lắng nghe và hiểu biết.
  • Và hiểu biết được nuôi dưỡng bởi năng lượng chánh niệm trong từng hơi thở.
Từ đó, buổi pháp thoại mở ra chiều sâu của một triết lý giáo dục nhân ái: cha mẹ muốn chuyển hóa con cái thì hãy bắt đầu từ sự chuyển hóa của chính mình.
Trong phần Chánh niệm trong giao tiếp, giảng sư phân tích ba nền tảng quan trọng:
  1. Hiểu mình – nhận diện cảm xúc trước khi phản ứng.
  2. Hiểu người – thấy được nỗi khổ niềm đau bên dưới lời nói hay hành động.
  3. Hiểu hoàn cảnh – chọn cách đáp ứng phù hợp, không bị cuốn theo tự động.
Trong giao tiếp, chánh niệm giúp ta dừng lại, thở và chỉ nói những điều nuôi dưỡng. Thay vì phản ứng ngay lập tức, người thực tập học cách “thở – nhận diện – mỉm cười” rồi mới phản hồi thay vì phản ứng và đặc trên nền tảng lợi mình và lợi người, ngày bây giờ và cho cả tương lai.
 
Tiến sĩ Bạch Xuân Phẻ chia sẻ: “Khi ta nói bằng từ bi, người nghe sẽ mở lòng. Khi ta lắng nghe bằng hiểu biết, khổ đau sẽ giảm bớt.” Buổi học triển khai sâu hơn với bài tập “Tôi cảm thấy… Khi…” trong tâm lý học gọi là, “name it to tame it” (gọi cảm xúc để giúp thuần hóa nó). Nói chung, hãy tập hạnh lắng nghe và nói lời hoà nhã giúp ta nhận ra sức mạnh của ngôn ngữ ái ngữ trong việc hóa giải xung đột.
Buổi workshop có phần thực tập – trải nghiệm chuyển hóa. Buổi học trở nên sinh động khi đại chúng bước vào phần thực tập nhóm. Mỗi người có cơ hội:
  • Lắng nghe sâu mà không chen lời, không phán xét.
  • Nói năng ái ngữ để diễn bày cảm xúc chân thật.
  • Quan sát cảm xúc trong lúc giao tiếp – điều mà đời thường ít ai để ý.
Nhiều người đã xúc động khi chỉ trong vài phút lắng nghe thật sự, họ cảm nhận một sự nhẹ nhõm bất ngờ. Không ít người chia sẻ rằng lần đầu tiên họ nhận thấy: “Chỉ cần thay đổi cách nghe và cách nói, gia đình đã có thể bớt đi rất nhiều hiểu lầm.”
 
Phần thảo luận các tình huống thực tế – con nổi nóng, vợ chồng hiểu lầm, cha mẹ căng thẳng – giúp mọi người thấy rõ tính ứng dụng của chánh niệm trong đời sống. Những phương pháp như “dừng-thở-mỉm cười” / “PBS - Pause-Breathe-Smile”, “3 hơi thở”, BCOOL”, hay “Silence is gold”/“im lặng là vàng” trở thành những công cụ hữu hiệu để đối trị cảm xúc mạnh.
 
Cuối buổi, trong âm thanh tiếng chuông nhẹ ngân, đại chúng cùng thực tập thiền từ bi:
“Cầu mong cho tôi được bình an và hạnh phúc
Cầu mong cho gia đình tôi và bạn bè tôi được bình an và hạnh phúc
Cầu mong cho mọi người và mọi loài được an lành…”
 
Sự ấm áp lan tỏa khắp chánh điện. Mọi người chụp ảnh lưu niệm trong tinh thần hòa hợp và biết ơn. Tiến sĩ Bạch Xuân Phẻ gửi lời cảm niệm: “Chánh niệm không chỉ là ngồi thiền, mà là sống tỉnh thức trong từng khoảnh khắc yêu thương - để mỗi gia đình trở thành một ngôi chùa nhỏ giữa đời.” Buổi hội thảo kết thúc trong an lạc, để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng mọi người tham dự - những người sẽ mang theo hơi thở chánh niệm, ngôn ngữ yêu thương và sự hiểu biết trở về mái ấm của mình.

Saturday, September 20, 2025

NHÌN TRĂNG RẰM NHỚ MẸ - Gazing at the Full Moon, Remembering Our Beloved Mother

 Lời dẫn: “Nhìn Trăng Rằm Nhớ Mẹ” của Bạch Xuân Phẻ là một bài kệ hiếu đạo viết trong không khí Vu Lan. Từ vầng trăng rằm thanh tĩnh, tác giả hồi quang về hành trình sinh–trưởng–biệt ly: tiếng oe oe thuở chào đời, giọt mồ hôi của Mẹ, nỗi chơi vơi khi Mẹ khuất núi. Mẹ hiện lên như bến giác giữa “chốn mù khơi”, là nguồn từ bi bao la “biển cả mênh mông”. Bài thơ kết nối giáo lý vô thường, từ bi, sắc–không và niềm tin Tịnh độ: “Di Đà là chốn đoàn viên”, để từ đó người con phát nguyện báo đáp bằng đời sống tỉnh thức. Điệp khúc nụ cười—“Mẹ cười trên đóa hồng liên / Con cười giữa chốn triền miên não phiền”—mở lối chuyển hóa khổ đau, khẳng định: hạnh phúc và Mẹ vẫn đang ở đây, trong từng hơi thở biết ơn.


Trong ánh trăng rằm yên ả của mùa Vu Lan, xin mời quý vị trở về với tiếng gọi dịu dàng của hiếu hạnh. “Nhìn Trăng Rằm Nhớ Mẹ” – thi phẩm của Bạch Xuân Phẻ – là một nén tâm hương dâng Mẹ: nhắc ta rằng giữa bão giông nhân thế, chỉ cần trái tim còn tình yêu và chánh niệm, ta sẽ gặp lại bến giác bình yên nơi Mẹ trao truyền. Từ giọt mồ hôi nuôi con đến nụ cười hóa sen, bài thơ đưa ta đi qua vô thường để chạm vào đoàn viên: “Di Đà là chốn đoàn viên, thong dong tự tại hai miền sắc không.”
Kính mời quý vị lắng nghe và cảm nhận—để mỗi hơi thở tri ân hôm nay đều trở thành một mùa Vu Lan trong chính tâm mình.


Nhạc phẩm ĐÊM TRĂNG NHỚ MẸ
Thơ: Phe X. Bach - Nhạc: Đức Quảng - Hòa âm: Hưng Việt - Ca sĩ: Nguyễn Duyên Quỳnh.

NHÌN TRĂNG RẰM NHỚ MẸ

Trăng thanh yên tĩnh núi đồi
Nhớ Mẹ nhớ cả mồ hôi của Người
Vu Lan tháng Bảy khóc cười
Mẹ cười con khóc oe oe chào đời
Con khôn lớn vẫn vui tươi
Đến khi Mẹ mất chơi vơi cõi lòng
Mẹ hiền bao cõi tâm trong
Tình thương biển cả mênh mông đất trời
Con đi giữa chốn mù khơi
Mẹ là bến giác suốt đời của con
Mẹ thương! thương Mẹ sắt son
Tình sâu nghĩa nặng chúng con đáp đền
Chúng con có thể bấp bênh
Thương yêu Cha Mẹ vững bền vô biên
Mẹ cười trên đóa hồng liên
Con cười giữa chốn triền miên não phiền.
Di Đà là chốn đoàn viên
Thong dong tự tại hai miền sắc không!

Đây là bài thơ được anh Đức Quảng phổ nhạc lấy tên Đêm Trăng Nhớ Mẹ. Mời quý vị thưởng thức.

Introduction

“Gazing at the Full Moon, Remembering Our Beloved Mother” by Bạch Xuân Phẻ is a gāthā of filial piety written in the spirit of Vu Lan (Ullambana). From the serene full moon, the author turns the light inward on the journey of birth–growing–parting: the newborn’s first cry, a Mother’s beads of sweat, and the drifting emptiness when Mother passes beyond. Mother appears as an awakened harbor amid the “open, misty sea,” a boundless source of compassion “as vast as the ocean.” The poem weaves together the teachings of impermanence, compassion, form and emptiness, and Pure Land faith: “Amitābha is the place of reunion,” from which the child vows to repay that debt through a mindful life. The refrain of smiling—“Mother smiles upon a lotus blossom / I smile amid the ceaseless afflictions”—opens a path of transforming suffering, affirming that happiness—and Mother—are still here in every grateful breath.

In the gentle full-moon light of the Vu Lan season, we invite you to return to the tender call of filial piety. “Gazing at the Full Moon, Remembering Our beloved Mother”—a poem by Bạch Xuân Phẻ—is a stick of heart-incense offered to Mother: reminding us that amid the tempests of the world, as long as the heart still holds love and mindfulness, we will find again the peaceful shore of awakening that Mother entrusted to us. From the sweat that raised a child to the smile that becomes a lotus, the poem leads us through impermanence to touch reunion: “Amitābha is the place of reunion, at ease and free across the two realms of form and emptiness.”
We respectfully invite you to listen and feel—so that every grateful breath today may become a Vu Lan season within your own heart.


Gazing at the Full Moon, Remembering Our Beloved Mother

The moon is pure and serene over hills and mountains.
I remember Mother—remember even her sweat.
Vu Lan in the seventh month, tears and laughter:
Mother smiled as I cried “wah-wah” into life.

I grew up, still full of cheer,
until Mother passed—my heart adrift.
Gentle Mother, how pure the realms of your heart,
your love as boundless as ocean, as vast as earth and sky.

I walk amid a mist-veiled open sea;
Mother is the harbor of awakening for all my life.
Beloved Mother! My love for you is steadfast;
Such deep affection and heavy debt—we children vow to repay.

We children may be unsteady,
yet our love for Father and Mother is steadfast and without bounds.
Mother smiles upon a lotus blossom;
I smile amid the ceaseless realm of afflictions.

Amitābha is the place of reunion,
at ease and free across the two realms of form and emptiness!

Phe Bach


This poem was set to music by Đức Quảng under the title “Moonlit Night—Remembering Mother.” Please enjoy.

Wednesday, January 29, 2025

Khai bút đầu năm!

Art by Uyên Nguyên

Khai bút đầu năm! 

        Mừng Xuân Ất Tỵ


Xuân đến, chẳng cúc vàng, pháo đỏ,

Lại vắng tiếng cười của trẻ thơ

Cùng Ba lặng lẽ nhìn mây trắng 

Gió lạnh, đông qua tự thuở nào.


Khói nhang quyện lẫn lời kinh kệ

Tay chắp hướng về nơi cố hương

Bình an chẳng phải lời cầu khấn,

Chỉ thấy trầm tư cõi đi về.


Trà đó

Rượu đây

Không ai cạn

Sương lấp lánh đầy nỗi quạnh hiu

Giật mình tỉnh mộng dài sinh tử

Một thoáng Tết xưa đã trọn đầy


Xuân đó xuân đây vẫn mặn nồng

Xuân là nguồn cội, cõi chân không

Tiếng chuông thức tỉnh, sầu tan biến

Một cõi không hai (bất nhị) ở trong lòng.


Bạch Xuân Phẻ

Sacramento, giờ giao thừa

1/28/2025

Saturday, December 16, 2023

Nhật Hiên: Tiến sĩ Bạch Xuân Phẻ –Thực hành Chánh Niệm như một lối sống và mang Chánh Niệm vào học đường tại Hoa Kỳ

 Nhật Hiên: Tiến sĩ Bạch Xuân Phẻ –Thực hành Chánh Niệm như một lối sống và mang Chánh Niệm vào học đường tại Hoa Kỳ

Tiến sĩ Bạch Xuân Phẻ

Tiến sĩ Bạch Xuân Phẻ (Bạch X. Khỏe) định cư ở Hoa Kỳ từ năm 1991, hiện đang giảng dạy Hóa học và Hóa học danh dự cho Trường trung học Mira Loma tại thủ phủ Sacramento, CA.  Ông quy y với Thiền sư Trừng Quang Thích Nhất Hạnh, có Pháp danh là Tâm Thường Định. Ông đã và đang giảng dạy về Lãnh đạo chánh niệm và phương thức mang chánh niệm vào học đường ở bang California từ năm 2014. Tiến sỹ Bạch cũng giảng dạy cho chương trình huấn luyện giáo viên. Ngoài ra, ông còn tham gia nhiều công việc xã hội trong cộng đồng. Tháng Ba 2023, TS Bạch Xuân Phẻ được Hiệp hội Giáo viên California (California Teachers Association) vinh danh vì những đóng góp giáo dục thực hành chánh niệm của ông. TS Bạch Xuân Phẻ cũng được trao Giải thưởng Nhân quyền người Mỹ gốc Á Thái Bình Dương năm 2023 của bang California (CTA Human Right Awards). 


***


*Thưa Tiến sĩ Bạch Xuân Phẻ, được biết, tháng Ba 2023, ông được Hiệp hội Giáo viên California (California Teachers Association) vinh danh vì những đóng góp giáo dục đưa thực hành chánh niệm vào trường học. Ông có thể kể rõ hơn về điều này?


Dạ, nhận chân được chánh niệm tỉnh thức (mindfulness) đã giúp tôi và những ai có nhân duyên tiếp cận và thực hành chánh niệm tỉnh thức trong nhiều vấn đề mà chúng ta đang đối mặt như căng thẳng, trầm cảm, tình trạng bạo lực học đường, tự kỷ, bế tắc giao tiếp, mất phương hướng, quá nhiều trò chơi điện tử v.v… ; nên sau khi học chương trình tiến sĩ giáo dục và nghiên cứu về lãnh đạo chánh niệm và chánh niệm tỉnh giác, tôi mới ứng dụng với các học sinh của mình trong lớp cũng như huấn luyện rất nhiều giáo viên cách thức mang chánh niệm vào trường học từ năm 2014. Có khoảng 5,000 giáo viên và học sinh đã tham dự các khoá hội thảo và lớp học của tôi chia sẻ trong Hiệp Hội Giáo Chức ở bang California và nhiều nơi khác. Vì thế, Hiệp hội Giáo viên California (California Teachers Association) vinh danh chúng tôi vào tháng 3 năm 2023.


* Lý do vì sao mà ông quyết định đưa Chánh niệm vào ứng dụng với học sinh?


Năm đầu tiên tôi đi dạy là năm 2002, có một em học sinh tên Chris D., người Mỹ, chết vì tự vẫn. Em chết vì “come out of the closet" khi cho gia đình biết em “là đồng tính luyến ái.” Mẹ của em chấp nhận còn Ba thì không, nên em ấy đã tự treo cổ. Lúc đó, cá nhân tôi rất buồn, có phần tự trách và nghĩ đến việc mình cần phải làm gì thêm nữa để giúp học sinh của mình. Nếu không nhờ thực hành chánh niệm thì tôi đã bỏ dạy rồi. Rất tiếc, từ đó đã có thêm 5 em học sinh trong trường cũng đã tự kết liễu đời mình vì nhiều nguyên nhân khác nhau, và đa phần là dùng súng để tự sát. Trong cộng đồng người Việt của chúng ta cũng vậy, cũng có nhiều trường hợp tương tự, nhưng chúng ta không cầu cứu vì vấn đề sức khỏe tinh thần (mental health) vẫn còn là một “taboo”, một mặc cảm trong cuộc sống và cộng đồng chúng ta. Mong mỏi của tôi và cũng như bao phụ huynh khác là không muốn thêm học sinh hay tuổi trẻ nào lâm vào tình trạng bi thương ấy nữa và tìm mọi cách để phòng ngừa tự vẫn và chuyển hoá nỗi khổ, niềm đau. Chánh niệm giúp chúng ta an ổn trong tâm hồn để từ đó, chúng ta giúp mình giúp người. Mọi thay đổi các cấp cũng vậy, nó bắt nguồn từ bên trong lan ra ngoài, vì bạn không thể cho những gì mình không có.


*Học sinh/giáo viên tiếp nhận như thế nào và có những sự tiến bộ cũng như phản hồi ra sao trước việc này, thưa ông? 


Tôi thiển nghĩ, mọi người tiếp cận tốt. Tôi nhận được rất nhiều phản hồi tích cực từ các giáo viên. Tôi còn nhớ khoảng 7 năm trước, có một giáo viên bảo rằng, học khoá Chánh niệm tỉnh giác đã giúp cô ấy có khả năng dạy thêm 5 năm nữa và 2 năm trước, Cô ấy đã về hưu. Có người nói: “Sau 10 năm giảng dạy, hội thảo dựa trên chánh niệm này đã thay đổi sâu sắc việc giảng dạy của tôi theo chiều hướng tốt hơn”. Hoặc: “Đây là một sự thực hành hữu ích cho mọi người. Đối với giáo viên, thiền định giúp giảm bớt căng thẳng và giúp giáo viên có cách tiếp cận hữu ích hơn với học sinh của mình”. Hoặc: “Sẽ rất hữu ích khi chúng ta nhớ dừng lại và lắng nghe người khác, có lòng từ bi đối với người khác”. Hoặc: “Tôi đã bắt đầu áp dụng chánh niệm vào buổi sáng với các học sinh của mình và dường như nó giúp ích cho bọn trẻ trong suốt cả ngày” v.v…


Còn các em học sinh thì học hỏi rất nhiều và đó là lý do tại sao, lớp này, Science and Art of Mindfulness (Khoa học và Nghệ thuật của Chánh niệm Tỉnh Giác) vẫn tiếp tục được dạy cho các em tại trường trung học Mira Loma. 


Nhiều em cho biết, lớp học đã dạy cho học sinh về suy nghĩ và cảm xúc của chính mình, đồng thời đưa ra gợi ý về cách đối phó với những suy nghĩ và cảm xúc đó. Sinh viên khác thì nói lớp học rất tốt cho học sinh vì đây là thời điểm tốt để học sinh/sinh viên năm cuối dành một giờ để suy nghĩ về bản thân thay vì căng thẳng về yêu cầu tốt nghiệp và/hoặc đại học. Có em tâm sự nhận thấy sự thay đổi trong cách đối xử với bản thân và những người khác kể từ khi bắt đầu. Chánh niệm đã giúp em giải quyết các tình huống theo cách tốt hơn và đưa ra những quyết định thông minh hơn khi buồn bã. Ngay cả khi căng thẳng, em vẫn sử dụng chánh niệm và làm từng việc một và thư giãn, nhờ đó em có một ngày bớt căng thẳng hơn. Em khác cho biết, chánh niệm giúp em giữ bình tĩnh trong mọi tình huống cuộc sống, nhìn vấn đề một cách tích cực hơn là chỉ tiêu cực v.v…


Tiến sĩ Bạch Xuân Phẻ trong giờ dạy Chánh niệm

*Ngoài lớp học, trong cuộc sống ngày thường của mình, ông thực hành Chánh niệm như thế nào? Ai là người Thầy, người dẫn dắt ông đến với Thiền định, Chánh niệm? 


Trước hết, tôi muốn nói một chút về Chánh niệm. Chánh niệm, tiếng Pali là Sammàsati, là sự tỉnh giác, biết rõ mọi thứ đang tức thì diễn ra trong chính mình và chung quanh mình một cách trọn vẹn. Chánh niệm, một trong tám chi phần quan trọng của Bát chánh đạo, vốn được xem là con đường tám lối (lanes) đưa đến sự an vui và giải thoát, là chân lý thứ 4 (Đạo đế) trong Tứ Diệu Đế.


Chánh niệm tỉnh giác là trái tim của thiền tập và sự biết rõ những gì phát sanh, tồn tại và hủy diệt ngay trong mỗi khoảnh khắc của hiện tại. Hay nói một cách khác, chánh niệm là sự nhận thức, biết rõ (tuệ tri) được những gì đang có mặt, đang xảy ra. Chánh niệm đưa chúng ta quay trở lại với giây phút hiện tại. Giây phút hiện tại là điều duy nhất chúng ta có thể nhận biết được sự có mặt rất mong manh của mình – bây giờ và ở đây. Nó như việc đánh răng hằng ngày, nên tôi cố gắng thực tập và hành trì như là một lối sống, trong mọi việc hàng ngày. Chẳng hạn, rửa chén cũng là phương thức thực hành chánh niệm. Lúc rửa chén thì để tâm trọn vẹn vào việc rửa chén chứ không phải làm cho xong. Hay thậm chí chúng ta có thể thực hành chánh niệm khi đi tắm, khi đi đường, lái xe, chờ trả tiền, khi đi shopping…


Tôi học hỏi từ rất nhiều Thầy Cô từ địa phương đến quốc tế, nhưng người có ảnh hưởng lớn nhất—dẫn dắt đến con đường chánh niệm và lan tỏa chánh niệm cho người khác là Thiền Sư Thích Nhất Hạnh. Người đứng thứ 11 trong 14 vị có tầm ảnh hưởng nhất của Phật giáo đến với nhân loại. (Theo cuốn sách The Buddhist World–Thế Giới Phật Giáo được nhà xuất bản Routledge ấn hành năm 2016, do giáo sư Phật học John Powers của trường Đại học Quốc Gia Úc Đại Lợi–Australian National University biên tập.)


*Được biết, ông là một Phật tử và có những hoạt động trong cộng đồng Phật Giáo của người Việt ở hải ngoại? 


Dạ tôi là Huynh trưởng của tổ chức Gia Đình Phật Tử, một tổ chức bất vụ lợi, với mục đích “Đào luyện thanh - thiếu - đồng niên thành Phật tử chân chính. Góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo và dân tộc Việt". Chúng tôi làm việc và học hỏi trong tinh thần Hoà-Tin-Vui và Bi-Trí-Dũng. Ngoài ra, chúng tôi cũng là cư sĩ nên bất cứ công tác Phật sự nào cần sự giúp đỡ thì luôn có gắng đảm nhận khi thuận duyên đưa đẩy. 


*Bên cạnh đó, ông cũng hay dịch thơ Thầy Thích Tuệ Sỹ và đóng góp vào việc hình thành cuốn Kỷ yếu tri ân Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ?


Đúng thể, tôi rất thích thơ của Thầy Tuệ Sỹ. Thơ của Thầy sâu sắc, trừu tượng, có nhiều ẩn dụ, và thông điệp ngầm. Trong đó, có nhiều bài tôi muốn dịch ra tiếng Anh để tuổi trẻ hiểu thêm về một con người tài ba xuất chúng, một bậc Long tượng và có lần chúng tôi đã biên tập và xuất bản cuốn sách mang tên, “Tuệ Sỹ - Vị Thầy của Bốn Chúng”. Cuốn sách đó đã tái xuất bản được 4 lần. 


Về tập Kỷ yếu Tri ân Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, lúc đó được tin Thầy ngã bệnh nặng và có thể ra đi bất cứ lúc nào, vì thế những người thân cận của Thầy tại hải ngoại mới nghĩ đến việc làm một Kỷ yếu Tri ân cấp bách để cho Thầy đọc trước khi người “nhập Niết bàn". Đó là một cố gắng lớn của nhiều người khi kêu gọi viết trong vòng 10 ngày và hoàn tất trong vòng 1 tháng, nhưng đã hoàn tất với sự đóng góp của nhiều cây bút, biên tập viên trong và ngoài nước.


Quý vị nào quan tâm có thể vào trang mạng www.hoangphap.org để đọc toàn bộ file PDF của Kỷ Yếu Tri Ân Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ đã được uploaded.


*Xin ông kể một chút về mối quan hệ của ông với Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ? 


Thuở đầu tôi chỉ là người hâm mộ thơ văn của Thầy và sau đó trở thành học trò của Thầy khi nghe Thầy giảng dạy online và qua các trại huấn luyện Gia Đình Phật Tử nhất là khi học bậc Lực cho trại Vạn Hạnh.  Những năm cuối đời của Thầy thì tôi có được thiện duyện cộng sự với Thầy trong những Phật sự được giao phó. Nhưng chính yếu tôi vẫn là một người học trò muộn màng của Thầy. 


Ở Thầy, tôi học hỏi rất nhiều điều từ tư cách, lãnh đạo bằng thân giáo đến văn thơ, thi phú, nhưng phần lớn là về Phật học cho đến những ngày cuối đời của Thầy trên giường bệnh. Cũng như những vị Tổ đi trước, Thầy luôn dạy “lấy trí tuệ làm sự nghiệp” và căn dặn lấy văn hoá, xã hội, và giáo dục làm nền tảng sinh hoạt. Thầy cũng luôn dặn lấy Bồ Tát Đạo, Bồ Tát Hạnh và Bồ Tát Hành mà hành hoạt. Tôi xin trích một đoạn ngắn tôi viết trong bài “Thầy Tuệ Sỹ – bậc Thạc đức và Nhà giáo dục lớn” nằm trong tập Kỷ Yếu Tri Ân: 


“Trong cuốn sách đầy ảnh hưởng ‘Du Già Bồ Tát Giới’ (2010), Thầy đã nêu rõ tầm nhìn của mình về giáo dục, lấy nền tảng Bồ Tát Hạnh, Bồ Tát Đạo và Bồ Tát Hành làm kim chỉ nam cho một thế giới ngày càng tốt đẹp hơn, an bình và thịnh vượng. Thầy tin rằng, văn hoá và giáo dục không những chuẩn bị cho cá nhân trở thành công dân tích cực, thăng tiến mà còn nuôi dưỡng các giá trị nhân văn, dân chủ, tương đồng, khoan dung và trách nhiệm xã hội. Ý tưởng của Thầy tiếp tục định hình các cuộc thảo luận về vai trò của giáo dục trong việc thúc đẩy tâm từ, hoà bình, các khía cạnh xã hội dân chủ nhân văn.


Nói tóm lại, những đóng góp của Hoà thượng Thích Tuệ Sỹ cho nền giáo dục Phật giáo còn kéo dài hơn cả cuộc đời Thầy qua công trình đồ sộ phiên dịch Đại Tạng Kinh bằng tiếng Việt. Đó là một di sản tâm linh, một di sản giáo dục rất lớn từ trước đến nay của Phật Giáo Việt Nam. Sự hành trì nghiêm mật, sự trải nghiệm và trí tuệ vô biên của Thầy tiếp tục truyền cảm hứng cho hàng đệ tử xuất gia và tại gia, các nhà giáo dục Phật Giáo, cũng như các giới văn nghệ sĩ đến các nhà hoạt động xã hội. Tam giáo (thân, khẩu, ý giáo) của Thầy có thể là định hình cho các hoạt động giáo dục hoặc những người tự cho mình là nhà giáo dục / giáo viên trên toàn thế giới có tầm nhìn chung để nương vào và hành hoạt. Ý tưởng và hoài bão của Thầy đặc biệt phù hợp trong bối cảnh giáo dục ngày nay, trong đó nhấn mạnh đến nhân bản, dân tộc, và sự dấn thân của giới trẻ để tư duy, phê phán và phát triển đạo đức và tâm linh theo đà phát triển kỹ thuật và khoa học của thế kỷ 21 này.”


*Thưa Tiến sĩ, ông có muốn nói gì thêm với quý bạn đọc về việc thực hành Chánh niệm, Thiền định trong đời sống hàng ngày? Đặc biệt là việc thực hành Chánh niệm sẽ giúp ích như thế nào đến vấn đề sức khỏe tâm thần của con người trong một thế giới đầy bất ổn, chia rẽ, thù hận như hiện nay?

Các nhà nghiên cứu đã chứng minh Thiền Chánh niệm là một trong những phương pháp chăm sóc sức khỏe thay thế cho việc giảm bớt căng thẳng, lo lắng, trầm cảm và đồng thời có thể mang lại lợi ích tốt cho sức khỏe thể chất, tinh thần của con người. Nó cũng là phương cách học một lối sống có ý nghĩa và hài hòa với những trải nghiệm tích cực từ trong ra ngoài. 

Nói ngắn lại, chánh niệm là một nếp sống. Sống chánh niệm tỉnh thức giúp chúng ta nhận chân được cuộc đời tương tác tương sinh tương duyên như nó là. Vẻ đẹp của gia đình, cộng đồng và xã hội trong cuộc đời tuỳ thuộc vào suy nghĩ, lời nói và hành động của chúng ta. Hãy tập lắng nghe để hiểu, nhìn sâu để thương, và hành hoạt trong nền tảng lợi mình và lợi người ngay bây giờ và cho cả tương lai. 

Thế giới như chị nói, vốn đã “bất ổn, chia rẽ và đầy thù hận” thì chúng ta hãy sống làm sao để vơi bớt những hận thù, chia rẽ và bất an đó. Hãy cố gắng sống, “sáng cho người thêm niềm vui, chiều giúp đời bớt khổ". Chánh niệm giúp ta thấy mọi sự như là mà không đánh giá, phản ứng tiêu cực, chỉ nhận chân mọi sự việc, cảm thọ để rồi phản hồi một cách tích cực trên nền tảng lợi mình và lợi người, ngay bây giờ và cả tương lai. Chánh niệm cũng giúp chúng ta khai triển lòng từ, đem tâm từ bi hỷ xả đến với người khác. Có chánh niệm, chúng ta suy nghĩ và hành hoạt một cách chín chắn và tốt hơn, sống trọn vẹn với người mình thương, với tất cả mọi người và với cuộc đời quý giá này. 

* Chân thành cảm ơn ông.

Nhật Hiên (thực hiện)

Nguồn: https://www.diendantheky.net/2023/12/nhat-hien-tien-si-bach-xuan-phe-thuc.html