Showing posts with label Vietnam. Show all posts
Showing posts with label Vietnam. Show all posts

Friday, July 6, 2018

VỀ VỚI HUẾ - HUẾ ĐÂU PHẢI CỦA RIÊNG AI!

Khách sạn Mường Thanh Huế - ảnh Internet

VỀ VỚI HUẾ - HUẾ ĐÂU PHẢI CỦA RIÊNG AI!

Em đã về thăm xứ Huế mộng mơ
Xứ cổ tích, thần tiên, và huyền thoại 
Tà áo tím và nón nghiêng mời gọi
Cầu Trường Tiền thổn thức mấy nhịp tim

Đây sông Hương ta thương hoài đất Mẹ
Mưa đang nhòa giọt nước mắt phu thê
Năm tháng tha hương cầu thực xa quê
Nay về lại, ôi quê hương, đã khác

Mường Thanh* đó nhưng trẻ thơ tản mác
Bán dạo nuôi gia, xa Huế nuôi mình
Chính-khí còn đâu? sông núi Ngự Bình
Mặn ngọt đắng cay, ôm quê mà sống!

Huế ngàn đời đang rả rời cơn mộng
Như hoa Mưng** rơi rụng khắp mặt hồ
Trượng phu Huế bây chừ anh ở mô?
Mà chỉ thấy Trung Hoa và Triều khách 

Anh hiểu đó Đạo làm người huyết mạch
Của Tổ Tông và ngàn kiếp Việt Nam
Hãy khoác lên nhân bản và chất lam
Xây dựng lại ngôi nhà thiêng dân tộc!

Bạch Xuân Phẻ

Khánh sạn Romance, Huế 2016.

* Khách sạn Mường Thanh

Friday, June 29, 2018

LỜI CẦU NGUYỆN TỰ DO DÂN CHỦ CHO VIỆT NAM VÀ AN LẠC THÁI BÌNH CHO THẾ GIỚI



LỜI CẦU NGUYỆN TỰ DO DÂN CHỦ CHO VIỆT NAM 
VÀ AN LẠC THÁI BÌNH CHO THẾ GIỚI

Nam mô Đại từ đại bi tầm thinh cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ tát ma ha tát tát đại chứng minh.
- Ngưỡng lạy thập phương chư Phật, chư đại Bồ tát, chư Hiền thánh tăng từ bi chứng giám,

- Ngưỡng vọng hồn thiêng sông núi,
- Ngưỡng vọng anh linh chư vị khai quốc công thần, tiền bối hữu công, hữu danh vô danh, đã hy hiến cuộc đời và sinh mạng cho công cuộc dựng nước, giữ nước, cho giang sơn bền vững bốn nghìn năm văn hiến của dòng giống Hồng Lạc. 
Hôm nay, chúng con qui tụ nơi đây, với nhiều thế hệ già, trẻ, và nhiều thành phần khác biệt trong xã hội quê người nhưng đều cùng cảm nghe được tiếng vọng thống thiết của quê hương, cùng chia sẻ nỗi đau nhục của toàn dân mà lên tiếng cáo tri tình huống nguy ngập, nghiêng ngã của cơ đồ xã tắc. Nước Việt Nam ta trải hơn bốn nghìn năm, tiên tổ cha ông nối tiếp nhau đã không ngại hi sinh để mở mang và giữ gìn từng tấc đất. Thế mà, ngày nay lại có những kẻ vô ân, khiếp nhược, biến giang sơn thành mồi ngon cho những tham vọng ngông cuồng. Người trong nước muốn nói thì không thể nói được, người có thể nói thì phải sống đời ly hương, mất đất, mất biển, lòng không khỏi đau như cơ thể bị cắt đi từng phần máu thịt, nghẹn đắng, lệ trào, nuốt cay, cảm thương cho dân tình và đất nước khổ ải tang thương. Vì vậy, với lòng thành kính hướng vọng về một quê hương chúng con xin thành kính nguyện cầu.
- Nguyện cầu cho những kẻ tham tàn bạo ngược, sẽ hối cải quay đầu hợp sức cùng toàn dân để bảo vệ bờ cõi thiêng liêng của tiền nhân dày công để lại. 
- Nguyện cầu cho toàn dân Việt Nam sẽ không còn sợ hãi nữa, tất cả cùng đứng dậy cho một tương lai tươi sáng của dân tộc.
- Nguyện cầu tự do dân chủ sớm được thực thi trên đất nước triền miên thống khổ này và nguyện cầu hòa bình an lạc sẽ trở về trên quê hương Việt nam để con cháu Lạc Hồng có thể cùng nhân loại sánh vai chung hưởng giấc mơ thịnh trị thái bình.
Trong giây phút lắng đọng trang nghiêm này, với tâm thái bình an, tỉnh thức và lòng thương yêu mở rộng, xin thắp sáng những ngọn nến để cầu nguyện cho toàn thế giới chung hòa nhịp sống thanh bình an lạc, người người thương yêu nhau, buông bỏ tất cả những thành kiến và sự dị biệt màu da, sắc tộc, tôn giáo, ý thức hệ…vv… để có thể nhìn nhau như anh em trong đại gia đình trái đất.
Nam mô Tiêu tai giáng cát tường Bồ tát ma ha tát tác đại chứng minh.
---
HT Thích Nguyên Siêu 
Tổng Thư ký Hội đồng Điều hành GHPGVNTN Hoa Kỳ 
---
Ảnh: Nghiêm Đăng
Lời cầu nguyện được đánh máy từ video của anh TrungKien Phan


Monday, September 25, 2017

THE VIETNAM WAR: MISREPRESENTATION & FALSE PRETENSES

Với tác giả Lưu Nguyễn Đạt và bàn tay Hy vọng của Ông tại vườn sau nhà của nghệ nhân đa tài.
THE VIETNAM WAR: 
MISREPRESENTATION & FALSE PRETENSES

MISREPRESENTATION
An assertion or manifestation by words or conduct that is not in accord with the facts. Misrepresentation is a tort, or a civil wrong.
A misrepresentation is an untrue statement of fact that induces a party to enter a contract. Furthermore, to pursue a claim against the person who made the misrepresentation, the claimant must show that he or she relied on the untrue statement of fact when deciding to enter the contract and that the misrepresentation led to damages to the claimant.       

FALSE PRETENSES
False pretenses are obtained by a false representation of a material past or existing fact which the person making the representation knows is false made for the purpose of causing and which does cause the victim to pass title to his property.

Case Study 1: Miss Saigon, 
a musical by Claude-Michel Schönberg and Alain Boublil, with lyrics by Boublil and Richard Maltby, Jr. It is based on Giacomo Puccini’s opera.
1.The setting of the plot is relocated to 1970s Saigon community during the “Vietnam War” [sic], and the epic love story is represented by a romance between an American GI and a Vietnamese bargirl/prostitute.
2.The fact of naming a bargirl/prostitute under a common appellation of Miss Saigon [title given to all female citizens of the former Capital of South Vietnam] shall be considered  a misrepresentation or untrue statement of fact that induces viewers and ordinary people to expect encounter any female citizen of Saigon, past & present, be bargirl/prostitute.
3. The misrepresentation is negligent if made by careless ignorance; fraudulent, if the misreprentation occurs when a contracting party [musical author/Official Broadway site] knowingly makes an untrue statement to attract clientele among former GIs, American Vietnamese/Asian communities, and any other interested parties.
4. The fraudulent or negligent misrepresentation of Miss Saigon [a bargirl/prostitute] may be considered a libel: broadcasting through a show opera an untruth about Miss Saigon-in-general, doing harm to all female citizens of Saigon, the former Capital of South Vietnam … The fraudulent or negligent misrepresentation of Miss Saigon [a bargirl/prostitute] may be considered defamatory if it tends so to harm the reputation of Miss Saigon-in-general, as to lower her in the estimation of the global community or to deter third persons from associating with her.
5. Figuring Miss Saigon [a bargirl/prostitute] and the Engineer [as an intellectual pimp] as sole characters representating the Vietnamese culture during the “Vietnam War” [sic] is a derogatory, insulting defamation.  Under the same misrepresentation & false pretenses, the communist regime of Hanoi once called the Vietnamese refugees “American whores & pimps” to arrogate Saigon & usurp its citizens’ properties.

Case Study 2: THE VIETNAM WAR, a film by Ken Burns & Lynn Novick
PART 1 [Sunday, Sep 17, 2017] on WETA & PBS banked on Nguyễn Ai Quốc with more time on the screen, compared to other historical/political figures [French, Vietnamese, American]. He should be awarded best “Actor” of the episode.
Nguyễn Ái Quốc/Quắc [with translation, The Patriot] was magnified as a historical rising star & singled out as the predominant Vietnamese hero & sole patriot against the French colonialism in Vietnam which lasted more than eight decades; and ready to be considered a respectful combatant and a valuable contender of the Americanized war in Vietnam. Is it a predetermined justification for Potus Nixon to say “No More Vietnams” and for the Americans to retreat in “peace and honor”, without losing face?  The show featured a concordance pattern to equalize good enemies and good losers — all braves.
With this “celebration” in mind, the film makers deliberately left out:
1. So many generations and factions of Vietnamese revolutionaries & combatants against the French Colonial Regime;
 
2. The participation of other Vietnamese political factions joining the political entity Việt Nam Độc lập Đồng Minh Hội [also known as Việt Minh] which was conceived primordially as a Vietnamese Alliance for Independence, later usurped by the Vietnamese Communist faction.
3. The fact that Nguyễn Ái Quốc was not only a Soviet Komintern agent, but also had multiple assumed names/aliases, the last one Ho Chi Minh, documented recently by a taiwanese scholar as a Chinese officer known as Hồ Tập Chương of Hakka origin. Are these mystifications political lies and usurpations?  But the multiple political backgrounds of Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh sufficiently reveal his affiliation with and devotion to  the Soviet Komintern (Communist International), The Soviet Union (USSR) & the Chinese Communist Party (CCP), more than his “own?” country.
4. The fact that the French intended to set up a pitched battle to draw out the Vietminh forces and destroy them at Dien Bien Phu.  However the fiasco of this piece battle in May 1954 was due to [a] the decision of The United States to avoid overt direct intervention, contrary to the Mutual Defense Assistance Act [President Dwight D. Eisenhower indeed stated, “Nobody is more opposed to intervention than I am”], while [b] the Viet Minh, with massed troops and heavy artillery on surrounding positions, received considerable aide, training and leadership from China.
The introductory notions from Part 1 of the film are provided to shape up the architecture of the so called VIETNAM WAR in different facets, with provided  formulation to end it in “peace & honor” for America. 
The following episods are almost replica of the SAME & PREFAB PATTERN of the conduct of war:
1. Only two-sided battlefields between [a] US Armed Forces VS Vietnamese People’s Army (VPA), also known as North Vietnamese Communist regular forces & its satellite NLF/VietCong; while [b] The Army of the Republic of Vietnam (ARVN) also known as the South Vietnamese Army (SVA), was almost eclipsed or shown as scapegoat for military fiasco in the “Americanized War” in Vietnam [See Nixon’ s “No More Vietnams” & Its “Vietnamization”].
2. Opposed to full-motion, the war happening scenes are shaped with a constant “cinematic” cutscene pattern of [a] well organized & motivated war conduct by the North Vietnamese VPA & NLF/VietCong versus [b] inaccurate tactics & strategies of the US Armed forces, with [c] incompetent military intelligence, and [d] unfit alliance from South Vietnam regime & its ARVN.
3. Constant reminiscence of “Vietnam Syndrome” perspectives & false justification by selective or convenient American film archive & Hanoi propaganda “color” film footage.
THE VIETNAM WAR, a film by Ken Burns & Lynn Novick is fundamentally unreliable, unhistorical, and biased. A super media misrepresentation.
We do respect the needs for America Internal Reconciliation, but we continue to claim for the rehabilitation of the Real History vis-à-vis Vietnam as a nation & its people [both sides/both sights] victimized & cheated by the Cold War/The Containment Doctrine [ending deus ex machina with the “Fall of Saigon”]. Berman: “No Peace no Honor: Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam”.
Containment is a geopolitical strategy to stop the expansion of an enemy. It is best known as a Cold War foreign policy of the United States and its allies to prevent the spread of communism. As a component of the Cold War, this policy was a response to a series of moves by the Soviet Union to increase communist influence in Eastern Europe, China, Korea, Africa, and Vietnam. Containment represented a middle-ground position between detente and rollback. [Wikipedia]
Indeed, THE VIETNAM WAR [sic] was not a “war of the people, by the people, and (especially) for the people” of Vietnam.  Vietnam during the Cold War and the Containment Doctrine era was only a geopolitical detour (or a “monkey bridge” of temporary use] to America, China, and Russia coexistence conspiracy: the so-called “Paris Peace Accords”, 1973 was made in China, for the interests/short term benefits of the USA and for the international supremacy classification — USA number One.  China number 2, etc.
THE VIETNAM WAR, by itself is conducted under false pretenses of generating & defending democracy in Vietnam.  Instead, it was “implanted” in Vietnam by the geopolitical strategy of “containment”  for the pursuit of the Cold War and the rise of Super Powers towards world supremacy.  Vietnam & its people are only the geopolitical steppingstones of this War of deception. 
By the fact, the side effects of the false & pretended “VIETNAM WAR” present three aftermatch realities — of real (clear) politics:
1. Reeducation [detention/forced labor] camps & reversed “empty/illiberal” democracy in [liberated, independent, but sinicized] Vietnam;
2. Folkloric & cinematic “Vietnam syndrome” in the USA;
3. And a super Frankenstein’s monster “made in China” with fake capitalist & neo-imperialist ambitions, competing in world terror by aggression & counterfeit.
The cinematic & historic VIETNAM WAR duly pay respect to Sir Winston Churchill for saying: “We have no permanent friends and we have no permanent enemies; but we have permanent interests.” 
Anything else is conflict justification towards conflict stabilization with more than five million war deaths and casualties among North & South Vietnamese soldiers, civilians, detainees, boat people, refugees; and 58,000 Americans killed.

Luu Nguyen Dat, PhD, LLB/JD, LMM
Michigan State University

Phần giới thiệu Chiến Tuyến Việt Nam, Từ Chủ Nghĩa Be-Bờ của Hoa Kỳ...

Đêm 12 tháng 9, 2017 tại Kennedy Center, Washington, DC có  buổi trình chiếu tóm tắt phim [Screening of clipsTHE VIETNAM WAR, do hai nhà làm phim Ken Burns và Lynn Novick bỏ ra [mười năm!?] thu thập tài liệu để thực hiện cuốn phim 10 đoạn [18 tiếng] này.
Phim đã được trình chiếu kể từ ngày 17 tháng 9 năm 2017 trên Đài Truyền Hình WETA TV 26 & PBS của Hoa Kỳ, lúc 8 giờ tối miền Đông Hoa Kỳ. 
Ngay trong phần trình chiếu mở đầu và những đoạn kế tiếp, hầu như người làm phim tài liệu THE VIETNAM WAR [sic] chỉ nhằm vào vài điểm “tiền chế” để hướng dẫn khán giả chấp nhận một thành kiến sai lầm nhiều thiếu sót, với cố định xoá nhoà lịch sử:
  1. Cái gọi là THE VIETNAM WAR được dẫn giải như sự tiếp nối của cuộc chiền chống Thực Dân Pháp, với cái công to lớn, độc nhất vô nhị của kép độc muôn mặt Nguyễn Ái Quốc/Quắc/Hồ Chí Minh, mà cố tình bỏ sót các nhà cách mạng và các đoàn thể, đảng phái chính trị Việt Nam khác cũng một lòng yêu nước, chống đô hộ Pháp. Chứng cớ khi nhắc tới tổ chức chống Pháp dưới danh xưng Việt Nam Độc lập Đồng Minh Hội [gọi tắt là Việt Minh, trong đó có nhiều “đồng minh” quốc gia Việt Nam] cuốn phim tài liệu một chiều chỉ coi đó là sản phẩm duy nhất của nhóm đảng cộng sản, dưới quyền lãnh đạo của Nguyễn Ái Quốc, vốn là cán bộ Nga sô tại mặt trận Đông Dương.
  2. Ngay cả trận cận chiến [pitched battle] tại lòng chảo Điện Biên Phủ, mà Quân Đội Viễn Chinh Pháp muốn gài bẫy dụ bộ đội Cộng Sản Việt Minh lộ diện để tiêu diệt, đã bị trở cờ thành thất bại. Cuốn phim không hề viện dẫn hai lý do chính – [a] Hoa Kỳ và Anh quốc quyết định bỏ “đồng minh” Pháp vào giờ phút chót nên không cung cấp phi vụ rải bom cần thiết và cũng từ chối trực tiếp tham gia cuộc chiến quyết liệt này như đã cam kết, trong khi [b] Trung Cộng tăng cường tiếp viện nhu liệu, vũ khí nặng và cử tướng Vi Quốc Thanh đôn đốc chỉ huy mặt trận. Trong màn ảnh chỉ nhắc tới công lao vĩ đại của Tướng Võ Nguyên Giáp, độc diễn thắng trận.
  3. Hình ảnh chắp nối các cuộc giao tranh tại Miền Nam từ 1963 cũng đưa ra những thành công lớp lang, quy mô, đánh kính, đáng hãi của quân đội chính quy Bắc Việt và lực lượng “Giải Phóng Miền Nam”, gọi chung là Việt Cộng, trong khi Quân Đội Hoa Kỳ thường thất bại vì đơn độc tác chiến, lúng túng ngô nhận chiến trường xa lạ, với hệ thống tình báo yếu kém, thất thường.
  4. Bên cạnh chênh lệch là chính thể Việt Nam Cộng Hoà và quân đội quốc gia đều bị cuốn phim xao nhãng, hay chớp nhoáng tung hình ở mức độ kém cỏi, thác loạn, cốt để “tiền định” sự thất bại chẳng đặng đừng của cái gọi là THE VIETNAM WAR.
  5. Tất cả cuốn phim điển hình trên hoàn toàn dùng những tài liệu cắt xén từ kho tài liệu giải mật quân sự Hoa Kỳ, chắp nối với những đoạn hình ảnh [ma-dze in (North) Vietnam] sẵn sàng bắc loa tuyên truyền, tô màu đánh bóng chế độ CSVN và quân lực liên hệ, với mục đích chính là chứng minh CSVN đáng thắng và Quân Đội Hoa Kỳ tương xứng đương đầu với địch tài giỏi, để xứng đáng bỏ cuộc, xứng đáng hoà hoãn trong danh dự. No More Vietnams. Peace & Honor.
Có thể nhận xét một cách tổng quát, công trình 10 năm thu thập tài liệu đúc kết thành cuốn phim trên không gì đặc biệt, không khác mấy những tài liệu đã từng chiếu trên màn ảnh nhỏ thập niên 60/70 tại Hoa kỳ làm thối chi các gia đình có con em tham chiến tại Việt Nam lúc đó.  Chỉ khác là bộ phim được uốn nắn, với vài phần nhận định cập nhật để làm vui lòng, hoà giải công chúng Hoa Kỳ, đã từng bị chia rẽ bởi cuộc chiến tại Việt Nam.
Đáng lẽ bộ phim này nên mang tên là POST VIETNAM SYNDROME thì đúng hơn, vì người làm phim và cơ sở tài trợ [Bank of America] không hề đặt trọng tâm vào mục tiêu chấn hưng lịch sử của cái gọi là THE VIETNAM WAR, mà chỉ muốn thực hiện một công trình dân vận tâm lý chiến [Civic Psycho War], mong hoà giải công luận Hoa Kỳ khỏi căn bệnh tâm lý Vietnam Syndrome còn day dứt từ thế kỷ trước. 
Bank of America proudly sponsors THE VIETNAM WAR, fostering dialogue through different perspectives, in conversations, turning moments that could divide us into opportunities, to unite us…it’s just one way we are enabling social and economic progress to help build strong local communities.
Trong những buổi trình chiếu phim trên, đa số khán giả Mỹ chính gốc đều hể hả, thoả mãn. Còn số nhỏ khán giả người Mỹ gốc Việt đều âm thầm, lạc lõng, vì không thấy “dấu tích” họ và tầm vóc chính thực của “Chiến Tranh Việt Nam” trong đó.
Quả thật, bộ phim THE VIETNAM WAR này không danh chính ngôn thuận, vừa mạo danh cuộc chiến, vừa phiến diện, thiếu sót [biased/incompleted], không đủ tầm vóc giải thích căn nguyên cuộc chiến, xuất xứ từ những tranh chấp ý thức hệ quốc tế giữa Tây Phương/Hoa Kỳ và khối cộng sản Nga Hoa, và “được viễn kiểm” bởi các chũ thế giao tranh đó.
Mạo danh vì THE VIETNAM WAR không thực sử xuất phát từ nhu cầu và quyền lợi dân tộc Việt Nam, cả Nam lẫn Bắc, nên chỉ đáng gọi là THE VIETNAMESE BATTLEFIELDS [“Những Bãi Chiến Trường Việt”]  hay CHIẾN TUYẾN VIỆT NAM của cuộc tranh chấp quốc tế mà thôi, như The KILLING FIELDS tại Kampuchia vậy.
Hơn một triệu binh sĩ Việt tử nạn cả Nam lẫn Bắc, hơn hai triệu dân Việt chết oan trong cuộc chiến viễn kiểm, với hậu cảnh ba/bốn triệu dân, cán, chính Việt, người tù đày “cải tạo”, kẻ bỏ mạng trên rừng, ngoài biển, kẻ vất vưởng nơi đất khách quê người, tất cả là những nạn nhân “âm thầm” của cuộc giao tranh quốc tế, mà bộ phim THE VIETNAM WAR chỉ lướt qua như những kép phụ, những vai vế hậu cảnh [figurants] chớp nhoáng tạm bợ, những vai diễn nhất thời trong một vở tuồng quốc tế, mà cốt truyện và chương trình diễn xuất đều ở ngoài tầm hiểu biết và khả năng quyết định “xuất hiện” của họ.
The Vietnam Syndrome, in US politics, is a non-medical conservative term referring to public aversion to American overseas military involvements, following the domestic controversy over the Vietnam War, which ended in 1975. Since the early 1980s, the combination of a public opinion apparently biased against war, a less interventionist US foreign policy, and a relative absence of American wars and military “Vietnam paralysis” are all the perceived results of the syndrome.[Wikipedia]
Chính quyền Nixon năm 1969 đã xuất thần phát sinh một từ ngữ “xiêu” chiến lược vừa thực tế, vừa phũ phàng mỉa mai: “The Vietnamization Strategy” để minh thị trao cuộc chiến quốc tế/Hoa Kỳ/ cho đồng minh Việt, vốn là toán đá phụ từng bị “treo giò”.
President Nixon announced his Vietnamization strategy to the American people in a nationally televised speech on November 3, 1969. He emphasized how his approach contrasted with the “Americanization” of the war that had taken place under his predecessor, President Lyndon B. Johnson… In the previous administration, we Americanized the war in Vietnam…”
Mỉa mai vì các “đồng minh” phụ [cả Nam lẫn Bắc] và toàn dân Việt chỉ là những tác viên dư thừa đã vụng về đón quan khách Tây/Mỹ/Nga/Hoa tới đấu đá, tiện việc “ăn ốc” Cửu Long/Hồng Hà, rồi cả nhà “Hậu Đại Việt” tranh nhau “đổ vỏ ốc” cho đại khách quốc tế.  Đôi khi các kép phụ còn say sưa hơn các kép độc dòng chính thống, dù tư bản hay cộng sản.
Trên đây chỉ là phần bình luận có chứng cứ về một bộ phìm tầm thường, không đáng bỏ thì giờ xem và “học hỏi” qua 10 đoạn [18 tiếng] tài liệu phù phiếm, có chủ đích chữa chạy, có thành kiến ăn có.
Với tầm nhìn chân thực, toàn diện của những người trong cuộc, của những ai từng là nạn nhân và nhân chứng cuộc giao tranh quốc tế trên mảnh đất Việt, thì bộ phim THE VIETNAM WAR là một biểu lộ sai lạcmột phương trình xuyên tạc [false & misleading statement,  a misrepresentation] về một cuộc chiến giả tạo, lừa gạt̀  [deceptive war, under false pretenses] tại Việt Nam. 
Thật vậy, cuộc chiến quốc tế tại chiến tuyến Việt Nam, lấy danh nghĩa giả mạo là xây dựng và bảo vệ Dân Chủ Tự Do cho Miền Nam Việt Nam, nhưng thực sự là để [a] giải quyết các tranh chấp nội bộ giữa Hoa Kỳ, Nga, Hoa [b] bằng Chiến lược Be-Bờ [Containment Doctrine], trường kỳ kháng chiến tới độ kiết sức, cuối cùng [c] để xả hơi [detenterồi chia chác quyền lợi và vị thế bá chủ hoàn cầu: nhất Mỹ, nhì Tầu, v.v.
Hậu cảnh của cái gọi là THE VIETNAM WAR là ba trạng thái thực tế đáng ái ngại:
  1. Nhà tù và chế độ độc tài phi nhân, phản dân chủ tại Việt Nam độc lập, nhưng sẵn sàng chấp nhận Tầu đô hộ;
  2. Tại Hoa Kỳ, bề chìm với hiện tượng suy nhược tinh thần tập thể, dưới dạng “Vietnam syndrome” trong khi thực tế tại bề nổi thì Hoa Kỳ đã trở thành Đệ Nhất Siêu Cường Quốc, lâu lâu tái diễn màn xuống đường động viên tự hoà tự thắng;
  3. Và tại Chấu Á thì thời cuộc Toàn-Cầu-Hoá và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế đã tạo ra con Siêu Quỷ [thứ "Frankenstein' s monster"] -- Khủng Long “made in China”, mỗi lúc vùng vẫy tham vọng tân đế quốc, vừa thực dân, vừa xặc mùi xì dầu đồ nhái.
Cuốn phim và cuộc tranh hùng liên quan tới THE VIETNAM WAR đã triệt để noi theo xấm trạng Winston Churchill: “We have no permanent friends and we have no permanent enemies; but we have permanent interests.” [Ta không có bạn vĩnh viễn và không hề có kẻ thù muôn thuở; mà chỉ có quyền lợi hằng cửu].
Riêng về quyền lợi hằng cửu Hoa Kỳ và quyền lợi vĩnh viễn các đối tác Nga Hoa, thì THE VIETNAM WAR đã đóng góp hơn 5 triệu tử vong người Việt Nam, cả Quốc gia lẫn Cộng Sản; cả dân oan bom đạn, khủng bố, bóc lột; cả tù đày trong nước, xuất cảnh lao động; cả mất tích trong rừng, ngoài biển, cả mất mạng tại hải ngoại; chưa kể 58 ngàn binh sĩ Hoa Kỳ, đa số vừa mãn trung học, còn ngơ ngác xa lạ với cảnh quân dịch thời chiến.
Vậy người trong cuộc, có liên hệ trực tiếp hay gian tiếp với cuộc chiến đó tại Việt Nam nên sáng suốt tìm hiểu căn nguyên và chủ đích chính của cuộc chiến. Cái gọi là THE VIETNAM WAR — “Chiến Tranh Việt Nam” có thực sự cổ xuý quyền lợi đất nước, dân tộc Việt hay chỉ để củng cố quyền lợi thắng thế của Hoa Kỳ bên này, hay quyền lợi thắng thế của Nga, Hoa bên kia.
“Chiến Tranh Việt Nam” /THE VIETNAM WAR / cần đươc phơi bày đúng “chỉ số” của nó, liên can tới Chủ Nghĩa “Be Bờ” của Hoa Kỳ tại tiền đồn Miền Nam Việt Nam, [a] một mặt để ngăn chặn sự bành trướng của khối cộng sản Nga Hoa, [b] mắt khác để đôn đốc giải bá chủ thế giới
Do đó chúng ta cần xét kỹ chủ đề dưới đây để thấy [a] lý do nào có cuộc chiến tranh này? diễn tiến ra sao? và [c] kết quả, ai thắng ai bại?











Một số hình ảnh của anh Lưu Nguyễn Đạt khi thăm Vietnam War Memorial tại thủ phủ Sacramento, CA. P

Wednesday, April 20, 2016

TINH THẦN ĐẤU TRANH BẤT KHUẤT CỦA NGƯỜI VIỆT NAM


TINH THẦN ĐẤU TRANH BẤT KHUẤT CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
“Tay dơ lấy nước rửa, Nước dơ lấy gì để rửa” - Vua Duy Tân (lúc 7 tuổi)

Việt Nam có chiều dài lịch sử hơn 4000 năm, trong chuỗi thời gian đó, bài học lịch sử mà chúng ta có thể học và đúc kết được là Tinh Thần Chiến Đấu Bất Khuất Chống Ngoại Xâm. Từ thời lập nước của Vua Hùng đến các triều đại Đinh-Lê-Lý-Trần hay lịch sử cận đại. Đất nước Việt Nam có tự chủ, độc lập và thanh bình là nhờ người dân có tinh thần đấu tranh bất khuất. Dân giàu nước mạnh là vì sự đồng lòng của mọi tầng lớp, từ vua chúa đến người nông dân, từ chính quyền cho đến người ngư dân bám biển để giữ vững bờ cõi. Tất cả người con đất Việt dù ở bất kỳ nơi đâu cũng đều hướng về và một lòng phụng sự cho quê hương, đất nước.
Qua lịch sử của nước Việt Nam ta, khi người dân làm chủ, độc lập tư tưởng, khi họ sống biết tha thứ bao dung, sống để cống hiến hết sức mình là lúc đất nước ta ngày càng giàu mạnh. Truyền thống dân tộc của người Việt Nam là những gì tốt đẹp và thiện mỹ mà người dân luôn nuôi nấng qua nhiều thế hệ, trong đó có khát vọng tự chủ, bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải, dân chủ và quyền làm người. 
Nhân dân ta đã bao lần đánh đuổi giặc Mông Nguyên, giặc Hán, giặc Trung Hoa, giặc ngoại xâm không biết bao nhiêu lần vì quyền tự chủ của dân tộc. Nhìn chung bất cứ một cuộc khởi nghĩa nào, người lính nào, thời điểm nào cũng có cùng khát vọng và lý tưởng phục vụ cho một tương lai dân tộc tốt đẹp hơn theo ý thức hệ của riêng mình.  
Họ luôn chiến đấu với tinh thần bất khuất và dũng mãnh với tất cả tấm lòng, xông pha trận mạc trong khả năng có thể của họ, từ thời Bà Trưng, Bà Triệu đến Ngô Quyền, từ anh Hùng áo vải Quang Trung Nguyễn Huệ đến nhà yêu nước Nguyễn Thái Học. Từ những trận mạc cận đại như tự thủ Gạc Ma, Hoàng Sa vào năm 1974 hay bảo vệ biên giới phía Bắc vào năm 1979mà Trung Quốc không muốn Việt Nam ngóc đầu sau chiến tranh—người lính nào cũng chiến đấu anh dũng, kiên cường và hy sinh một cách hiên ngang cho nghĩa lớn. 
Đó là tinh thần Trần Bình Trọng “Ta thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc” trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông lần thứ 2. Tinh thần đấu tranh bất khuất đó đi vào xương tuỷ của mỗi người con Việt, nhất là thế hệ kế thừa. Còn nhớ không nhà Nguyễn đã thất bại khi mang văn hoá ngoại xâm, luật lệ, phong tục ngoại bang áp đặt lên muôn dân, nghĩ nho giáo là tốt nhất (ví dụ như tam-tòng tứ đức) áp đặt và hà khắc chống lại truyền thống tinh hoa dân tộc Việt Nam, nơi có bao nhiêu anh hùng, anh thư đã đứng lên khởi nghĩa, tranh đấu bất khuất cho giống nòi. Ngoài những anh hùng dân tộc như Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ, v.v… Chúng ta còn có những anh thư như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Bà Lạc, Ỷ Lan (Linh Nhân Hoàng thái hậu, Nữ Tướng Phùng Thị Chính, Đoan-Trang Công-Chúa, Nữ tướng Bùi Thị Nhạn, Nữ tướng Bùi Thị Xuân, Đỗ Thị Tâm, v.v… Những sắc thái và tinh hoa nữ tướng đó đã len lõi thấm vào dòng máu của những thế hệ kế thừa. 
   Lịch sử cho ta thấy, bất cứ một thể chế nào, dù là phong kiến, phiến quân, dân chủ, cộng hoà, xã hội chủ nghĩa, độc tài,... thì trong một thời gian nhất định đều phải thay đổi hay bị đào thải. Triều đại nào, chính quyền nào cũng muốn có một đất nước thanh-bình, ấm no cho muôn dân; mong mỏi người dân biết yêu thương và kính phục nhau trong tinh thần tương quan tương ái. Dân tộc Đức Quốc Xã đã hoà hiệp với nhau, Nam Bắc đã ‘thống nhất’ trong ôn hoà. Chúng ta vì những nông nổi gì mà không có được những điều như thế? Tuy nhiên, những gì xảy ra trong tương lai là tuỳ thuộc vào những lối suy nghĩ, lời nói và hành động trong hiện tại. Chúng ta có quyền tin tưởng rằng thế giới nói chung hay Việt Nam nói riêng sẽ tốt đẹp hơn khi…
1. Thể chế độc tài toàn trị không còn hiện hữu trên thế giới
2. Chúng ta xoá bỏ tham-sân-si, hận thù, phục vụ cho tương lai dân tộc tốt đẹp hơn.
3. Chúng ta biết sống cho mình và cho tha nhân, cho cộng đồng và cho niềm tự hào của dân tộc mình.
Đất nước Việt Nam ta, hơn bao giờ hết không còn “Rừng vàng biển bạc”, không còn “Ở trong thời chiến”, chúng ta đang có hơn 80 triệu dân, chúng ta đang có những trái tim bất diệt Việt Nam. Triều đại nào, thể chế nào rồi cũng mai một, cái còn lại là làm sao để chúng ta không tách rời văn hóa truyền thống tốt đẹp, hợp với lòng dân. Đó là nghĩa cử của người con Việt, nghĩa lớn đó là đặc thù của dân tộc.  Vậy hãy tiếp tục tinh thần đấu tranh bất khuất của người con Việt đối với giặc ngoại xâm hay đảng phái bè lũ độc tài Cộng Sản Trung Hoa. Hãy sống với tinh thần Phan Chu Trinh: “Sống không phải là ký sinh trùng của thế gian, sống để mưu đồ một công cuộc hữu ích gì cho đồng bào tổ quốc” hay là “Không thành công thì thành nhân” của Nguyễn Thái Học.
Bạch X. Phẻ


Tham Khảo

1. Nguyễn Hoàng Lãng Du, Bất-Khuất; tải xuống ngày 24 tháng 4, 2015 từ http://langhue.org/index.php/giao-duc/pham-vat-cua-tran-gian/12062-bat-khuat-pham-vat-cua-tran-gian-nhld-2

2. Nguyễn Xuân Thiên Tường, Quẩy Gánh Non Sông; tải xuống ngày 1 tháng 5, 2015 từ http://phebach.blogspot.com/2015/04/quay-ganh-non-song-co-gai-chan-trau.html