Saturday, July 29, 2017

Tiểu sử HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN TRÌ - THE BIOGRAPHY OF THE MOST VENERABLE THICH THIEN TRI

Lời dẫn: Nhân ngày Giỗ lần thứ 14, để tưởng nhớ công đức sâu dày của Cố Hòa Thượng Thích Thiện Trì (Đệ nhất Trụ trì Chùa Kim Quang - Sacramento California), xin được đăng lại Tiểu sử của Ngài trích trong Kỷ Yếu Tượng Niệm Hoà Thượng Thích Thiện Trì mà Chùa Kim Quang đã làm 14 năm về trước. Thầy Thích Thiện Duyên, đương kim Trụ trì Chùa Kim Quang quyết định lấy ngày Chủ Nhật cuối cùng của Tháng Bảy làm Lễ Tưởng Niệm của Hoà Thượng và GĐPT Kim Quang làm Lễ Tưởng Niệm trước đó một ngày vào cuối thứ Bảy của tháng 7 để tưởng nhớ Hoà thượng Ân Sư.



Tiểu sử HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN TRÌ
(Feb. 19, 1934 to July 31, 2003)


Hòa Thượng Thích Thiện Trì thế danh Nguyễn Duy Hiến, Pháp danh Như Phụng, Pháp tự Thiện Trì, Pháp hiệu Ấn Đạo thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ bốn mươi hai, Ngài sanh ngày 19 tháng 02 năm 1934 tại xã Nhơn Khánh, quận An Nhơn, tỉnh Bình Định.

Ngài xuất thân từ một gia đình thuần túy Phật Giáo, thân phụ của Ngài là cụ ông Nguyễn Hàn, Pháp danh Như Đà. Thân mẫu của Ngài là cụ bà Bùi Thị Thiệp, Pháp danh Như Cảnh. Ngài có tất cả 10 anh em, 5 trai và năm gái. Trong đó có 3 người con trai đã xuất gia đầu Phật, là bản thân Ngài, Thượng Tọa Thích Thiện Hữu, và Đại Đức Thích Viên Mãn.

Nhờ túc duyên thù thắng nên khi vừa tròn 17 tuổi, ý thức được lẽ vô thường sinh diệt và thực trạng khổ đau của cuộc đời, Ngài đã phát tâm thế phát xuất gia để noi theo hạnh xuất trần thượng sĩ. Khởi đầu, Ngài xuất gia với Cố Hòa Thượng thượng Huệ hạ Chiếu trụ trì Tổ Đình Thập Tháp, Bình Định. Sau thời gian tu học tại Tổ Đình Thập Tháp, nhận thấy Ngài là bậc thông minh dĩnh duệ, nên Hòa Thượng bổn sư đã gởi Ngài đến tu học tại Tổ Đình Sơn Long, Tuy Phước. Sau khi Hòa Thượng Bổn Sư viên tịch năm 1965, Ngài cầu pháp y chỉ với Hòa Thượng thượng Kế hạ Châu là sư thúc của Ngài và được ban cho Pháp hiệu Thích Ấn Đạo. Hòa Thượng thọ Đại Giới năm 1968 tại Phật Học Viện Trung Phần Hải Đức, Nha Trang. Sau khi tốt nghiệp ưu hạng chương trình Phật Học Chuyên Khoa Liễu Quán tại Tổ Đình Linh Quang, Huế, năm 1971, Ngài được Giáo Hội bổ nhiệm làm Giảng Sư và Giáo Thọ cho nhiều Phật Học Viện tại các tỉnh miền Trung và miền Nam như Giám Thị và Giáo Thọ Phật Học Viện Trung Phần Hải Đức, Nha Trang; Giáo Thọ Phật Học Ni Trường Diệu Quang, Nha Trang; Giám Học Phật Học Viện Nguyên Hương tại Phan Thiết; Giảng Sư tại Tu Viện Quảng Hương Già Lam Sài Gòn v.v.... Do đạo hạnh khả kính, Ngài được cung thỉnh làm Trụ Trì chùa Kim Quang tại Phan Thiết. Dù Phật sự đa đoan, Hòa Thượng vẫn cố gắng đầu tư thì giờ và tâm lực để phiên dịch và trước tác.
Những kinh điển mà Ngài đã dịch gồm có:
·        Kinh Kim Quang Minh
·        Kinh Dược Sư
·        Kinh A-Di-Đà
·        Kinh Di-Lặc
·        Kinh Bát Đại Nhân Giác
·        Phật Thuyết Phân Biệt Kinh
·        Bát Nhã Tâm Kinh

Ngoài những dịch phẩm trên, Hòa Thượng còn biên soạn nhiều bài nghiên cứu lịch sử Phật Giáo hết sức giá trị. Đã từng là Chủ Nhiệm Tạp Chí Nguồn Sống và còn là một nhà thơ với những bài thơ đầy thiền vị.

Sau thời gian gặp khó khăn dưới chế độ Cộng Sản và vì chí nguyện hoằng pháp lợi sanh, Hòa Thượng đã vượt biển tìm tự do năm 1980 để tiếp tục lý tưởng phụng sự chánh pháp và dân tộc. Suốt thời gian tạm cư tại trại tỵ nạn Galang, Nam Dương, Ngài đã thành lập chùa Kim Quang, chùa Quan Âm và tận lực hướng dẫn đồ chúng tu học và đã trở thành một biểu tượng ngời sáng làm nơi quy hướng của những người con Phật đang bơ vơ lạc lõng tại xứ người. Sau khi định cư tại Hoa Kỳ năm 1981 Hòa Thượng càng nổ lực hơn nữa trong vai trò của một Trưởng Tử Như Lai, tác Như Lai sứ, thừa Như Lai sự. Những chức vụ mà Ngài đã đảm nhiệm theo thời gian là:

·        Hội Trưởng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Sacramento và Trụ Trì Chùa Kim Quang
·        Phó Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam Tại Hoa Kỳ
·        Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Tăng Sự của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam Tại Hoa Kỳ
·        Thành Viên Hội Đồng Đại Diện của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Hoa Kỳ - Văn Phòng II Viện Hóa Đạo
·        Chủ Tịch Hội Đồng Giám Luật Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Hoa Kỳ - Văn Phòng II Viện Hóa Đạo
·        Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Tăng Sự của Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Hoa Kỳ - Văn Phòng II Viện Hóa Đạo đồng thời lãnh đạo tinh thần các Hội và Chùa:
·        Chùa Vạn Hạnh, Rochester, NY.
·        Chùa Từ Hiếu, Buffalo, NY.
·        Chùa Quan Âm, Binghamton, NY.
·        Chùa Phổ Quang, Salt Lake City, UT.

Năm 1985, Hòa Thường cùng với chư tôn Thiền Đức trong Giáo Hội đã tổ chức Đại Giới Đàn Đại Nguyện tại chùa Kim Quang, Sacramento. Hòa Thượng là trưởng ban Kiến Đàn trong Giới Đàn đó.

Ngoài việc xiển dương Chánh Pháp cứu độ quần sanh, Ngài còn sát cánh với Giáo Hội tích cực vận động cho sự tự do, bình đẳng, dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam.

Ngài là bậc Thầy đặc biệt thương yêu, hết lòng quan tâm nâng đỡ, giáo dưỡng và xây dựng tổ chức Màu Lam của Gia Đình Phật Tử Việt Nam.

Cuộc đời của Ngài là một tấm gương ngời sáng, một bài học sống vô giá qua nhiều khía cạnh nhất là thời gian Hòa Thượng thị bệnh để độ chúng. Dù trải qua thời gian dài với bệnh duyên đầy thử thách nhưng Hòa Thượng vẫn giữ được đạo phong tự tại, uy nguy, thanh thoát của mình và chứng tỏ được đạo hạnh khả kính của một bậc Tôn túc giáo phẩm thạc đức. Đây là thời gian mà đại chúng học ở Hòa Thượng những bài Pháp không lời đầy khế cơ, khế lý.

Thuận thế vô thường Hòa Thượng đã an tường xả bỏ báo thân lúc 8 giờ 20 tối ngày 31 tháng 7 năm 2003, nhằm ngày mồng 3 tháng 7 năm Quý Mùi tại thủ phủ Sacramento, California, Hoa Kỳ. Thế thọ 69, Đạo lạp 52, Hạ lạp 36. Dù xác thân tứ đại huyễn hóa của Hòa Thượng không còn nữa nhưng những lời dạy cao quý nhất là những hành hoạt đầy vị tha vô ngã của Ngài đối với Dân Tộc và hình ảnh dấn thân tận tụy hy hiến cho Đạo của Hòa Thượng vẫn còn mãi trong trái tim của hàng triệu người con Phật.

Vô thường thị thường, tịch diệt phi diệt, nhất tâm cầu nguyện giác linh Hòa Thượng thượng phẩm thượng sanh, bất vi bổn thệ, hồi nhập ta bà để Hòan thành hạnh nguyện độ sanh cao cả.

Nam Mô Tự Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Nhị Thế húy thượng Như hạ Phụng, tự Thiện Trì, hiệu Ấn Đạo giác linh Hòa Thượng thùy từ chứng giám.


Chùa Kim Quang - Photo: BXK


THE BIOGRAPHY OF THE MOST VENERABLE 
THICH THIEN TRI

The Most Venerable Thich Thien Tri, named Nguyen Duy Hien, belonged to the Lam Te Chanh Tong lineage of the forty-second generation. He was born on February 19, 1934 in Nhon Khanh commune, An Nhon District, Binh Dinh Province.

He came from a purely Buddhist family. His father was Mr. Nguyen Han and his mother was Mrs. Bui Thi Thiep. He has 10 siblings, 5 brothers and 5 sisters. Of which, there were 3 sons who have dedicated their life as Buddhist monks, Himself, Venerable Thich Thien Huu, and Venerable Thich Vien Man.


When he was just 17 years old, awared of the impermanence of death and the reality of suffering in his life, he began his journey to pursue ‘enlightenment’.  In the beginning, he practiced at Thap Thap Temple in Binh Dinh, and then at Son Long Temple, Tuy Phuoc. After his Venerable Master passed away in 1965, he studied at Hai Duc Buddhist Institute in Nha Trang. He graduated at a Buddhist School in Hue in 1971, after which he was appointed as Dharma Teachers for many Buddhist Schools in the Central and Southern Provinces. He taught widely in the southern part of Vietnam and because of his virtuous conduct, he was also invited to be the abbot of Kim Quang Pagoda in Phan Thiet. Even with his busy schedule, he still invested his time and energy in translating and composing.
He translated quite a few Buddhist texts in his lifetime that included:
-           Kim Quang Minh Sutra
-           Medicine Sutra
-           Amitabha Sutra
-           Maitreya Sutra
-           The Sutra of Eight Awakenings of Great Beings 
-           Prajna Heart Sutra


He was also a writer and a poet.

In 1980, after a difficult time under the Communist regime and for the sake of spreading Buddhism, the Venerable escaped Vietnam as a Boat person, to find freedom and to continue the ideal of serving the Dharma and the nation. During his stay at the Galang Refugee Camp, Indonesia, he founded Kim Quang Temple, Quan Am Pagoda and devoted himself to the cultivation of the monastic discipline and became a symbol of brightness as the direction of the people. After resettling in the United States in 1981, he was the first Abbot of our Kim Quang Temple and he held many great leadership positions. To name a few:

· President of Vietnamese Buddhist Association in Sacramento and Abbot of Kim Quang Pagoda
· Vice President of United Vietnamese Buddhist Association in the United States
· Director of the General Department of Sangha of the Unified  Buddhist Church of Vietnam in the United States.

He also found the following centers:
· Van Hanh Pagoda, Rochester, NY.
· Tu Hieu Temple, Buffalo, NY.
· Quan Âm Temple, Binghamton, NY.
· Pho Quang Pagoda, Salt Lake City, UT.

In addition to promoting the Dharma as the salvation of sentient beings, he stood side by side with the Unified  Buddhist Church and actively advocated for freedom, equality, democracy and human rights in Vietnam.

He was a special teacher in love who was devoted to supporting, educating and building the Blueprint of the Vietnamese Buddhist Youth Association in America.

His life is a shining example and a lesson that is invaluable in many respects. For example, the time the Venerable Master was ill. Despite the long period of challenging conditions, the Venerable Master retained his self-esteem, prestige and serenity, and he demonstrated the respectable virtue of a devout Buddhist monk. This was the time when the students studied in the Venerable Master's teachings which were not full of words, but experience and actions.

Venerable Thich Thien Tri passed away at 8:20 pm on July 31, 2003. He was 70 years old. Although he is no longer illuminated, his most noble teachings are his selfless acts towards the Nation and to leading by example. His devotions still live on in the hearts of many Buddhists who met him.

The lesson of impermanence is real but yet we share our sorrow and pray for his return to this earthly realm to continue his vows of spreading the Dharma.


Translated by Tâm Thường Định

Friday, July 28, 2017

NHÌN TRĂNG RẰM NHỚ MẸ


NHÌN TRĂNG RẰM NHỚ MẸ

Trăng thanh yên tĩnh núi đồi
Nhớ Mẹ nhớ cả mồ hôi của Người
Vu Lan tháng Bảy khóc cười
Mẹ cười con khóc oe oe chào đời
Con khôn lớn vẫn vui tươi
Đến khi Mẹ mất chơi vơi cõi lòng
Mẹ hiền bao cõi tâm trong
Tình thương biển cả mênh mông đất trời
Con đi giữa chốn mù khơi
Mẹ là bến giác suốt đời của con
Mẹ thương! thương Mẹ sắt son
Tình sâu nghĩa nặng chúng con đáp đền
Chúng con có thể bấp bênh
Thương yêu Cha Mẹ vững bền vô biên
Mẹ cười trên đóa hồng liên
Con cười giữa chốn triền miên não phiền.
Di Đà là chốn đoàn viên 
Thong dong tự tại hai miền sắc không!

Wednesday, July 26, 2017

THẦY NGỒI ĐÓ


THẦY NGỒI ĐÓ

Thầy ngồi đó không lời--Vô sự
Bao loài hoa đua nở an lành
Thầy ngồi đó mỉm cười tư lự
Ấn thiền sư--Ánh mắt long lanh. 

Monday, July 24, 2017

MỘT GÓC THƠ NGÔ VĂN QUY – TÂM HỒN CỦA MỘT HUYNH TRƯỞNG LÃNG TỬ

Bìa sách designed by Uyên Nguyên.

MỘT GÓC THƠ NGÔ VĂN QUY –
TÂM HỒN CỦA MỘT HUYNH TRƯỞNG LÃNG TỬ
Em là bóng nguyệt giữa trời đêm
Tr
ải xuống vườn ai ánh lụa mềm
Tánh Không! nh
ư thể em là có
Mà có trăng r
ồi hẳn có em
(Nguy
ệt Ca, Ngô Vân Quy)

Ngô Văn Quy hay Ngô Vân Quy (NVQ), cũng chỉ là một, một con người, một Huynh trưởng, một Phật tử, một nhà thơ, một người Cha, người chồng, người con tầm thường như bao nhiêu con người khác. Khác ở chỗ là con tim của anh thổn thức và rung động theo thời gian hữu hạn và không gian vô cùng. Tâm hồn nghệ sĩ và Phật tánh của anh là nguồn cảm hứng cho thi ca và sinh hoạt với tuổi trẻ, nhất là tổ chức Gia Đình Phật Tử.
Xin mạn phép mở ngoặc nói về anh và GĐPT một chút xíu. Có lần chúng tôi được nghe anh là nhân viên của văn phòng định cư và di trú Los Angeles từ những năm 1975 sau khi vượt biển đến Hoa Kỳ, anh làm việc ở đây cùng với nhạc sỹ Nam Lộc là 2 phụ tá Giám đốc cơ quan nầy cho đến 1995 rời bỏ chức vụ di chuyển về Orange county. Anh cùng với Nguyễn Hoàng Đoan / Khánh Ly làm chủ nhiệm và phụ tá chủ nhiệm tờ báo đầu tiên của tập thể người Việt Nam tỵ nạn HỒN VIỆT và giám đốc chương trình Tivi Việt Nam đầu tiên tại hải ngoại (VNP VIETNAM PROGRAM).  Nhưng thực sự, chúng tôi biết anh là vì tinh thần “nhập thể” của anh nói riêng và của đơn vị GĐPT Long Hoa nói chung. Tinh thần đem đạo vào đời đó cần phải được tuyên dương và nối tiếp. Anh đã thành lập vũ đoàn dân tộc Việt Nam do GĐPT Long Hoa điều hành và cung cấp diễn viên cho các trung tâm băng nhạc thực hiện karaoke như U SING ALONG / LÀNG VĂN, v.v… Anh Ngô Văn Quy, pháp danh, Tâm Nghĩa với huynh trưởng Quảng Pháp cùng những huynh trưởng có tâm huyết đã thực hiện nhiều tuần báo hay nguyệt san Phật giáo trong đó có Hoa Đàm.  Thân tình hơn, thì chúng tôi biết anh từ trại huấn luyện A Dục Lộc Uyển; anh là một huynh trưởng hoạt động thanh niên giỏi. Anh đã làm Liên Đoàn Trưởng cho một trong 5 đơn vị đầu tiên tại Hoa Kỳ, đó là GĐPT Liên Hoa tại Chùa Việt Nam (từ thời Hoà thượng Thích Thiên Ân đến Hoà thượng Thích Mãn Giác). Trong suốt thời gian anh còn sinh hoạt, trại huấn luyện nào, có thể nói, cũng đều có anh tham dự như một thành viên Ban Quản Trại. Ngoài ra, anh góp phần xây dựng và thành lập ba đơn vị: GĐPT Bảo Quang, chùa Bảo Quang, Santa Ana, CA. Đơn vị Chơn Nguyên, Santa Ana, CA và Kỳ Viên, Garden Grove, CA.
Trở lại thi ca, hồn Thơ Ngô Văn Quy đa dạng, lãng mạn, chắt chiu, và đầy thiền tính như những bức tranh, tượng mà anh dành dụm, cắc ca cắc củm mang về trong ngôi nhà xinh xinh của mình, để rồi, thưởng thức và tủng tỉng cười với những gì mình đang có. Đó cũng là nghệ thuật Thiền vậy.
            Viết về Thơ NVQ, không ai nói khéo hơn, chính người bạn thân của anh, Uyên Nguyên. Có lần Uyên Nguyên chia sẻ trong bài viết Thơ Ngô Văn Quy, Cõi Nhất Tâm Trong Mâu Thuẫn Rối Bời rằng, “Ta bước vào thế giới chữ nghĩa của Ngô Văn Quy, người thủy thủ cuối đời phiêu bạc với những từ ngữ đầy phật lý để ngỡ rằng vườn thơ lãng đãng của anh nhuốm mùi thiền vị. Đâu hẳn vậy, bởi bên cạnh những trang kinh, chuông mõ, hậu liêu, hương nến, vẫn bày biện đủ chiếu giường, chăn gối, lưng ong, tay ngà…Có điều rất rõ, khi biết được nghĩa vô thường hư huyễn nhân duyên, Ngô Văn Quy vẫn xốc xáo trong đam mê, cõi mộng, vẫn hết mình vấn vít với áo lụa, tóc huyền, ngực hồng môi thắm… Làm thơ, Ngô Văn Quy như một lữ khách, dù bôn ba tất bật, vẫn hoài mong được dừng chân trên lộ trình tìm về tịnh mặc, vẫn mong ngồi lại bên những quán đời, rũ bỏ mọi tân toan hệ lụy để nhấp chén trà an tại. Cái tâm Ngô Văn Quy đáng quí và thơ anh đẹp ở điểm nầy. Vậy thì nơi đây, chúng tôi chỉ nhắc về vài hình bóng Mẹ trong thơ của anh vậy.

Kể từ ngày, ‘Khâm Liệm Ðời Nhau Tháng Tư Sầu’

Tháng Tư tan vỡ ngồi xây mộ
C
ửa huyệt nào đâu để bước vào
Ti
ền nhân ơi hỡi tôi thất trận
Máu th
ịt còn đây những rã rời.

Ngô Văn Quy đã phiêu bạt phong trần. Trước tháng Tư đó, chắc anh cũng như Thuý Kiều “Phong gấm rủ là” để rồi cũng bao nhiều người Việt khác, anh phải sống với ‘hiện tại phũ phàng’ nhưng thật tế với thân phận đầy éo le nghiệt ngã của những người con lưu vong. Trong lúc than van,
"Khi sao phong gấm rủ là,
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường”

Anh khi lưu bạt đó, trải nghiệm của đời này, anh mới hiểu về Mẹ.
Mẹ ơi, gậm nhấm cuộc đời
Con nay hiểu được cả trời yêu thương
Mẹ cho con cõi thiên đường
Để con ngụp lặn giữa vườn nhân sinh.

Mới hiểu về Ba,
Chiều nay con thắp nén nhang
Tủi thân phận, nhớ vô vàn nhớ Ba
Ba ơi, non nước mất rồi
Con xa ngàn dặm một đời lưu vong.

Và mãi cho đến khi Mẹ khuất bóng, thì anh càng yêu thương Người da diết. Có lần, trong ‘Mộng về một thoáng, Mẹ ơi!’, anh viết hai câu thơ, tôi cho là bất hủ.
 ‘Mẹ về có nói gì đâu
Con ôm m
ặt khóc chia màu tóc sương. ‘Ngô Vân Quy

Thôi thì như nhà thơ Francois Villon, đa tình, đa cảm, tôi tin là NQV không hỏi “Cho tôi hay đâu, ở phương nào? (Dites moy ou, n’en quell pays?)” vì anh đã biết bến bờ nào anh đến, đó là bến Mẹ tịnh yên…
…nhớ sông nhớ nước quê nhà
ngày xưa xa quá quan hà bên kia
Mẹ đi, Ba bỏ đời chia
con đây ng
ồi với mộ bia ai ngờ
đêm nay ra t
ận bến chờ
níu tay áo M
ẹ đến bờ tịnh yên…(Mộng về một thoáng, Mẹ ơi!)

Vậy xin được trân trọng giới thiệu tập thơ, “Thơ Tôi Có Dáng Em Ngồi” của thi sỹ Ngô Văn Quy do Lotus Inc tái xuất bản.

Sacramento, một ngày thật nóng.
Bạch X. Phẻ

Đính kèm. 

Kính mời tham dự “ĐÊM HẠNH NGỘ TÌNH LAM - Tâm tình và Thơ ca Phật Giáo” tại Miền Bắc California

Xin mời tham dự Đêm Hạnh Ngộ có Htr. Ngô Văn Quy tham dự ở Bắc California dưới đây.

ĐÊM HẠNH NGỘ TÌNH LAM - Tâm tình và Thơ ca Phật Giáo

tại Chùa Phổ Từ, Hayward, CA
địa chỉ: 17327 Meekland Ave, Hayward, CA 94541 
ngày Thứ Bảy 29.7.2017, từ 17:00 giờ đến 21:00 giờ.
Chương trình do Thân hữu Áo Lam tổ chức.

Chương trình buổi sinh họat vào Thứ Bảy, 29 tháng 7 năm 2017, dự định từ 4 giờ chiều cho đến 9 giờ tối, như sau:
- 4 giờ chiều Thân hữu, Huynh trưởng GĐPT họp mặt 
- 5 giờ Dùng cơm chiều thân mật.
- 6 giờ 30 đến 9 giờ tối Buổi Sinh họat "Tâm tình và Thơ ca Phật giáo".

Mọi chi tiết, hãy liên lạc: 
Tâm Thường Định: (916) 607-4066
Quảng Ý - Huỳnh Vĩnh Linh: (510) 390-2410
Thị Nghĩa - Trần Trung Đạo: (781) 424-6811
Uyên Nguyên - Quảng Pháp: (714) 765-9844

Đọc lời giới thiệu về thơ Ngô Văn Quy ở đây.

1. Uyên Nguyên – Thơ Ngô Vân Quy, Phù Sa Lớp Lớp Khai Bồi


2. Đọc thơ Trần Trung Đạo ở đây.

4. Đọc lời giới thiệu thơ Tâm Thường Định ở đây.

Bạch Xuân Phẻ, Người Thơ Dưới Bóng Thiền