Tuesday, July 16, 2019

Hội thảo đem thực tập chánh niệm tỉnh thức đến với thanh thiếu niên Quận Cam

Hội thảo đem thực tập chánh niệm tỉnh thức đến với thanh thiếu niên Quận Cam

Hội thảo đem thực tập chánh niệm tỉnh thức đến với thanh thiếu niên Quận Cam
Tiến sĩ Bạch Xu6an Phẻ tại hội thảo
Vào sáng Chủ Nhật 14 tháng 7 2019, tại hội trường báo Người Việt (Westminster, Little Saigon) đã có một cuộc hội thảo với chủ đề tìm cách đem sự thực tập chánh niệm tỉnh thức đến với giới thanh thiếu niên  gốc Việt tại Quận Cam.
Những người tham gia vào buổi hội thảo thuộc nhiều thành phần, lứa tuổi, nghề nghiệp chuyên môn, tôn giáo khác nhau. Nhưng họ có chung một nỗi ưu tư đối với thực trạng đáng báo động của cộng đồng người Việt nói riêng, và của cả xã hội Mỹ nói chung: cuộc sống nhiều áp lực, mất cân bằng về tâm lý dẫn đến tình hình tự tử ở giới thanh thiếu niên tăng vọt.
CNN trong tháng 6 có đưa tin: Năm 2017 chứng kiến tỉ lệ tự tử tăng mạnh lứa tuổi giữa 15 và 24, theo biên bản nghiên cứu công bố trên tạp chí y khoa JAMA. tỉ lệ tự tử ở lứa tuổi giữa 15 và 19 là 11.8/100,000 trong năm 2017. Với lứa tuổi từ 20 đến 24, tỉ lệ năm vào 2017 là 17/100,000. Trong toàn năm 2017 ghi nhận 6,241 vụ tự sát của thanh thiếu niên từ 15 đến 24 tuổi, trong đó gồm 5,016 nam và 1,225 nữ.
Theo anh Paul Hoàng, chủ tịch tổ chức Viet Care và Moving Forward, một trong những người tham gia hội thảo- cho biết thống kê cho thấy Quận Cam đứng đầu cả nước Mỹ về số ca tự tử. Và tỉ lệ người Mỹ gốc Á tự tử lại đứng đầu Quận Cam. Ai cũng biết rằng tỉ lệ người Việt sống ở Quận Cam là cao nhất nước.
Tham gia hội thảo có bà mẹ của một em học sinh trung học ở Quận Cam mới tự tử vào tháng 12/2018. Em tự tử vì không tìm thấy lý do đáng sống ở cuộc đời này. Mẹ của em chia sẻ rằng chuyện con của mình đã thuộc về quá khứ. Chị muốn cùng mọi người tìm phương cách giúp đỡ vấn đề khủng hoảng tâm lý cho các em khác trong cộng đồng gốc Việt. Có nhiều em có vấn đề về tâm lý mà không biết cách vượt qua, và cha mẹ cũng không biết để kịp thời hỗ trợ. Vấn đề này là cấp bách, cần nhiều người hợp lực lại để cùng nhau giải quyết.
Nhiều người có mặt trong hội thảo có con ở độ tuổi tiểu học, trung học, cũng có nỗi lo âu tương tự. Họ muốn giúp con mình trang bị các phương cách để vượt qua những căng thẳng, áp lực trong cuộc sống ngày càng tăng trong xã hội Mỹ, dù chỉ ở độ tuổi học sinh.
Rõ ràng là sự mất cân bằng về tâm lý như căng thẳng, trầm cảm, cô đơn… là nguyên nhân chính dẫn đến nhiều hành động quyên sinh của các em thanh thiếu niên. Hầu hết những người tham gia hội thảo đều đã có ít nhiều trong việc thực tập chánh niệm tỉnh thức theo phương pháp của Thiền Sư Nhất Hạnh, và đã trải nghiệm qua những lợi ích mà sự thực tập này đem lại cho đời sống tinh thần của mình. Họ nghĩ rằng nếu các em có thực tập chánh niệm, các em sẽ nhiều khả năng có một đời sống tâm lý cân bằng hơn, dễ tìm được sự bình an, hạnh phúc trong cuộc sống hơn.
Tiến sĩ Bạch Xuân Phẻ, một trong những thuyết trình viên chính của buổi hội thảo- là giáo viên dạy môn Hóa Học tại trường Trung Học Mira Loma- Sacramento. Đồng thời, anh là người thực hành và giảng dạy về  “Sự Tỉnh Thức”, là thành viên của Instructional Leadership Corps member -Chương trình Giáo viên dạy Giáo viên của Stanford và Hiệp Hội Giáo Chức California (California Teacher Association- CTA). Trong 16 năm đi dạy, đã có 5 học sinh của anh Phẻ tự tử vì không thể chịu nổi những cảm giác căng thẳng, tuyệt vọng trong gia đình, trường học.  Kể từ năm 2014, anh Phẻ cùng CTA đã tổ chức những khóa huấn luyện “ Tỉnh Thức” cho khoảng trên 3,000 giáo viên thuộc nhiều học khu California, thuộc mọi thành phần sắc tộc, tôn giáo khác nhau. Những giáo viên này thấy được sự lợi lạc, nên sau đó đã đem sự thực hành “Tỉnh Thức” đến với học sinh của mình trong các trường học California.
Trong buổi hội thảo, anh Phẻ đã chia sẻ kinh nghiệm của việc đưa việc thực tập chánh niệm tỉnh thức đến với các em học sinh, thầy cô giáo tại các trường. Theo anh, đây là một phương pháp khoa học, không phải là hình thức tôn giáo, giúp cho các em có thể kiểm soát được tâm ý và hành động, chế tác được niềm vui, hạnh phúc trong cuộc sống.  Để được chấp thuận như hiện nay tại một số trường học ở Cali, anh đã đưa vào linh hoạt bằng nhiều cách khác nhau, thí dụ như các khóa huấn luyện giáo viên ở học khu, vận động tại trường học, vận động từ phía phụ huynh, học sinh… Tuy nhiên, theo anh Phẻ, điều quan trọng nhất là phải có sự thực tập từ chính những cá nhân. Bởi vì ta không thể cho người khác sự an bình, hạnh phúc, khi chính mình không có những trạng thái đó trong tâm thức. Những người muốn đem thực tập chánh niệm đến với thanh thiếu niên trước tiên phải có được an lạc từ sự tự thân thực hành.
Bach Xuan Phe_chon nguyen
Chơn Nguyên tại hội thảo

Chơn Nguyên-một thuyết trình viên khác tại hội thảo- là y tá của học khu San Gabriel Nam Cali, cũng đã thành công trong việc đưa thực tập chánh niệm tỉnh thức đến với một số trường học tại học khu của mình. Chị đã chia sẻ kinh nghiệm cá nhân. Là một y tá chị, chị nhận ra rằng ngay các em học sinh tiểu học cũng đã có những dấu hiệu của căn bệnh căng thẳng lâu dài về tâm lý. Là một người đã tự mình vượt qua những triệu chứng của căng thẳng tâm lý bằng thực tập chánh niệm, chị đã đề nghị với giám đốc học khu của mình là cho phép chị hướng dẫn các em thực tập phương pháp hữu ích này. Nhưng vị giám đốc ngại, vì sợ phương pháp này sẽ gặp chống đối của các phụ huynh vì màu sắc tôn giáo. Không bỏ cuộc, chị đã vận động ở cấp thấp hơn, là với một hiệu trưởng của một ngôi trường tiểu học trong học khu. Vị hiệu trưởng này rất thích thú với đề nghị này, nên để cho chị thực hành thí điểm tại một vài lớp. Phương pháp thực hành hết sức đơn giản, không hề ảnh hưởng đến thời gian học tập chính thức của các em. Thí dụ mỗi khi các em vào lớp lúc đầu ngày, lúc sau giờ ra chơi, lúc sau giờ ăn trưa, giáo viên rất mất thì giờ giúp các em ổn định trật tự. Vậy mà sau khi thực tập nghe tiếng chuông, ngồi tĩnh lặng, theo dõi hơi thở chỉ trong vòng chưa đầy một phút, các em đã ổn định và tập trung vào buổi học một cách nhanh chóng. Hữu xạ tự nhiên hương, các lớp khác trong trường, rồi các trường khác cũng đã yêu cầu chị Chơn Nguyên đến hướng dẫn cho các em học sinh của mình. Theo chị, để đưa được phương pháp này vào các học khu khác, cần kiên nhẫn, và vận động về lợi ích của nó từ nhiều phía, trong đó có cả sự thỉnh cầu từ phía phụ huynh.
Bach Xuan Phe_paul hoang

Anh Paul Hoàng trong hội thảo

Anh Paul Hoàng cho biết mình từng là một sư huynh của Dòng Ngôi Lời Thiên Chúa Giáo. Anh đã thực tập chánh niệm tỉnh thức trong nhiều năm, và thấy rõ những lợi ích của nó đem lại đối với đời sống tâm linh và sức khỏe tinh thần của chính mình. Anh thấy nhiều điểm tương đồng giữa phương pháp này và việc tĩnh tâm, cầu nguyện trong truyền thống Thiên Chúa. Vì vậy anh ủng hộ việc đưa việc thực tập đến với thanh thiếu niên thuộc mọi truyền thống tâm linh khác trong cộng đồng gốc Việt. Làm việc với Viet Care đã qua một thập kỷ, anh Hoàng cho biết tình trạng về tâm bệnh trong cộng đồng gốc Việt rất đáng quan tâm. Hiện nay, một điểm đáng mừng đó là nhiều gia đình Việt đã không còn mặc cảm với căn bệnh này, và đã sẵn sàng chia sẻ câu chuyện khó khăn của chính mình với cộng đồng. Giới truyền thông, giới dân cử  cần làm việc nhiều để thức tỉnh cộng đồng về thực trạng của căn bệnh, và đưa những phương pháp trị liệu đến với cộng đồng một cách rộng rãi hơn.
Mọi người đều đồng ý là vẫn còn nhiều việc phải làm để dự tính này trở thành hiện thực. Mọi người hẹn sẽ tiếp tục gặp nhau thường xuyên, cùng nhau góp tâm ý, công sức vì một lý tưởng chung: đem niềm vui, hạnh phúc, bình an đến với giới thanh thiếu niên trong cộng đồng thông qua lối sống chánh niệm, tỉnh thức.
Đoàn Hưng

Thursday, July 4, 2019

ĐI GIỮA PHỐ PHƯỜNG HÀ NỘI


ĐI GIỮA PHỐ PHƯỜNG HÀ NỘI

Đi lặng lẽ nhìn quê hương yêu dấu
36 phố phường nho nhỏ xinh xinh
Cây Bằng lăng già khoe sắc tím trinh
Ai vội vã vụt xe không nháy mắt

Cây Cơm Nguội vàng lả lơi khoẳnh khắc
Phượng, Thạch Thảo bên lề phai nhạt nắng
Hoa Sữa thơm quyện cõi lòng trống vắng
Quê hương ơi, ai cũng đã theo về

Thăng Long ơi, ta đã vẹn hẹn thề…
Một lần đến như bao lần đã đến
Đền Ngọc Sơn, Tháp Rùa bao nhiêu triều mến
Quạnh quẽ cô đơn, im bặt,… đong đầy

Mặt nước Hồ Gươm* bàng bạc là đây
Bao già trẻ vẫn hằng ngày thể dục
Cụ rùa vàng có chết từ nước đục?
Tìm ai đây giữa phố thị Hà thành?

Đi lặng lẽ nhìn quê hương yêu dấu
Hương Sữa thơm bàng bạc lối về!

Bạch X. Phẻ
Hà Nội, tháng 5, 2019.

Hoan Kiem Lake (VietnameseHồ Hoàn GươmHán tự, meaning "Lake of the Returned Sword" or "Lake of the Restored Sword"), also known as Hồ Gươm (Sword Lake), is a fresh water lake, measuring some 12 ha in the historical center of Hanoi, the capital city of Vietnam.

Saturday, June 29, 2019

TINH HOA PHẬT GIÁO VIỆT NAM TUỆ SỸ - Vị Thầy của Bốn chúng

LỜI GIỚI THIỆU


TINH HOA PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TUỆ SỸ - Vị Thầy của Bốn chúng

Trong ngày Đại hội của Gia đình Phật tử, anh Tâm Thường Định gặp tôi và có ý xin Lời giới thiệu về tác phẩm của anh: “Vị Thầy Của Bốn Chúng.” 

Tác phẩm này gồm có hai bài của Ôn Tuệ Sỹ. Bài thứ nhất có tựa đề “Tâm Thư Gởi Tăng Sinh Huế”, nhưng người đọc sẽ thấy rõ ý của Ôn muốn nhắn gởi đến cả thế hệ Tăng Ni trẻ đang sống trong một hoàn cảnh đất nước: “Bị cắt đứt với mạch nguồn quá khứ, bị che chắn khuất tầm nhìn tương lai.” Từ đó, Ôn tha thiết nhắn nhủ: “Cầu mong các con có đủ dũng mãnh để đi bằng đôi chân của mình, nhìn bằng đôi mắt của mình, tự xác định hướng đi cho chính mình.”

Đọc nội dung bài này, độc giả sẽ có cảm giác như một tiếng chuông cảnh tỉnh đầy nhân hậu cho Tăng Ni sinh đang sống trên quê hương hôm nay. Như tiếng rống của sư tử làm đinh tai nhức óc loài dã thú và như lời “cáo tật thị chúng” để sách tấn những tâm hồn mê muội, ngập chìm trong biển khổ trầm luân.
Bài thứ hai có tựa đề “Suy Nghĩ Về Hướng Giáo Dục Đạo Phật Cho Tuổi Trẻ.” Bằng cái nhìn và nhận định về một thế hệ, Ôn đã đánh thức những tâm hồn của tuổi trẻ Việt Nam: “Tuổi trẻ Việt Nam đang bị bật rễ, do đó có nguy cơ mất hướng, hay thực sự đã mất hướng. Tuổi trẻ của Đạo Phật Việt Nam cũng không ngoại lệ, và không dễ dàng vượt qua tình trạng mất hướng này. Ở đây, tôi nói mất hướng là nhìn từ điểm đứng dân tộc.” Ôn đưa ra tầm nhìn về phương thức học Phật, hay giáo dục toàn diện: “Tuổi trẻ học Phật không có mục đích trở thành nhà nghiên cứu Phật học, và học Phật là tự thực tập khả năng tư duy nhạy bén, linh hoạt để có thể nhìn thẳng vào bản chất sự sống… Học Phật khởi đi từ thực trạng đau khổ của nhân sinh để nhận thức đâu là hạnh phúc chân thật. Bi và Trí là đôi cánh chắc thật sẽ nâng đỡ tuổi trẻ bay liệng vào suốt không gian vô tận của đời sống.” Ấy là tâm lý giáo dục của Đạo Phật mà Ôn đã định hướng cho tuổi trẻ Phật giáo hôm nay.

Bước qua phần hai là thơ của Ôn Tuệ Sỹ. Khi chúng ta đọc văn của Ôn viết là đã choáng ngợp bởi những ngôn từ chắc như vách đá, vững như tường đồng, nghe sang sảng dội vào tâm thức người đọc. Còn thơ thì sao? Đó là những cung bậc phiêu bồng, yêu kiều, cho một phương trời mộng. Mà ý thơ của Ôn, hàng ngàn năm trước chẳng có ai và hàng ngàn năm sau chẳng ai có. Độc giả thử ngâm lai rai, chậm rãi đôi lời: 

“Còn yêu một thuở đi hoang, 
Thu trong đáy mắt sao ngàn nửa khuya.” 

Vì yêu cái thú đi hoang, nên: 

“Còn đây góc núi trơ vơ, 
Nghìn năm ta mãi đứng chờ đỉnh cao.”

Và cũng vì “độc hành kỳ đạo” trong thú đi hoang để đêm về ngủ nơi miếu cô hồn mà mộng chiêm bao:

“Bên đèo khuất miếu cô hồn
Lưng trời ảo ảnh chập chờn hoa đăng
Cây già bóng tối bờ lau
Ta ôm cỏ dại mơ màng chiêm bao.”

Vì mơ màng chiêm bao, Ôn thấy giấc mộng đẹp, giấc mộng cho một quê hương dân tộc thái hòa:

“Chờ mưa tạnh ta trải trăng làm chiếu
Nghìn năm sau hoa trắng trổ trên đồi.”

Và tiếp theo là những bài thơ của Ôn qua nhiều thập niên về trước như: Một Thoáng Chiêm Bao, Rừng Vạn Giã 1976, Tôi Vẫn Đợi - Sài Gòn 78, Quán Trọ Của Ngàn Sao, Trại Giam Phan Đăng Lưu - Sài Gòn 79 v.v… Tất cả những bài thơ này là trong tập thơ Giấc Mơ Trường Sơn.

Qua phần thứ ba là thơ của anh Tâm Thường Định: Đôi Mắt Thần Tiên, Thiên Nhãn - Kính Dâng Thầy Tuệ Sỹ, Mùa Xuân Nhớ Thầy Tuệ Sỹ .v.v… Và phần thứ tư cũng là cuối cùng của tác phẩm, đó là bài viết: “Mắt Biếc Trong Thơ Tuệ Sỹ” của Tâm Thường Định, muốn tìm cái nghĩa ẩn dụ của từ “Mắt Biếc” trong bài thơ “Một Thoáng Chiêm Bao”.

Tất cả những bài văn cũng như thơ được anh Tâm Thường Định dịch sang Anh ngữ hay viết đều nhằm phổ biến đến giới trẻ cũng như người bản xứ những ý nghĩa lợi lạc. Từ đó, chúng ta thấy được tấm lòng phụng sự của anh, là một huynh trưởng Gia đình Phật tử Việt Nam, luôn ưu tư và tinh cần phụng hiến cho con đường giáo dục tuổi trẻ, đồng thời phát huy nền văn hóa Phật giáo.

“Vị Thầy của Bốn chúng” dưới một chủ đề lớn: “Tuệ Sỹ - Tinh Hoa Phật Giáo Việt Nam” đã đưa người đọc về một thực trạng đau buồn, xót xa, chệch hướng, bật rễ của thế hệ người hôm nay trên quê hương, cần phải chấn chỉnh trên con đường giáo dục toàn diện của Đạo Phật, mong rằng vực dậy được những gì đã đổ vỡ, xa cội nguồn, tổ tiên, nòi giống, trả lại cho một nền văn hóa Việt tộc giàu đẹp.

Cũng như lời và ý thơ của Ôn Tuệ Sỹ, anh Tâm Thường Định đã đưa người đọc về một thế hệ yêu thương ngập tràn từ, bi, hỷ, xả, nhưng đồng thời không thiếu ý thức khẳng khái, kiêu hùng đầy thơ mộng dưới khung trời yêu dấu của quê hương. 


Và cuối cùng, anh Tâm Thường Định như góp nhặt hết tất cả những ngôn từ kính trọng đầy yêu thương để hiến dâng, cúng dường cho một bậc Thầy quý kính, mà tấm lòng của anh như dàn trải một cách rạt rào, đầy vẻ minh nhiên trong tác phẩm “Vị Thầy Của Bốn Chúng”.

Dẫu có giới thiệu đến bao nhiêu đi nữa cũng không bằng tự mình cầm tác phẩm để đọc, chiêm nghiệm, thưởng thức những ý vị đậm đà, nên thơ, ân tình có đủ, như người uống nước nóng lạnh tự biết.

San Diego, ngày 26 tháng 3 năm 2017

Thích Nguyên Siêu

Thursday, June 20, 2019

ENGAGED BUDDHISM AND THE ENVIRONMENT - A Solution to Slow down Global Warming

The consequences of Global warming - Photo: Google images.

ENGAGED BUDDHISM AND THE ENVIRONMENT -
A Solution to Slow down Global Warming

According to the majority of researchers, the state of global warming or climate change is very real and is gradually and severely growing in both size and danger they pose. The main reason of this is the excessive increase in the emission of carbon dioxide within the past 30 years due to the burning of fossil fuels (Cox, P.M., et al., 2000), as well as other chemical components that are not organic (Hansen, J., et al., 2000), and also because of the living necessities of human beings; from the release of toxic wastes, smoke and polluted air in industrial facilities of all scales, to automobiles, to deforestation, to livestock farms, to waste materials coming from hydroelectric dams, coal plants, nuclear power wastes, etc.

Lorenzoni, I., & Pidgeon, N. F. (2006), have pointed out that, “The effects of humanity, if left unchecked, on the climate system could create dangerous changes harmful to other aspects that are directly interconnected to the survival of other species on this entire Earth”.
            
Venerable Thich Nguyen Hiep in his ‘The Ethics of Buddhism and the Environmental Dilemma’, also wrote:
“The human world always has to face natural-born disasters such as floods, earthquakes, volcanic eruptions, tsunami waves... these are the problems they often have to deal with throughout the span of their history of development. And today, the severity of those events are gradually becoming worse due to many negative factors created by humans. Aside from the usually seen natural disasters, the pollution of the air, the decline of underground water sources, spoiled lands, desertification, the change of climate and the disappearances of natural biomes, are the horrifying catastrophes that we, the human race, are facing as well. Those disasters are happening everywhere, everyone saw them, but the needs of living standards and economic development are causing humans to mistreat them, neglecting all the catastrophic risks that they will one day be exposed to.”
       
Take Vietnam as an example, this Southeast nation also has to take responsibility in this decaying state of global climate change. According to the World Population Review (2015), the population of Vietnam had reached 94.5 million people, taking the 14th highest position in the world, accounting for 1.33% of the human population on Earth. Vietnamese people are becoming more and more numerous, but our resources are deteriorating day by day. There are no longer “golden forests, silver seas” like in the old time when we went to the village school. The pollution dilemma is serious, stemming from the technological development, the abuses of authority, the lack of systematic consciousness, and the absence of environmental protection policies, etc. At this moment, in Vietnam, the gaps between the rich and the poor are growing, and the extravagant lifestyle of the rich (the 1%) has been worsening the entire environment in Vietnam.
            
Therefore, we must be mindful of the problems regarding the environment, even in the smallest of things, such as public hygiene, to larger complications like manufacturing technologies that contribute to climate change, because what we do will affect many generations to come. 
            
Venerable Tam Phap in ‘Buddhism and the Environment’, the Buddha Enlightenment selection, various authors, mentioned in Part III: “The Buddha came to be and became enlightened for nothing other than the sympathy towards the common folks who suffered from the ravaging Three Poisons of ignorance, aversion, and attachment. Because of the greed to fulfill material needs, humans must suffer from catastrophic pain. To end the suffering, humans must live in accordance to the path of enlightenment, which is to live by the laws of nature or the law of causes and effects. By this law, humans, floras, and faunas co-exist in a mutual and correlative relationship. Nature shall provide the environment for humans and animals to live in. In return, human beings must have the consciousness to protect nature to maintain a healthy and balanced ecological environment.”
            
More than ever, every single one of us must bear the responsibility and duty for our children’s and grandchildren’s generations, especially when we were born Vietnamese. Our love and concern for our country are the responsibilities and duties of every child of Vietnam. So, we must not only care deeply for what happens within ourselves, but also around us. From the view of a nation’s people, it can be said, in another way, that we must be aware of what happened within our country and in our neighboring counterparts. Nowadays, the People government of China has built many large dams alongside many hydroelectric facilities on the great Mekong River, destroying the habitats and causing negative effects in nations downstream.

In our presentations about the Mekong River (the Nine Dragon River in Vietnamese) at the UN’s Vesak Summit from the 27th to the 30th of May, 2015 in Bangkok, Thailand, we indicated the origin of the Mekong from the Tibet Highland, running across six nations including China, Myanmar, Thailand, Laos, Cambodia, and Vietnam, stretching 4500 km long, which is the 12th longest river in the world. Within the past twenty years, there has been a hydroelectric exploitation program on the Mekong (Richard Cronin, 2010; Scott Pearse-Smith, 2012). By 2014, there were 26 hydroelectric dams on the main river, and 14 more on the Lancang River (the name of the Mekongs upstream in Yunnan, China). The barricades of the natural flow all have tremendous negative impacts on the natural habitats and have affected all 6 nations, especially downstream ones such as Cambodia and Vietnam. We claimed that the hydroelectric dams were causing economic consequences, affecting the livelihood of millions of people living in the downstream nations. The flood of Mekong happens annually from June to October with hundreds of deaths. The majority of the flood victims have been drowning children who lacked the supervision of their family’s adults. In the Bangkok Declaration of the UN’s Vesak Summit, the Mekong dilemma was referred and a request was made to the countries in the ASEAN community and neighboring nations to join hands to solve the emergent situation of the Mekong River as well as the ecological system.
            
Furthermore, aside from the large hydroelectric dams that China had built, the authorities also constructed nuclear power plants situated close to Vietnam, e.g. the Fangchengang near the Quanzhou city in Guangxi, only 45 km (30 miles) away from Vietnam’s border, and another nuclear power plant, Changjiang, West of Hainan Island. Although the nuclear power plants have not caused the state of global warming, they cause serious concerns of safety, security, and vulnerability matters to the nation of Vietnam. For if an incident was to happen in these Chinese plants near the Northern Vietnamese borders, there would not only be a disaster for the small common folks of China, but also the innocent people of Vietnam would be affected heavily as well. We carried out researches and concluded in the ‘Effects of Chinese Nuclear Power Plants to the Safety of Homeland’, that:
“(…) in summary, for the welfare of many people and many generations, we must be clearly aware of the danger[s] of the nuclear power source. And we must learn ways to prepare, prevent and provide for our families, communities and country, should unfortunate events manifest. The aforementioned Chinese nuclear plants, in particular, must be kept with a regular watchful eye to be ready to tackle and reduce the lethal as well as economic damages that would be dealt with by our people.”

In this writing, our viewpoint was made clear that Vietnam was not ready to build and monitor nuclear power plants. We recommended, instead of nuclear or hydroelectric plants, that:
A viable and stable alternative to power dams would be the sun and wind. Renewable technologies were proposed as possible strategies to develop the economy. The nations and peoples living along the Mekong River are mostly Buddhists, the monasteries can play an important role in influencing the government’s policies, and educate the people about the environmental costs and effects of these dams and the benefits of clean and renewable energy. These efforts can lower the conflicts in the future, economic and environment disasters and this great Buddhist River would not face a horrifying death”.
          
Therefore, we must be aware that if the environmental dilemmas and global warming become worse, we and our children will be faced with unimaginable consequences.
            
To a child of Buddhism, Engaged Buddhism is especially a starting point. Engaged Buddhism was founded back in the 1960s in the Vietnam War by The Most Venerable Thich Nhat Hanh to kick-start the application of Buddhist knowledge into specific actions, bringing meditation and Buddhism into the common life to ease agonizing situations; from social to political, and from economic to environmental, for human beings and society.
            
According to two researchers, Queen, Chris and King, Sallie (1996), Engaged Buddhism has grown and developed and become quite popular in the West. We should bring the message of knowledge and love (empathy and wisdom) to relieve life from suffering. Mahayana entered life through positive efforts, (self-development, communal development; self-enlightenment, communal enlightenment). Buddhism chose the path of Middle Way. Poverty and illiteracy mean unhappiness, and unfulfilled basic needs mean difficulties in development. We need true “eradication of hunger, reduction of poverty” and to improve the people’s literacy as well as civil freedom, democracy, humanity, etc., so that our society can thrive, and we must have the awareness to protect and preserve our habitat in order to slow global warming, to conserve Mother Earth.
            
Generally, every human has basic needs. Everywhere, people want or try to have a joyful and happy life. We want a life of harmony, good health, and contentment- where we are not too worried, and can always care for future generations. Everyone knows that life is a temporary plane, and we only have one Mother Earth, home to 7 billion people living together. What remains is what we ought to do to savor this situation. So, we can do specific things in the time being in order to improve our life and the lives of the others.

The Solutions that can change the Carbon footprint:

I. For individuals and families:
1. Live a life of wisdom and moderation, and avoid excessive desires (frugal living).
2. Pick at least one day per week to practice vegetarianism/veganism.
3. Eat less meat or none at all (Meatless Monday).
4. Reduce, Reuse, and Recycle.
5. Bring yourself to make your living, working, and entertainment environment green, clean, and beautiful.

II.        For the community/state:
1. Create policies/rules/programs to improve the eco-system.
2. Use eco-friendly or renewable energy.
3. Support healthy movements such as Living Green, Earth Day, etc.
4. Encourage and participate in healthy and socially helpful organizations.
5. Grow gardens of vegetables, fruits for the community, Farm-to-Fork programs, etc.

III.       For the Commonwealth/Nation
1. Accept International conventions made to reduce carbon footprint and to use renewable energy.
2. Developed countries should remove or reduce nuclear plants, avoid nuclear/chemical/biological warfare, etc.
3. Balance the distribution of food and wealth.
4. Eradicate dictatorial domination, and understand the mutual and correlative relationships in the universe
5. For developing/undeveloped countries – for now, there should be no existence of nuclear plants because of the lack of morality, ability, and experiences.
            
Finally, this is the responsibility and duty belonging to all of us in order to protect the only planet that humans are inhabiting. Moreover, every individual citizen of this world, especially the leaders, educators, politicians, etc., must consider this an ethical and moral responsibility to preserve Mother Earth. Therefore, we ought to start a new journey, striving to change life for ourselves, and for all those around us, into becoming better; and to leave a legacy of a clean, prosperous Earth for our descendants to inherit, including our own children.

Dr. Phe Bach, Mira Loma High, SJUSD, Sacramento, CA.
Dr. Khanh T. Tran, AMI Environmental, USA.


References:

1. Cox, P. M., Betts, R. A., Jones, C. D., Spall, S. A., & Totterdell, I. J. (2000). Acceleration of global warming due to carbon-cycle feedbacks in a coupled climate model. Nature, 408(6809), 184-187.



2. Hansen, J., Sato, M., Ruedy, R., Lacis, A., & Oinas, V. (2000). Global warming in the twenty-first century: An alternative scenario. Proceedings of the National Academy of Sciences, 97(18), 9875-9880.



3. Schuldt, J. P., Konrath, S. H., & Schwarz, N. (2011). “Global warming” or “climate change”? Whether the planet is warming depends on question wording. Public Opinion Quarterly, nfq073.

http://worldpopulationreview.com/countries/vietnam-population/


4. Lorenzoni, I., & Pidgeon, N. F. (2006). Public views on climate change: European and USA perspectives. Climatic change, 77(1-2), 73-95.

5. Queen, C. S., & King, S. B. (1996). Engaged Buddhism: Buddhist Liberation Movements in Asia. New York: Albany State University Press. p. 2. ISBN 0-7914-2843-5.

6. Thích Nguyên Hiệp, Đạo Đức Học Phật Giáo Và Vấn Đề Môi Trường. Thư Viện Hoa Sen. Tải xuống ngày 27 tháng 10, 2015. http://thuvienhoasen.org/a4365/dao-duc-hoc-phat-giao-va-van-de-moi-truong-thich-nguyen-hiep

7. Thích Tâm Pháp, Phật Giáo và Môi Trường trong Tuyển tập Phật Thành Đạo. Nhiều tác giả, ở Phần III. Tải xuống ngày 20 tháng 10, 2015. http://www.tuvienquangduc.com.au/DucPhat/40td-tamphap.html

8. Time for Change. Cause and effect for global warming. Tải xuống ngày 10 tháng 10, 2015. http://timeforchange.org/cause-and-effect-for-global-warming

9. Trần Tiễn Khanh và Bạch X. Phẻ (2015), Ảnh hưởng nhà máy điện hạt nhân của trung quốc và sự an nguy của tổ quốc. Phe Bach’s Blog. Tải xuống ngày 20 tháng 10, 2015. http://phebach.blogspot.com/2015/06/anh-huong-nha-may-ien-hat-nhan-cua.html

10. Walther, G. R., Post, E., Convey, P., Menzel, A., Parmesan, C., Beebee, T. J., ... & Bairlein, F. (2002). Ecological responses to recent climate change. Nature, 416(6879), 389-395.

11. World Population Review (2015). Vietnam Population 2015.

Friday, June 14, 2019

Bài Nhạc Đôi Mắt Thần Tiên

Bài Nhạc 
Đôi Mắt Thần Tiên





ĐÔI MẮT THẦN TIÊN

Đôi mắt ấy long lanh
Như sao đêm sâu thẳm
Bờ môi người thầm lặng
Nụ cười hiền trăm năm.

Cõi phù du người đến
Hiện hữu giữa hư không
Bao triệu người thương mến
Tròn khuyết một tấm lòng.

Vẫn im lặng sấm sét
Vẫn hiên ngang nhẹ nhàng
Vẫn từ bi rõ nét
Bồ Tát Địa thênh thang.

Đôi mắt ấy long lanh
Niềm vui và hy vọng
Hạt sương gầy vừa đọng
Mặn ngọt cõi yêu thương!

Wednesday, June 12, 2019

NHỚ LỜI XƯA (Kính tiễn Giác Linh Hòa Thượng Bảo Quang)


NHỚ LỜI XƯA
Kính tiễn Giác Linh Hòa Thượng Bảo Quang

Thầy--người tị nạn ra đi
Vượt biên, vượt biển lâm ly vô thường
Tự do bờ bến yêu thương
Xiển dương chánh pháp ngát hương Phật Đà
Thầy tự độ rồi độ tha,
Tự giác, giác tha--bài ca viên mãn
Trong tổ chức thanh niên và GĐPT:
Thầy dạy, hãy vun chí lớn,
làm gì đặc biệt và mới mẻ cho tiền đồ Phật Giáo,
cho dân tộc Việt Nam, thì làm ngay--đừng đợi
Hãy dám nói, dám làm!
Không tham, vô cầu và trong sáng
Từ văn chương, âm nhạc, văn hóa,
đến thi ca, điêu khắc, nghệ thuật...
Hãy làm cho tất cả tốt hơn.
Thầy thường nói “Văn hóa còn, dân tộc còn”.
Và hiện tình đất nước lúc bấy giờ,
Thầy hỏi hàng trưởng tử Như Lai:
Trước thảm họa Trung Quốc
đang cướp biển, cướp đất Việt Nam,
tự ái dân tộc có cho phép Tăng lữ Việt Nam
ngoảnh mặt làm ngơ không?
Cũng như hàng cư sĩ, đồng bào Phật tử
hãy yêu nước, thương dân theo cách của riêng mình
Ngài suốt một đời tận tụy trong cõi sinh linh
Với tâm nguyện: “Làm đẹp Đạo, thơm Đời, hưng Dân tộc"
Ngài luôn là tấm gương sáng.
Thầy đi trăng hạ vừa sang
Thong dong tự tại nhẹ nhàng mây bay
Rồi Thầy để lại lời dạy:
"Tâm sanh, sanh hoan hỉ
Tâm diệt, diệt hồ nghi
Pháp Không hay pháp Có
Giọt nước đầy tràn ly." *

Chân Không diệu hữu Thầy về
Tử sanh sanh tử không hề bận tâm!
Tình thương để lại trong ngần...

Nam Mô Từ Lâm Tế Chánh Tông tứ thập tam thế, Viện Chủ Bảo Quang Tự đường thượng, húy thượng Quảng hạ Thanh, nghệ nhân Thanh Trí Cao chi Giác Linh Hòa Thượng thùy từ chứng giám.

Tâm Thường Định kính bái

* Bài thơ (Cảm Ứng) của Thầy.