Thursday, October 11, 2018

Bạch Xuân Phẻ: TÌNH ƠI - MẤY DẶM ĐỘC HÀNH

Giữa thiên nhiên hùng vĩ - Tâm người bổng dịu êm. Photo: BXK

Bạch Xuân Phẻ
TÌNH ƠI - MẤY DẶM ĐỘC HÀNH 
Chuyển ngữ - adaptation poétique byLưu Nguyễn Đạt 
AMOUR & ERRANCES

01.
Tinh mơ bóng hạc lẻ loi
Sương mềm cánh mỏng trăng soi giữa đồng
Nắng vàng giữa cõi phù không 

rêve d’amour à vol de grue solitaire
blanche d’aile au clair de lune
sur le reste du néant solaire


02.
Thu vàng hồ vắng mênh mông
Còn không dòng nước bến sông đợi chờ

l’automne jaunit le lac immense 
figé d’eau sur la berge d’attente


03.
Gần nhau mà vẫn xa nhau
Mộng gì ảo ảnh ngàn sau lệ tràn 
Ai ôm bao nỗi ngổn ngang 

nous voilà côtoyés mais à part
noyés d’illusions
et comblés de soucis


04.
Lá xanh rơi vội về đâu
Con chim đang hót giọt sầu nhân gian
Lệ tuôn ghềnh thác hai hàng

les feuiles encore vertes déjà se détachent
au cri d’oiseau vibrant de peine 
le long des larmes des ravins divisés


05. 
Nhìn hồ sâu tĩnh lặng
Bóng trăng gầy thanh tao
Ôm trăng mà chẳng đặng
Mộng nào càng hư hao

cherchant au tréfonds du lac 
la lune amincie de pâleur 
loin des accolades et des rêves fêlés


06.
Lòng đêm sâu và kín
Bóng vô thường đang loang
Đêm dài bao nhiêu mói
Nợ tình còn sắt son

la nuit profonde et secrète
s’épand d’ombre
et de langueur sans fin
mon cœur est scellé d’adoration


07.
Ôm cái bóng vô thường
Hờn để biết còn thương
Nước, mây, sóng hay gió
Yêu chi đến đoạn trường

retenir l’éphémère
ou s’apitoyer à peine ressentir
tout est changeant
aimer en instance

08. 
Hướng dương lay nhẹ ru tình
Nhân duyên mầu nhiệm bóng hình nhân gian
Gió lay hương toả nhẹ lan

bercer d’amour transcendental
au destin sacré d’union terrestre
parfum léger d’orchidée gracile


09.
Thân này tinh thể chẻ đôi
Trần gian mộng mị nước trôi theo dòng
Giác chơn bản thể mênh mông

corps et âme divisés
au séjour terrestre des rêves flottants
essence vitale d’immensité 


10.
Mưa tuôn nước đọng khắp lối đi
Hồng tím trong ta tuổi dậy thì
Bụi trần còn vướng thêm sầu mộng
Thành cát ngài vàng cũng thịnh suy

la pluie tombe partout ailleurs
colorant l’arc-en-ciel de jeunesse
la poussière des temps s’alourdit de soucis
forteresses et trônes s’érigent et s’abiment


11.
Áo cũ thơm mùi sữa
Ngập tràn mối tình xưa
Thương nhau cho lắm sao vừa
Em ơi, xin lỗi --
Dạ thưa mộng dài…
Ta còn có những ngày mai !

les vêtements usées gardent leur parfum
de lait et d’amours d’antan
adoration sans limites
appels et rêves sans fin
persistant dans l’avenir 


12.
Bàn tay lạnh
Thân nóng rang
Chạm nhau sinh tử
Muôn ngàn hợp tan.

les mains frigides
et le corps brûlant
côtoient la vie et la mort
en métamorphoses multiples


13.
Nắng lên trên cõi mênh mông
Tiếng như thác đổ sông dài ngân xa
Bạch hạc nhẹ cánh bay qua

le soleil s’élève au firmament
les chutes d’eau se déversent au loin
et les grues blanches légèrement s’envolent 


14.
Thiên nhiên là khúc ái ân
Tĩnh tâm lặng chiếu trong ngần tình ta

la nature s’harmonise d’amour
et de tranquilité dormante d’adulation


15.
Thu ngàn vàng lá nắng loang
Hạt sương lóng lánh vỡ toang vô thường

l’automne s’éparpille en feuilles jaunies
la rosée brillante s’éclate dans l’instant


16.
Gần Thầy, gần Phật tĩnh tâm
Trần gian thường định trúc lâm thanh bình.
Giác nghiêm trăng sáng lung linh.

tranquilité auprès des bonzes et du bouddha
paix au sommet boisé du temple sacré
lucidité au clair de lune

Poems by Bạch Xuân Phẻ 
Họa thi qua tiếng Pháp bởi Lưu Nguyễn Đạt
Chuyển ngữ - adaptation poétique by LNĐ
VIỆT THỨC 

Monday, October 8, 2018

TRONG CÕI SINH LINH

Cùng ngắm trăng sao - Photo: BXK

TRONG CÕI SINH LINH

Trầm lặng giữa hồng trần
Tâm người không buông lung
Trăng thanh cõi tịch mịch
"Nhi Hưng Đại Bi Tâm" !

Bạch X. Phẻ

Saturday, October 6, 2018

Mắt Trần, Mắt Trời, Mắt Tuệ, Mắt Pháp và Mắt Phật


Mắt Trần, Mắt Trời, Mắt Tuệ, Mắt Pháp và Mắt Phật

Trong  Kinh Kim Cang, có một đoạn vấn hỏi và đối đáp giữa Đức Phật và Ngài Huệ Mạng Tu Bồ Đề:
“Này Tu Bồ Đề, ý ông thế nào? Như Lai có mắt trần không? Bạch Đức Thế Tôn thật vậy, Như Lai có mắt trần.”
“Này Tu Bồ Đề, ý ông thế nào? Như Lai có mắt Trời không? Bạch Đức Thế Tôn, thật vậy, Như Lai có mắt Trời.”
“Này Tu Bồ Đề, ý ông thế nào? Như Lai có mắt huệ không?  Bạch Đức Thế Tôn thật vậy, Như Lai có mắt huệ.”
“Này Tu Bồ Đề, ý ông thế nào? Như Lai có mắt pháp không?  Bạch Đức Thế Tôn thật vậy, Như Lai có mắt pháp.”
“Này Tu Bồ Đề, ý ông thế nào? Như Lai có mắt Phật không? Bạch Đức Thế Tôn thật vậy, Như Lai có mắt Phật.”
Mắt ở đây phải hiểu là cách nhìn, cái mà mình cảm thấy, cái mà mình cho rằng, cái mà mình biết do nhìn thấy.
Để tìm hiểu xem năm loại mắt này khác nhau như thế nào, chúng ta có thể lấy một thí dụ như: Bộ quần áo của cô công chúa hay công nương đang mặc, mới mặc, hoặc sẽ mặc đang được ầm ĩ đưa lên báo chí, truyền hình, lên các diễn đàn toàn cầu.
-Đối với những người có con mắt trần, mắt thịt, mắt tục như chúng ta thì đua nhau khen ngợi, ca tụng vì nó đẹp quá, sang quá, quý phái quá. Rồi người nghèo, không đủ tiền mua thì thèm khát. Còn người giàu thì tìm cách mua, mặc vào, khoe khoang để cho mọi người thấy mình cũng sang cả, quý phái như công nương hoàng tử. Mắt trần là con mắt thường tình của thế gian.
Mắt trần là con mắt của chúng ta, nơi nào cũng có mắt trần. Mắt trần là con mắt thấy vàng bạc quý hơn ngô khoai. Công nương hoàng tử hơn trai gái quê hèn. Bằng cấp, học vị thông minh hơn không có học. Có tiền thì giàu sang, không tiền thì nghèo hèn. Quyền thế thì uy nghi, không quyền thế thì dân giả. Mắt trần là con mắt phân biệt. Từ mắt trần mà sinh ra tình cảm thương-ghét, ngưỡng mộ hay chê bai, khinh thường hay quý trọng. Mắt trần là con mắt chấp trước vào cái hiện tại, chớp mắt trong hiện tại. Mắt trần luôn luôn quay đảo và biến đổi khôn lường: Thương đó rồi ghét đó, quý đó rồi ruồng bỏ, tin đó rồi phỉ báng, ngưỡng mộ rồi chê bai, háo hức mua rồi quăng đi, dựng tượng lên rồi truất phế. Mắt trần là con mắt của chúng sinh bị cuốn hút bởi ảo ảnh cuộc đời. Mắt trần tạo hạnh phúc nhất thời nhưng chứa đầy phiền não. Mắt trần là do kinh nghiệm, do tiếp xúc, do nhiễm trần cấu mà có. Thế nhưng muốn làm ăn buôn bán, làm giàu, muốn danh vọng, nổi tiếng, muốn quyền thế thì phải có mắt trần.
-Mắt Trời là con mắt của người ở một nơi mà vàng bạc nhiều hơn đất cát, kim cương nhiều hơn sỏi đá, quần áo dệt bằng tơ trời, con người cao lớn thân thể đẹp đẽ, thọ mạng cả ngàn năm. Mắt Trời là con mắt của kẻ giàu sang tột đỉnh nhìn kẻ nghèo hèn. Mắt của nước văn minh nhìn kẻ nô lệ, mắt của nước tiến bộ nhìn người chậm tiến. Nó cũng là con mắt của trí tưởng tượng. Nhìn bằng con mắt này thì bộ quần áo đắt giả cả chục ngàn đô-la của cô công chúa kia cũng giống như chiếc áo vá. Và kim cương đang đeo trên người kia thì cũng giống như cục đá ở Thiên Đình.
-Mắt trí tuệ là mắt của người biết phân tích, biết tìm hiểu và tìm hiểu đến tận cùng của sự vật. Bằng con mắt này thì bộ quần áo của cô công chúa kia có khi còn xấu hơn cả bộ quần áo của một tài tử điện ảnh, một cô ca sĩ nhạc Pop, của cô người mẫu ở Paris, Roma, New York hay Tokyo. Nó cũng có thể chỉ là thủ thuật để bán hàng bằng cách biếu tặng bộ quần áo cho cô công chúa rồi tung tiền quảng cáo ầm ĩ hầu hốt bạc. Mắt trí tuệ là mắt tìm hiểu đến ngọn nghành, đến mọi ngõ ngách, nhìn thấu suốt sự thật sâu thẳm ở bên trong. Con mắt trí tuệ sẽ đưa tới Chánh Kiến tức cái nhìn chân chính, đúng đắn, không thiên lệch.
-Mắt pháp là con mắt nhìn bằng giáo pháp của Đức Phật. Qua con mắt này thì muôn vật không có tự tánh, giả tạm và nương tựa vào nhau mà có. Nếu vậy thì bộ quần áo kia không mang một giá trị cỗ hữu nào. Kẻ ưa chuộng thì cho nó là sang cả. Còn kẻ không ưa chuộng thì cho nó là tầm thường. Bộ quần áo đó không có giá trị vĩnh cửu, vài ngày sau, nó có thể trở thành đồ rởm quăng đi. Bộ quần áo đó tự nó không có giá trị gì. Giả sử cũng bộ quần áo đó nếu do một “cô bé lọ lem” mặc vào thì nó có sang cả hay không? Hay giá trị quý phái của nó nương nhờ vào địa vị của cô công chúa? Nói khác đi, giá trị của nó là vay mượn, không thực.
-Mắt Phật là con mắt sáng như gương. Nhìn thấy rõ muôn vật nhưng không khởi một niệm. Bằng con mắt Phật thì bộ quần áo của cô công chúa kia nó chẳng sang mà cũng chẳng hèn. Nó chẳng đẹp mà cũng chẳng xấu. Cho nên bằng con mắt Phật chúng ta sẽ không động tâm. Bằng con mắt Phật chúng ta sẽ không khởi tham dục. Từ không tham dục mà không phiền não. Từ không phiền não mà tâm an tịnh mà ở nơi chư Phật gọi là đại định.  Mà đại định là Niết Bàn. Con mắt Phật cũng là con mắt của trí tuệ Bát Nhã và nó cũng là Phật tánh.
Này bạn ơi,
Chư Phật, chư Bồ Tát có cả năm con mắt.
Nhưng chúng sinh chỉ có mắt trần.
Mắt trần khởi ham muốn, khen chê rồi ghét bỏ.
Từ khen chê, ghét bỏ mà gây bao phiền não.
Từ phiền não nếu không kiềm chế liền tạo nghiệp,
Khiến khổ đau cho mình và cho người khác.
Cho nên chúng ta cần có con mắt trí tuệ trong đời.
Bằng con mắt trí tuệ chúng ta thấy rõ bản thể của muôn loài.
Những gì che dấu ở bên trong.
Đó là cái nhìn tròn sáng.
Lúc đó,
Chúng ta sẽ cư xử một cách chừng mực.
Không căm thù như người khác căm thù.
Không la ó như người khác đang la ó.
Không khen như người khác đang khen.
Không lên án, đòi giết như người khác đang đòi giết.
Con mắt trí tuệ cũng là con mắt Pháp.
Nó là nền tảng để đi lên con mắt Phật.
Bạn ơi,
Hãy trang bị cho mình bằng con mắt Tuệ.
Bạn sẽ thấy đời mình hết sức nhẹ nhàng.
Ít khi vướng mắc,
Không bị trói buộc vào đâu.
Không bị đám đông cuốn hút.
Không bị lùa đi như đàn cừu,
Hay như con trâu sỏ mũi.
Từ đó mà tự do, thảnh thơi, an tĩnh.
Nếu bạn nhìn đời,
Mà còn đối sánh và bình phẩm lung tung,
Rồi đòi “trú dạ lục thời an  lành”.
Thì chỉ là hý luận.
Bạn ơi,
Tất cả năm con mắt trên đều có trong con người mình.
Trong thời đại mà cả triệu thông  tin,
Có thể đến với bạn trong chớp mắt.
Nếu bạn không bình tĩnh,
Không có con mắt Trí Tuệ. (*)
Thì bạn sẽ điên lên.
Sẽ như xác không hồn.
Như một bóng ma.
Hành động bằng cảm tính.
Vật vờ trong cuộc sống.
Bạn ơi,
Hãy trì tụng Kim Cang.
Dù chỉ một câu kệ thôi,
Tâm bạn sẽ an trụ.
Bạn sẽ được bình an.
Thảnh thơi và hạnh phúc.
Giữa cảnh đời hỗn loạn.
Mà bạn lại sống trong tỉnh thức, an vui.
Đào Văn Bình
(California ngày 4/10/2018)
 
(*) Trong sách “Teaching from Ancient Vietnamese Zen Master” của Nguyên Giác, Thiền Sư Bảo Giám (Thế Kỷ 12) dạy rằng “Muốn tiến đến tông thừa của Phật thì phải siêng năng. Song muốn thành Phật Chánh Giác thì phải nhờ trí tuệ.”
Quán chiếu bằng trí tuệ, tức nhìn bằng con mắt tuệ là sinh mệnh của Phật Giáo. Không trí tuệ thì Phật Giáo cũng như các tôn giáo khác.

Wednesday, October 3, 2018

Đọc ‘Biện Chính Phật Học’ – Nghĩ về Lời Đức Phật Rầy

Đọc ‘Biện Chính Phật Học’ –
Nghĩ về Lời Đức Phật Rầy
Nguyên Giác
Bạn đã từng nghe Đức Phật rầy la bao giờ chưa? Ngay cả nếu bạn trong một kiếp tiền thân đã từng có duyên nhập chúng trong thời cận kề các bậc thánh “Thiện lai Tỷ khưu,” cũng chưa hẳn bạn đã được tận mắt thấy Đức Phật rầy la một ai. Hiếm hoi lắm, nhưng trong kinh điển có ghi lại một số trường hợp.
Nói “Đức Phật rầy la” là nói kiểu đời thường, dùng chữ kém văn nhã (nơi đây, tôi xin chịu lỗi đã dùng chữ quê mùa đời thường để làm nổi bật những cách dùng chữ tuyệt vời hơn): Nhà nghiên cứu Thích Chúc Phú đã sử dụng chữ tinh tế và bác học, rằng đó là “Những Lời Dạy Nghiêm Khắc của Đức Phật” – bài phân tích này nằm ở các trang 219-228 trong sách Biện Chính Phật Học Tập I, do NXB Hồng Đức ấn hành năm 2018.
Nếu bạn say mê đọc kinh Phật, ưa thích những phân tích kỹ càng về giáo điển, muốn tìm hiểu các chuyện xảy ra thời Đức Phật đi giảng dạy nơi này và nơi kia, hiển nhiên đây là một tác giả bạn không thể bỏ qua: gần như tất cả những gì Thầy Thích Chúc Phú viết xuống đều rất độc đáo, rọi ánh sáng tới những điểm rất bất ngờ, và mang sức mạnh của sử liệu có thể kiểm chứng được bằng kinh luận. Thú thật, bản thân tôi không đủ uyên bác về cổ ngữ để tìm hiểu một số điểm có thể là khả vấn trong sách, nhưng cảm nhận rằng lý luận và chứng cớ của tác giả Thích Chúc Phú hầu hết là thuyết phục.
Nhóm 3 cuốn Biện Chính Phật Học Tập I, Tập II, Tập III chứa đựng rất nhiều thông tin về kinh điển khó tìm nơi khác. Có thể nói ngắn gọn rằng, trên đời này không có bao nhiêu tác giả có đôi mắt sáng như Thầy Thích Chúc Phú.
Thí dụ, nơi đây, để nêu lên một số đề tài phức tạp do Thầy Thích Chúc Phú nghiên cứu, tôi xin ghi tóm lược một số nhan đề bài viết từ Mục lục của Biện Chính Phật Học (BCPH) trong ba tập:
-- Bàn về những luận điểm sai lầm của Schumann trong tác phẩm Đức Phật lịch sử;
-- Vương nạn Tỳ-lưu-ly và cuộc thiên di đến Gandhara của dòng họ Thích;
-- Nguồn gốc tín niệm cúng sao giải hạn;
-- Kinh điển phi Phật thuyết trong kinh tạng Nikaya;
-- Khương Tăng Hội cầu xá lợi – huyền thoại và sự thực;
-- Từ quan điểm Nhất-xiển-đề thành Phật đến việc sám hối tội Ba-la-di: Khả tính cứu độ và khai phóng của Phật giáo;
-- Tại sao tụng Thất giác chi để chữa bệnh, cầu an?
-- Tại sao Bồ-Đề-Đạt-Ma phủ định công đức của vua Lương Vũ Đế?
-- Đối khảo về Thần chú sản nạn;
-- Những nhận định chưa đúng về Phật giáo trong tác phẩm Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (1) và (2);
-- Khảo biện về kinh Dược Sư;
-- Tôn giả Thi-bà-la, vị Thần tài đích thực của Phật giáo;
-- Từ Châu-lợi-bàn-đặc, đến lục tổ Huệ Năng, nghĩ về vấn đề pháp hành của Phật Giáo Việt Nam hiện tại;
-- Những cứ liệu về Ni giới trước thời Di mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề;
-- Quan điểm của Phật giáo về vấn đề chuyển giới;
-- Và nhiều bài khác với các chủ đề cũng độc đáo và quan trọng.

Đa số các bài trong ba tập của bộ sách BCPH có thể tìm trên mạng. Trong các bài trong sách và không tìm thấy trên mạng Internet có bài “Những Lời Dạy Nghiêm Khắc của Đức Phật” – có lẽ vì bài này viết vào thời báo Giác Ngộ chưa lên mạng, vì Thầy Thích Chúc Phú trong ban biên tập Nguyệt San Giác Ngộ?
Cũng nên ghi nhận rằng ấn bản BCPH đang lưu hành là đợt tái bản năm 2018, vì bản tin “Giới thiệu sách: Biện chính Phật học” trên Giác Ngộ ngày 27/10/2015 đã giới thiệu ấn bản đầu tiên qua lời phóng viên Đăng Tâm, trích như sau:
“...Công trình tập hợp nhiều bài viết của tác giả trong những năm gần đây, phần lớn đã được đăng trên nguyệt san Giác Ngộ. Sách do Nhà Xuất bản Tôn Giáo cấp phép, ấn hành quý III, năm 2015.
Mặc dù chủ đích của tác giả là biện chính những vấn đề trong “nội hàm” giáo pháp của Đức Phật, tuy nhiên trên thực tế, biên độ khảo chứng, biện nghi của tác giả còn mở rộng ra các lĩnh vực như: tư tưởng-triết luận, văn hóa, lịch sử, xã hội, thậm chí những vấn đề liên quan đến khảo cổ học. Tác giả đã viện chứng rất nhiều tài liệu, kinh điển để làm vững chắc thêm cho lý luận của mình, trong đó có nhiều nguồn bằng tiếng Hán, tiếng Anh và tiếng Pali…
Có thể nói, đây là công trình tâm huyết và “táo bạo” của tác giả, bởi nhiều bài viết đã chạm đến những vấn đề từng gây tranh cãi trong quá khứ cũng như những vấn đề được xem là khá nhạy cảm trong Phật giáo ngày nay. Công trình “biện chính” như thế này hiện khá hiếm trên các kệ sách Phật giáo trong cũng như ngoài nước.” (ngưng trích)

*

Tác giả Thích Chúc Phú trong bài “Những Lời Dạy Nghiêm Khắc của Đức Phật” ghi nhận một số trường hợp Đức Phật sử dụng thô ngữ, kèm với lời cảnh giác rằng “lời khó nghe nhưng tận trong sâu thẳm của Đức Phật, là lòng thương yêu chúng sanh không hạn lượng… có tác động mạnh mẽ tới một đối tượng hoặc một nhóm đối tượng cụ thể nào đó… Nói rõ hơn, thô ngữ xuất hiện trong kinh điển bao giờ cũng gắn liền với một ngữ cảnh. Nếu tách rời thô ngữ ra khỏi ngữ cảnh thì sẽ hiểu sai lời Phật dạy trong kinh điển.” (BCPH Tập I, trang 221)
Có thể tóm lược vài trường hợp trong bài nêu trên như sau.
-- Đức Phật đưa ra hình ảnh “một con trùng phẩn, ăn phân”… và liên hệ “Tỳ kheo bị lợi đắc” (Thầy Thích Chúc Phú đưa ra ba dẫn chứng: Kinh  Tương Ưng Bộ 1, tập 2, thiên Nhân duyên, chương 6, Tương ưng lợi đặc cung kính, phẩm thứ nhất, kinh Trùng phẩn; tương tự như vừa dẫn, nhưng ở phẩm thứ tư, kinh Xe; Kinh Tiểu Bộ, tập 4, Chuyện con voi Mahilamukha, số 26);
-- Sau khi Đại đức Pindola Bharadvaja vận dụng thần thông bay lên hư không đoạt lấy cái bát quý làm từ gỗ đàn hương trước chứng kiến của cư dân kinh thành Rajagaha, Đức Phật gọi Đại đức tới và nghiêm khắc huấn thị: “Giống như người đàn bà cho xem chỗ kín vì mục đích của những đồng xu tầm thường; này Bharadvaja, tương tợ như thế vì mục đích cái bình bát gỗ tầm thường, pháp thượng nhân tức là sự kỳ diệu của phép thần thông đã bị ngươi để lộ ra trước hàng tại gia.” (Thầy Thích Chúc Phú đưa ra dẫn chứng: Cullavagga, chương Các tiểu sự, Bình bát bằng gỗ đàn hương.)
-- Trường hợp Tỳ kheo Vakkali, ghi lại trong Trưởng lão Tăng kệ, chỉ say mê ngắm nhìn dung nhan Đức Phật trong các thời pháp. Sau nhiều lần khuyên nhẹ nhàng, không được, Đức Phật để tới ngày cuối an cư mùa mưa, mới kêu Vakkali tới bảo: “Này Vakkali, hãy đi đi!”  Đuổi ra khỏi giáo đoàn là trừng phạt quá nặng nề. Do vậy, ngài Vakkali leo lên núi Linh Thứu để tự sát, ngay giây phút nguy ngập liều thân đó, Đức Phật xuất hiện kịp thời, đưa ra lời dạy thích nghi, và không lâu sau đó, Vakkali chứng quả A La Hán.
--  Trường hợp Đức Phật nói về bảy ví dụ về nguy hại của tham dục để khiển trách những người xuất gia nhưng vẫn tơ tưởng chuyện thế tục, dùng các cặp hình ảnh tương phản như gần gũi người thiếu nữ  hay chấp nhận tang thương dưới sức nóng của ngọn lửa, như nhận sự cúng dường và nhận những hình phạt tàn khốc. Nghe xong bảy ví dụ, có “có khoảng sáu mươi vị Tỷ-kheo hộc máu nóng từ miệng, có khoảng sáu mươi Tỷ-kheo từ bỏ học pháp và hoàn tục, nghĩ rằng: "Khó làm thay, Thế Tôn! Thật khó làm thay, Thế Tôn!". Có khoảng sáu mươi Tỷ-kheo, với tâm được giải thoát, không chấp thủ các lậu hoặc.” (Thầy Thích Chúc Phú đưa ra dẫn chứng: Kinh Tăng Chi Bộ, tập 3, chương 7 pháp, Đại phẩm, kinh Lửa.)

*
Phần trên là tóm tắt bài “Những Lời Dạy Nghiêm Khắc của Đức Phật” của tác giả Thích Chúc Phú. Bài được in trong tuyển tập Biện Chính Phật Học Tập I, nhưng hình như không có trên Internet. Cảm giác của một người độc giả trình độ trung bình như tôi là, như dường Thầy Thích Chúc Phú nhắn gửi gì tới một số trường hợp cụ thể trong nước, mà người ngoài nước có thể không hình dung ra. Dù có ám chỉ ai hay không, bài viết dĩ nhiên là có lợi, cũng là lời cảnh giác, rằng coi chừng Đức Phật rầy đó.
Nơi đây, để góp thêm lời, chúng ta thử suy nghĩ về lời Đức Phật giải thích về cách ngài giáo hóa nghiêm khắc, đặc biệt là hình ảnh, hễ không dạy được người nào là phải “giết” người đó.
Trong kinh Tăng Chi AN 4.111 (Kesi Sutta), bản dịch của Hòa Thượng Thích Minh Châu, ghi lại cuộc đối thoại giữa Đức Phật và người dạy ngựa tên là Kesi. Đức Phật hỏi Kesi rằng, ông dạy ngựa ra sao, thì Kesi bạch rằng có ba loại ngựa: loại thứ nhất là ngựa dễ thuần hóa, chỉ nói mềm mỏng là đủ để nhiếp phục; thứ nhì là loại ngựa ngang ngược, phải dùng lời nói thô ác mới thuần hóa được; nhưng loại ngựa thứ ba, thì “không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng và thô ác của con, thời bạch Thế tôn, con giết nó. Vì sao? Vì mong rằng nó không làm mất danh dự cho gia đình thầy của con!
Rồi Kesi hỏi Thế Tôn dạy các tu sĩ ra sao. Đức Phật nói tương tự, và tiếp: “Này Kesi, nếu người đáng được điều phục không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng của Ta, không chịu nhiếp phục với lời nói cứng rắn, không chịu nhiếp phục với lời nói vừa mềm mỏng vừa cứng rắn, này Kesi, thời Ta giết hại người ấy!”

Kesi thắc mắc, và được Đức Phật trả lời, trích kinh này như sau:
“—Nhưng bạch Thế tôn, sát sanh không xứng đáng với Thế tôn. Tuy vậy, Thế tôn nói: “Này Kesi, Ta giết hại người ấy”.
—Thấy vậy, này Kesi, sát sanh không xứng đáng với Như Lai. Nhưng người đáng được điều phục ấy không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng, không chịu nhiếp phục với lời nói cứng rắn, không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng và cứng rắn, Như Lai nghĩ rằng người ấy không xứng đáng để được nói đến, để được giáo giới. Và các vị đồng Phạm hạnh có trí nghĩ rằng người ấy không xứng đáng để được nói đến, để được giáo giới. Bị giết hại, này Kesi là con người này, trong giới luật của bậc Thánh, bị Như Lai nghĩ rằng không đáng được nói đến, không đáng được giáo giới, bị các vị đồng Phạm hạnh có trí nghĩ rằng không đáng được nói đến, không đáng được giáo giới.” (1)
.
Trong một kinh khác, Kinh Trung Bộ MN 22 (Kinh Ví Dụ Con Rắn), bản dịch Hòa Thượng Thích Minh Châu, cũng cho thấy Đức Phật dùng lời nghiêm khắc đối với ngài Arittha, một vị sư chấp thủ sai lạc, nói rằng nhà sư đó ngu si, đã xuyên tạc lời Đức Phật, trích như sau:
“—Này kẻ ngu si kia, sao Ông lại hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy? Này kẻ ngu si kia, có phải chăng, Ta đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp. Và những ai thọ dụng chúng tự đủ bị chướng ngại? Ta đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Ta đã thuyết các dục được ví như khúc xương … Ta đã thuyết các dục được ví như miếng thịt … được ví như bó đuốc cỏ khô … được ví như hố than hừng … được ví như cơn mộng … được ví như vật dụng cho mượn … được ví như trái cây … được ví như lò thịt … được ví như gậy nhọn … Ta đã thuyết các dục được ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Và này kẻ ngu si kia, không những Ông xuyên tạc Ta, vì Ông đã tự chấp thủ sai lạc, Ông tự phá hoại Ông và tạo nên nhiều tổn đức. Này kẻ ngu si kia, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho Ông.”(2)
.
Tương tự, trong một kinh khác trong Trung Bộ, Kinh MN 38 (Ðại kinh Ðoạn tận ái), bản dịch của Hòa Thượng Thích Minh Châu, ghi lại sự kiện Đức Phật nói lời nghiêm khắc khi một nhà sư chấp vào tà kiến.
Kinh kể rằng, nhà sư Sati chấp vào tà kiến rằng có một thức “dong ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác.” Biết như thế, các nhà sư khác khuyên rằng như thế là sai, vì nói thế là xuyên tạc Thế Tôn, vì thực tế Đức Phật nói rằng thức là do duyên khởi, làm gì có chuyện không đổi khác.
Kinh ghi lời các nhà sư khác khuyên Tỳ Kheo Sati: “Hiền giả Sati, chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không có nói như vậy. Hiền giả Sati, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi; không có duyên thì thức không hiện khởi.”
Nhưng Tỷ Kheo Sati “dù được các Tỷ-kheo ấy cật vấn, thảo luận, vẫn nói lên ác tà kiến ấy, cứng đầu chấp chặt, nắm chặt tà kiến ấy.
Các nhà sư mới trình lên Đức Phật, và Đức Phật gọi Tỳ Kheo Sati tới để dạy, trong đó có lời nghiêm khác. Kinh MN 38 kể lại:
“—Thật sự là vậy, bạch Thế Tôn. Theo như con hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác.
—Này Sati, thế nào là thức ấy?
—Bạch Thế Tôn, chính thức ấy nói cảm thọ, thọ lãnh chỗ này, chỗ kia, kết quả các hành động thiện ác.
—Này kẻ mê mờ kia, vì ai mà Ông lại hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy. Này kẻ mê mờ kia, có phải chăng, Ta đã dùng nhiều pháp môn nói là thức do duyên khởi, không có duyên, thì thức không hiện khởi? Và này kẻ mê mờ kia, không những Ông xuyên tạc Ta, vì Ông đã tự chấp thủ sai lạc, Ông còn tự phá hoại Ông và tạo nên nhiều tổn đức. Này kẻ mê mờ kia, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho Ông.” (3)

*

Lời cuối bài, nơi đây xin trân trọng cảm ơn Thầy Thích Chúc Phú qua bộ sách Biện Chính Phật Học đã trình bày về nhiều đề tài chắc chắn là có nhiều Phật Tử thắc mắc. Bộ sách này hiển nhiên là cần có trong tủ sách của tất cả các gia đình Phật Tử.
Và cũng đặc biệt cảm ơn tác giả Thích Chúc Phú về bài viết ghi nhận khi Đức Phật dùng lời thô ngữ, một cơ hội cho được “góp thêm lời” nơi đây – trước là để ngợi ca Đức Phật đã dùng nhiều phương tiện giáo hóa chúng sinh, sau là để tán thán những cuộc nghiên cứu rất uyên bác của tác giả bộ sách Biện Chính Phật Học, trong đó, mỗi bài cũng đều như dường nhắc nhở tới một nan đề nào tại quê nhà chỉ nhằm để sách tấn tu học.
Nguyên Giác
GHI CHÚ: