Friday, June 14, 2019

Bài Nhạc Đôi Mắt Thần Tiên

Bài Nhạc 
Đôi Mắt Thần Tiên





ĐÔI MẮT THẦN TIÊN

Đôi mắt ấy long lanh
Như sao đêm sâu thẳm
Bờ môi người thầm lặng
Nụ cười hiền trăm năm.

Cõi phù du người đến
Hiện hữu giữa hư không
Bao triệu người thương mến
Tròn khuyết một tấm lòng.

Vẫn im lặng sấm sét
Vẫn hiên ngang nhẹ nhàng
Vẫn từ bi rõ nét
Bồ Tát Địa thênh thang.

Đôi mắt ấy long lanh
Niềm vui và hy vọng
Hạt sương gầy vừa đọng
Mặn ngọt cõi yêu thương!

Wednesday, June 12, 2019

NHỚ LỜI XƯA (Kính tiễn Giác Linh Hòa Thượng Bảo Quang)


NHỚ LỜI XƯA
Kính tiễn Giác Linh Hòa Thượng Bảo Quang

Thầy--người tị nạn ra đi
Vượt biên, vượt biển lâm ly vô thường
Tự do bờ bến yêu thương
Xiển dương chánh pháp ngát hương Phật Đà
Thầy tự độ rồi độ tha,
Tự giác, giác tha--bài ca viên mãn
Trong tổ chức thanh niên và GĐPT:
Thầy dạy, hãy vun chí lớn,
làm gì đặc biệt và mới mẻ cho tiền đồ Phật Giáo,
cho dân tộc Việt Nam, thì làm ngay--đừng đợi
Hãy dám nói, dám làm!
Không tham, vô cầu và trong sáng
Từ văn chương, âm nhạc, văn hóa,
đến thi ca, điêu khắc, nghệ thuật...
Hãy làm cho tất cả tốt hơn.
Thầy thường nói “Văn hóa còn, dân tộc còn”.
Và hiện tình đất nước lúc bấy giờ,
Thầy hỏi hàng trưởng tử Như Lai:
Trước thảm họa Trung Quốc
đang cướp biển, cướp đất Việt Nam,
tự ái dân tộc có cho phép Tăng lữ Việt Nam
ngoảnh mặt làm ngơ không?
Cũng như hàng cư sĩ, đồng bào Phật tử
hãy yêu nước, thương dân theo cách của riêng mình
Ngài suốt một đời tận tụy trong cõi sinh linh
Với tâm nguyện: “Làm đẹp Đạo, thơm Đời, hưng Dân tộc"
Ngài luôn là tấm gương sáng.
Thầy đi trăng hạ vừa sang
Thong dong tự tại nhẹ nhàng mây bay
Rồi Thầy để lại lời dạy:
"Tâm sanh, sanh hoan hỉ
Tâm diệt, diệt hồ nghi
Pháp Không hay pháp Có
Giọt nước đầy tràn ly." *

Chân Không diệu hữu Thầy về
Tử sanh sanh tử không hề bận tâm!
Tình thương để lại trong ngần...

Nam Mô Từ Lâm Tế Chánh Tông tứ thập tam thế, Viện Chủ Bảo Quang Tự đường thượng, húy thượng Quảng hạ Thanh, nghệ nhân Thanh Trí Cao chi Giác Linh Hòa Thượng thùy từ chứng giám.

Tâm Thường Định kính bái

* Bài thơ (Cảm Ứng) của Thầy.

Friday, June 7, 2019

THIỀN SƯ HUYỀN QUANG VÀ CON ĐƯỜNG TRẦM LẶNG CỦA MÙA THU

Tổ thứ Ba, phái Trúc Lâm Uyên Tử. Ngài Huyền Quang 

THIỀN SƯ HUYỀN QUANG VÀ CON ĐƯỜNG TRẦM LẶNG CỦA MÙA THU

THÍCH PHƯỚC AN

Khi Huyền Quang được Pháp Loa chính thức trao truyền y bát, làm tổ thứ 3, kế thừa Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử (1330), năm ấy, Huyền Quang đã 77 tuổi. Tuổi cao cùng với cá tính vốn thích sống trong cô độc của ông, nên ta có thể chắc rằng, Huyền Quang đã phải miễn cưỡng nhận lấy trách nhiệm nặng nề này.

Vì đối với Huyền Quang, dường như chỉ có một khát vọng thôi – đó là được rút, lui trở về núi rừng, để tìm lại một non nước xa xôi mà chính ông (hay cả chúng ta nữa) đã đánh mất giữa cuộc đời này.

Đúc bạc thẹn mình nối tổ đăng,
Học theo Hàn, Thập dứt đa đoan.
Hãy đi với bạn về non vắng,
Rừng núi bao quanh mấy vạn tầng (1).

(Nhân sự đề Cứu Lan tự – Nguyễn Lang dịch)

Như vậy, tại sao Pháp Loa lại chọn Huyền Quang? Vì sự uyên bác của Huyền Quang chăng? Không còn hồ nghi gì nữa, chắc chắn Huyền Quang không những là nhà thơ lớn mà còn là nhà Phật học lỗi lạc, có thể nói là lỗi lạc nhất trong các học giả của núi Yên Tử thời bấy giờ. "Phàm sách đã qua tay Huyền Quang biên soạn, hiệu khảo rồi, thì không thể thêm hay bớt một chữ nào…" Trần Nhân Tông đã phải hạ bút phê một câu đầy xúc động như vậy khi duyệt lại bản thảo Thích khoa giáo mà chính Trần Nhân Tông đã giao cho Huyền Quang biên soạn.

Nhưng lãnh đạo một giáo hội không có nghĩa là chỉ lo thuần túy về chuyện giáo hội không thôi, mà ở vị trí ấy, dù muốn hay không, cũng phải giữ luôn cả vai trò Quốc sư nữa, nghĩa là phải cố vấn cho vương triều Trần cả về chính sách đối nội cũng như đối ngoại, vì Phật giáo lúc bấy giờ đã hiển nhiên là một tôn giáo đang chi phối mọi sinh hoạt của quốc gia Đại Việt. Như vậy, nếu người lãnh đạo chỉ có uyên bác không chưa đủ, mà còn cần nhiều đức tính khác nữa, như tinh thần nhập thế tích cực chẳng hạn. Nhưng tinh thần này Huyền Quang hoàn toàn không có, ông chỉ muốn rút lui ra khỏi cuộc đời. Nói một cách chính xác hơn, thì Huyền Quang muốn rút lui ra khỏi những trò chơi vô nghĩa của cuộc đời.

Theo Huyền Quang, sở dĩ con người chạy theo quyền lực, lợi danh và giàu sang không biết mệt mỏi, vì con người quên mất rằng mình chẳng là gì cả, mà thực ra chỉ là một sinh vật nhỏ bé đáng thương đang băng hoại một cách nhanh chóng giữa dòng thời gian vô tận.

Huyền Quang muốn đánh thức giấc ngủ mê của con người dậy, chỉ khi nào con người từ bỏ những trò chơi vô nghĩa và phù phiếm này, thì mới có một cái nhìn khác về cuộc đời:

Giàu sang đến chậm như mây nổi,
Năm tháng trôi vèo tựa nước sa.
Rừng suối chi bằng về ẩn quách,
Gió thông một sập, chén đầy trà (2).
(Tặng sĩ đồ từ đệ – Huệ Chi dịch)

Có lẽ chính tinh thần có vẻ như tiêu cực triệt để ấy đã khiến Pháp Loa và các nhà lãnh đạo giáo hội Yên Tử phải chọn Huyền Quang chăng?

Trần Nhân Tông xuất gia năm 1299, nhưng trước đó ông đã là một ông vua anh hùng từng lãnh đạo toàn dân đánh tan hai cuộc xâm lăng của đế quốc Nguyên Mông (1285-1288); và cũng là ông vua duy nhất trong các triều đại phong kiến của nước ta đã có một hành vi thiết thực biểu thị sự tôn trọng ý dân khi đất nước lâm nguy. Chẳng phải từ lâu rồi, Hội nghị Diên Hồng đã trở thành một biểu tượng trong tâm linh dân tộc, một giấc mơ còn rọi sáng mãi đến nay đó hay sao?

Một ông vua như vậy mà đi tu, rồi trở thành người đứng đầu giáo hội Trúc Lâm Yên Tử thì chắc chắn phải được sự hỗ trợ tích cực không những của vương triều Trần mà cả toàn thể dân tộc nữa. Nhưng sau hơn một phần tư thế kỷ Phật giáo liên hệ quá mật thiết với triều đình – đã đến lúc Pháp Loa và các Thiền sư núi Yến Tử thấy cần phải đưa sinh hoạt của giáo hội mình tránh xa khỏi chốn triều đình chăng?

Dù sao thì việc các nhà sư thân cận với giới quý tộc – hoặc giới này thường lui tới chốn Thiền môn – có được giải thích thế nào đi nữa, thì vẫn hại nhiều hơn là có lợi-nhất là với Phật giáo, mà mục đích tối hậu vẫn là làm một cuộc giải phóng toàn triệt, mà bước đầu là mỗi cá nhân phải tự mình chặt đứt những hệ lụy của mình với trần gian. Huyền Quang cũng đã từng làm quan, rồi lại xin từ chức mà đi tu, thì chắc chắn Huyền Quang phải xem thường những nơi quyền thế đó rồi. Ta có thể kết luận mà không sợ lầm rằng, đó là lý do đã khiến các Thiền sư núi Yên Tử đưa Huyền Quang lên kế thừa.

Tất cả những người viết sử đều xem giai đoạn Huyền Quang lãnh đạo giáo hội Trúc Lâm Yên Tử là khởi đầu sự suy tàn của Phật giáo Việt Nam. Điều đó đúng, nếu ta nhìn trên hình thức tổ chức, vì dưới sự lãnh đạo của Huyền Quang, những hình thức để củng cố cơ sở của giáo hội như đắp tượng Phật, đúc chuông, xây chùa tháp, phát triển kinh tế tự túc cho các Thiền viện, đều gần như ngưng trệ, nếu ta so sánh với thời gian trước, nghĩa là dưới thời Trần Nhân Tông và Pháp Loa lãnh đạo.

Nhưng chính sự phát triển hình thức quá mạnh trước đó buộc Huyền Quang phải gánh lấy tai tiếng trên hai vai gầy yếu của mình. Thực ra, những hình thức tổ chức thì không có gì hại cả, mà còn là một phương tiện cần thiết để truyền bá đạo pháp nữa. Nhưng thời nào cũng vậy, cũng đầy những con người có tâm địa xấu xa, chính những người này đã lợi dụng những hình thức tổ chức đó để mưu đồ bất chính cho bản thân mình. Một số tu sĩ thời đó đã khoác áo tu chắc chắn vì thời thế nhiều hơn là vì lý tưởng giải thoát. Một nhà Nho đã viết: "… Vì thế những nơi u nhã thanh kỳ trong nước, chùa chiền đã chiếm mất một nửa. Bọn áo thâm áo vàng tụ tập ở đấy không cày mà ăn, không dệt mà mặc; những người thất phu thất phụ thường bỏ nhà cửa, bỏ làng xóm lũ lượt đi theo …" (3). Những lời trên có thể đã phản ánh rất đúng về thực trạng của Phật giáo Việt Nam đang trong thời kỳ cực thịnh đó. Nhưng điều cần bàn ở đây là thái độ bài bác Phật giáo của Trương Hán Siêu – chắc chắn Trương Hán Siêu không phải lên tiếng trong tinh thần:

Anh hùng tiếng đã gọi rằng,
Giữa đường dầu thấy bất bằng mà tha.

Mà lên tiếng chỉ vì lòng ganh tị hẹp hòi của một Nho sĩ đối với Phật giáo. Nhưng nói cho cùng, các nhà Nho ganh tị với Phật giáo cũng là một điều dễ hiểu, vì suốt cả đời họ, việc đeo đuổi đèn sách chỉ có mỗi một đích duy nhất: kiếm cho được một địa vị, trở thành ông quan để hưởng vinh hoa phú quý! Đó là kết quả tất nhiên của cái học từ chương, cái học cứng nhắc, quá lắm cũng chỉ tạo ra được một Tô Hiến Thành hay một Chu Văn An, tức là những ông quan liêm chính, mẫu mực của triều đình. Nhưng khi những nhà Nho ganh tị với Phật giáo mà họ lại quên mất điều quan trọng này, rằng những con người ngoại lệ, những kẻ khai sơn phá thạch đều xuất thân từ những nền văn hóa từ chối giáo điều, có nghĩa là nền văn hóa đó phải khuyến khích tự do sáng tạo, tự do tư tưởng, và nhất là không chấp nhận những công thức đã có sẵn từ trước. Bởi vậy, chính Vạn Hạnh Thiền sư đã mách bảo Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long (thủ đô Hà Nội hiện nay). Phải từ kinh đô mới này mà ý thức tự chủ và tự cường của dân tộc mới phát triển đến cao độ. Chính cái ý thức này đã làm cho đất nước hùng mạnh trong gần 5 thế kỷ, và ý thức đó chỉ tàn lụi vào cuối đời Trần, nghĩa là khi Phật giáo đã mất dần ảnh hưởng, để nhường chổ lại cho ý thức hệ Nho giáo.

Nhưng dù sao, thì việc Trương Hán Siêu và các Nho sĩ đời Trần lên tiếng bài bác Phật giáo cũng đã để lại cho ta một bài học vô cùng giá trị. Bài học đó, theo thiền ý người viết, giản dị như thế này: Phật giáo nên rút lui sau khi đã hoàn thành sứ mạng cứu giúp cuộc đời, và không nên tìm một chỗ đứng trong chính sự để củng cố và phát triển tôn giáo của mình.

Huyền Quang dù bấy giờ đã là người đứng đầu giáo hội Trúc Lâm Yên Tử vẫn không đến ở và làm việc tại chùa Quỳnh Lâm và Báo Ân, như Pháp Loa trước đó đã làm. Trái lại, Huyền Quang về ẩn cư luôn ở núi Thanh Mai và Côn Sơn cho đến khi mất, bởi lẽ khi đọc lại các sử liệu, ta thấy Quỳnh Lâm và Báo Ân là những chùa quá giàu có, vì được sự hỗ trợ tích cực của vương triều Trần. Có phải Huyền Quang muốn điều chỉnh lại một giai đoạn lịch sử đã qua? Đồng thời ông muốn vạch một hướng đi khác cho Phật giáo Đại Việt chăng? Vì với những con người đang đeo đuổi giấc mộng giải thoát thì núi rừng và những ocn đường mịt mù đầy cát bụi ở những nơi chốn xa xôi kia mới chính là chỗ tới lui đích thực của đời mình.

Khi đã về với núi rừng rồi. Huyền Quang đã tự bày tỏ: Bào chuyết vô dư sách (Giữ thói vụng về, không có mưu chước gì).

Câu thơ ấy, Huyền Quang làm khi đã về ở trên núi Yên Tử, và bộc lộ rõ trong bài Yên Tử sơn am cư.

Am bức thanh tiêu lãnh (Am sát trời xanh lạnh,
Môn khai vân thượng tằng. Cửa mở trên tầng mây.
Dĩ can Long Động nhật, Động Rồng trời sáng bạch,
Do xích Hổ Khê băng. Khe Hô lớp băng dày.
Bão chuyết vô dư sách, Vụng dại mưu nào có,
Phù suy hữu sấu đằng Già nua gậy một cây.
Trúc lâm đa túc điểu, Rừng tre chim chóc lắm,
Quá bán bạn nhàn tăng Quá nửa bạn cùng thầy) (4).
(Đỗ Văn Hỷ dịch)

Những ai đã từng sống trên núi cao, hay nói một cách khác đang nuôi dưỡng ngọn núi cao ngất ngưởng trong hồn mình, thì niềm vui đến với họ cũng rất giản dị. Bởi vì niềm vui đó được trào vọt ra từ chính đời sống nội tâm tràn đầy của họ. Sở dỉ đời sống của chúng ta trở thành rối rắm và phức tạp, kể cả việc tranh giành và sát phạt lẫn nhau, cũng chỉ vì chúng ta cứ đuổi bắt hoài những niềm vui đến từ bên ngoài đó thôi.

Đối với những kẻ chỉ biết vui vật dục tầm thường thì ngồi nhìn cuộn khói tỏa ra từ bếp lửa trong đêm sắp tàn, thấy có gì vui đâu? Vậy mà Huyền Quang cùng với chú tiểu đồng dường như bắt gặp được niềm vui chứa chan trong lòng:

Củi hết, lò còn vương khói nhẹ,
Sơn Đồng hỏi nghĩa một chương kinh.
Tay cầm dùi mõ, tay nâng sáo,
Thiên hạ cười ta cứ mặc tình (5).
(Địa lô tức sự – Nguyễn Lang dịch)

Nhưng khi một người đã can đảm vứt bỏ hết tất cả những hệ lụy của cuộc đời, thì người ấy sẽ sống bằng cách nào? Sống bằng chính sức mạnh nội tâm của họ. Chính sức mạnh kỳ lạ này, mà đã biết bao nhiêu bậc hiền nhân trác việt tự bao đời, đã lên đường để đến những nơi thâm sơn cùng cốc, tìm kiếm cho được sự thanh bình trong chính họ.

Huyền Quang đã lên đường, và chắc là ông đã bước vào được cõi ấy rồi! Vì tiếng thơ của ông như tỏa ra một niềm bình an vô hạn:

Vườn tược cha ông mặc sức cày,
Quanh nhà xanh nượp mấy hàng cây.
Ngoài song, cành quế chim cưu vắng,
Gió mát, tiền miên giấc ngủ ngày (6)
(Trú Miên – Kiều Thu Hoạch dịch)

Phản quan trần thế giới,
Khai nhãn túy mang mang.
(Ngoảnh nhìn lại cõi đời bụi bặm,
Mở mắt, mà dường như say choáng váng) (7).

Hai câu thơ trên được xem như sự bày tỏ quan niệm của Huyền Quang về cuộc đời. Theo ông cuộc đời dù đau khổ, nhưng cuộc đời vẫn đẹp, đó chính là sức quyến rũ kỳ lạ của nó. Dù có đau khổ, nhưng chẳng phải mỗi năm bông cúc vàng vẫn cứ nở để báo mùa thu mênh mông đang trở về cùng với sương mù và giá lạnh:

Niên niên hòa lộ hướng thu khai,
Nguyện đạm phong quang thiếp thốn hoài.

(Cúc hoa)
(Thu về, móc nhẹ cúc đơm bông,
Gió mát trăng thanh dịu nỗi lòng) (8)
(Băng Thanh dịch)

Và trên những nẻo đường của trần gian, dù vẫn đầy cát bụi nhưng những nàng con gái đôi tám xinh đẹp vẫn cứ ngồi dệt mộng yêu đương, khi mùa xuân chợt đến:

Nhị bát giai nhân thích tú trì,
Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly.
Khả liên vô hạn thương xuân ý,
Tận tại đình châm bất ngữ thì.

(Xuân nhật tức sự)
(Người đẹp tuổi vừa đôi tám ngồi thêu gấm chậm rãi,
Dưới lùm hoa tử kinh đang nở, líu lo tiếng chim oanh vàng
Thương biết bao nhiêu cái ý thương xuân của nàng,
Cùng dồn lại ở một giây phút dừng kim và im phắc) (9)

Dù đó là bài thơ Thiền thuộc đời Tống của Trung Quốc, như một bài báo gần đây nhất đã tìm được xuất sứ, nhưng bài thơ vẫn là bài thơ của thế giới Thiền. Như vậy ta có thể đoán rằng, khi Huyền Quang ghi lại bài thơ này vào trong tập thơ của mình, Huyền Quang chỉ muốn dùng bài thơ đó để phát biểu một điều mà ngôn ngữ bình thường không thể diễn đạt được.

Huyền Quang muốn nói lên điều gì qua bài thơ đó? Sự chuyển hóa nội tâm chăng? Có thể xem đó như là một biến cố quan trọng, mà bất cứ một Thiền sư nào cũng đều phải trải qua. Khi cái giây phút mầu nhiệm ấy đến rồi, thì một thế giới mới sẽ hiện ra; và kể từ đây cuộc đời các Thiền sư sẽ không còn tù túng, chật hẹp, không còn cũ kỹ, nhàm chán và vô vị nữa. Một đời sống mới vừa bắt đầu.

Phải chăng, các Thiền sư muốn tạm ví cái giây phút đó giống như cái giây phút mà người con gái lần đầu chợt biết rung động, cái giây phút mà trong bài thơ đã gọi là Tận tại đình châm bất ngữ thì (Cùng dồn lại ở một giây phút dừng kim và im phắc).

Có một số ngươì từ lâu vẫn ngạc nhiên không ít về nội dung của bài thơ ấy. Sự thắc mắc này chỉ đúng đối với chúng ta, những người còn đang muốn chinh phục và chiếm hữu cái đẹp về riêng cho mình. Bởi vì còn muốn chiếm hữu nên ta mới phân biệt cái đẹp này tốt và cái đẹp kia xấu, nên chọn cái này và không nên chọn cái kia.

Các Thiền sư thì đã vượt qua được giới hạn ấy, vì họ trực nhận được rằng, tất cả cái đẹp bên ngoài chỉ là sự phóng hiện cái đẹp từ bên trong. Nếu trong ta có vạn đóa hoa và vạn cánh bướm đang bay chập chờn, thì vũ trụ lúc ấy cũng tràn ngập hoa và bướm. Vậy thì, có ích không nếu ta cứ tiếp tục đi tìm hoa và bướm ở bên ngoài?

Một bữa nọ, chắc là Huyền Quang vừa rời am Thiền để đi dạo, chợt gặp mấy cô gái đang hái hoa cúc và cài lên mái tóc của mình, Huyền Quang như muốn trách nhẹ với họ:

Kham tiếu bất minh hoa diệu xứ,
Mãn đầu tùy đáo tháp quy lai.
(Thật đáng cười kẻ không hiểu về huyền diệu của hoa,
Đến đâu là hái hoa dắt đầy đầu mà về (10)

Khi ta không còn phân chia giữa ta và thế giới nữa thì mọi sự chung quanh ta không phải là cái gì đối nghịch, hay xa lạ với chính ta, thực ra là bạn bè đã cùng rong chơi từ muôn thuở trước:

... Chủ nhận dữ vật hồn vô cạnh
(Người và vật hồn nhiên không tranh cạnh) (11)

Nhưng không phải ngẫu nhiên mà có được cái đẹp trọn vẹn như vậy, mà phải trải qua biết bao là khổ luyện mới thành tựu được:

Vương thân vương thế dĩ đô vương,
Tọa cửu tiêu nhiên nhất tháp lương.
Tuệ vãn sơn trung vô lịch nhật,
Cúc hoa khai xứ tức trùng dương.

(Cúc hoa, bài III)

(Quên mình, quên đời, đã quên tất cả,
Ngồi lâu trong hiu hắt, mát lạnh cả giường.
Cuối năm ở trong núi không có lịch,
Thấy cúc nở biết rằng đã tiết trùng dương) (12)

Khi một nhà hiền triết lánh đời để sống ẩn dật trong rừng sâu, một lãnh tụ xuất chúng hy sinh quên mình để cải hội, một nhà thơ miệt mài làm thơ để ca tụng vẻ đẹp của cuộc đời, hay một Thiền sư tịch cốc để đối mặt với khoảng vắng lặng mênh mông, tất cả những việc làm đó của họ, không ngoài mục đích nào khác hơn là phá cho được một con đường đề tự cứu mình và từ đó, giải phóng luôn những thống khổ muôn đời của kiếp người.

Thu phong nhọ phất thiềm nha,
Sơn vũ tiêu nhiên chầm lục la.
Dĩ hỹ thành Thiền tâm nhất phiến,
Cùng thanh tức tức vị thùy đa.

(Sơn vũ)
(Gió thu khuya khoắt thoảng hiên ngoài,
Quạch quê nhà non lấp ruổi gai.
Thôi đã theo Thiền lòng lặng tắt,
Nỉ non tiếng dễ vẫn vì ai?) (13)
(Huệ Chi dịch) 

Khi tấm lòng họ đã hiến dâng trọn vẹn cho sự thống khổ của con người, thì bất cứ tiếng rên la kêu cứu nào, họ cũng đều lắng nghe:

Chích máu thành thư gửi mấy dòng,
Lẻ loi nhạn lạnh, ai mây phong.
Mấy nhà ngóng nguyệt đêm nay nhỉ?
Góc bể chân mây, một mảnh lòng.
(Ai phù lô – Huệ Chi dịch)

Bởi vậy, lý thuyết nào không giải quyết được sự đau khổ của con người thì nhất định lý thuyết đó sẽ bị con người loại bỏ, và đương nhiên cũng sẽ trở thành lỗi thời.

Dường như cuối cùng chỉ còn có tình thương, vì sự thông khổ của con người (chứ không phải lý thuyết) mới không bao giờ lỗi thời mà thôi.

Nha Trang, 1991

Tham khảo:
Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 1. Nxb. Lá bối, Paris, 1977; tr. 369.
Thơ văn Lý Trần tập II, Q.thượng. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1989; tr. 697.
Trương Hán Siêu: Văn Bìa chùa Khai Ngiêm. Thơ văn Lý Trần. Sđd; tr. 748.
Thơ văn Lý Trần. Sđd; tr. 684.
Việt Nam Phật giáo sử luận. Sđd; tr. 370.
6,7,8. Thơ văn Lý Trần. Sđd; tr. 691, 682 và 702.
Thơ văn Lý Trần. Sđd; tr. 681. Bài này, theo khảo cứu của ông Lê Mạnh Thát, vốn là một bài thơ đời Tống. Xem Tạp chí Văn học số 1-1984.
10,11,12,13. Thơ văn Lý Trần. Sđd; tr. 701, 700, 692 và 693.

Monday, June 3, 2019

Nguyễn Hoàng Lãng Du Và ‘Phẩm Vật Của Trần Gian’

Nguyễn Hoàng Lãng Du 
Và ‘Phẩm Vật Của Trần Gian’
Huỳnh Kim Quang

Tôi biết nhà thơ Nguyễn Hoàng Lãnh Du rất tình cờ khi đọc tuyển tập thơ “Tâm Trong” cách nay vài năm do một người bạn từ xa gửi tặng.

“Tâm Trong” là tuyển tập gồm thơ của 10 nhà thơ, mà trong đó nhà thơ Nguyễn Hoàng Lãng Du là một.

Dường như cái duyên với anh đến từ đó. Có lần nhà thơ Nguyễn Hoàng Lãng Du đến Nam Cali tôi đã có dịp gặp trực tiếp. Dù chưa có cơ hội hàn huyên tâm sự nhiều, nhưng qua lần sơ ngộ tôi đã có cảm tình đặc biệt dành cho anh.

Rồi, bổng một ngày tháng 5 tôi lại nhận được tác phẩm “Phẩm Vật Của Trần Gian” của Nguyễn Hoàng Lãng Du, do Bodhi Media xuất bản năm 2019, gửi tặng. Tôi tò mò muốn đọc xem thử trong đó “Phẩm Vật Của Trần Gian” là gì, nhưng những ngày trong tuần công việc làm đã lôi tôi chạy mãi không ngừng được. Cuối tuần rồi, ngồi ở quán cà phê vắng vào buổi chiều nắng nhạt cuối xuân, tôi lật từng trang sách cho thỏa lòng tò mò.

Càng đọc “Phẩm Vật Của Trần Gian” càng thấy đúng là tác phẩm này chứa đựng nhiều phẩm vật vô giá trên trần gian. Không phải cái vô giá của một thời đại nhất định nào đó, mà là cái vô giá của mọi thời đại, từ ngàn xưa đến ngàn sau.

Tôi có nói quá chăng?

Chắc là không.

Có ai không nghĩ rằng những lời dạy của Đức Phật là di sản giá trị vô bờ của nhân loại mà mọi thời đại.

Có ai không cho rằng những lời dạy và cuộc sống thiêng liêng cao cả của Chúa Jesus đã trở thành tấm gương vô giá cho nhân loại ở mọi thời đại noi theo.

Có ai phủ nhận được rằng Mẹ Teresa có tấm lòng bác ái vô biên mà hậu thế vạn đời sau vẫn tôn kính.

Còn gần cả trăm câu chuyện những nhân vật lớn của nhân loại từ xưa tới nay đã đóng góp vào di sản loài người những phẩm vật vô giá như thế. Tác phẩm “Những Phẩm Vật Của Trần Gian” của Nguyễn Hoàng Lãng Du cưu mang những tấm gương và phẩm vật vô giá đó.

Có thể công việc thực hiện tác phẩm này không có gì khó làm đối với nhiều người, bởi vì chỉ cần bỏ công sưu tầm và biên soạn những mẫu chuyện đại loại như thế trong sách báo hay Google, rồi viết lại và in thành sách, là được.

Ngoài cái vô giá của tự thân những tấm gương rực sáng, những nhân cách lớn,  những tâm hồn vĩ đại, và những triết thuyết cao siêu - tự nó đã là vô giá bất kể là tác giả nào sưu tầm và in thành sách - giá trị của tác phẩm “Những Phẩm Vật Của Trần Gian” còn nằm ở chỗ cái tâm rộng lớn của Nguyễn Hoàng Lãng Du.

Nói thế cũng không phải là quá đáng.

Khi sưu tầm những “Phẩm Vật Của Trần Gian,” Nguyễn Hoàng Lãng Du đã có đủ nội lực để vượt qua mọi biên giới của tư tưởng, triết học, giai cấp, xã hội, quốc gia, và đặt biệt là tôn giáo. Anh làm việc này bằng cái tâm và trí rộng mở, không một chút phân biệt và hạn cục ở bất cứ lãnh địa nào. Có lẽ đối với anh, giá trị vô lượng của những phẩm vật đó là thứ không thể bị chôn sấu trong những khuôn thước cục bộ mà đáng để tôn vinh. Điều này thì không phải ai cũng làm được.

Khi kể về Thánh Gandhi, Nguyễn Hoàng Lãnh Du viết như sau:

“Thánh Gandhi lãnh đạo chống sự đói nghèo, tăng quyền cho phụ nữ và xây dựng tình hữu nghị giữa các tôn giáo, chủng tộc tại quốc gia ông.”...

“Người cha khả kính của dân tộc Ấn nói: “Tôi không có gì mới để dậy thế giới. Sự Thật và Bất Bạo Động là những thứ xưa cũ như những ngọn đồi.”

Kể chuyện và Chúa Jesus, Nguyễn Hoàng Lãng Du viết rằng:

“Phêrô là môn đệ của Đức Giêsu. Một lần ông hỏi:

Thưa thầy nếu anh em con cứ xúc phạm đến con thì con phải tha thứ đến mấy lần? Có phải bẩy lần không?
Đức Giêsu đáp:

Thầy không bảo là đến bẩy lần nhưng là đến bẩy mươi lần bẩy.”
Câu chuyện về “Cái Tâm” mà Nguyễn Hoàng Lãng Du kể trong “Phẩm Vật Của  Trần Gian” thì vừa vui vừa ý nghĩa như sau:

“Một hôm danh sĩ họ Tô (Tô Đông Pha) hỏi thiền sư Phật Ấn:

Thầy thấy tôi như thế nào?
Thiền sư trả lời:

Giống như một vị Phật.
Thiền sư hỏi:

Còn ông thấy tôi ra sao?
Thấy Phật Ấn mập tròn, mặc áo đen nên ông đáp:

Giống như một bãi phân bò.
Nhà sư mỉm cười không nói gì. Ông về nhà kể lại chuyện cho cô em gái (Tô Tiểu Muội).

Tô Tiểu Muội nói:

Tâm của thầy là tâm Phật nên nhìn ai cũng là Phật. Tâm anh là gì mà nhìn thấy thầy là phân bò?”
Còn rất nhiều mẫu chuyện như phẩm vật vô giá trên trần gian mà Nguyễn Hoàng Lãng Du đã kể cho chúng ta nghe.

Có một cuốn sách như vậy trong kệ tủ ở nhà để thỉnh thoảng mở ra đọc và chiêm quan những phẩm vật quý giá này là điều rất hạnh phúc và rất nên.

Độc giả có thể liên lạc với nhà xuất bản để mua sách qua địa chỉ email: c.mindful2020@gmail.com , hoặc liên lạc địa chỉ của nhà xuất bản Bodhi Media: 3119 Alta Arden Expressway, Sacramenton, CA 95825.

Cảm ơn tác giả Nguyễn Hoàng Lãng Du.


Caption:
Hình bìa của tác phẩm “Phẩm Vật Của Trần Gian.”(nguồn: https://uyennguyen.net)

Saturday, June 1, 2019

KIM QUANG BUDDHIST YOUTH SCHOLARSHIP 2019 - HỌC BỔNG GIA ÐÌNH PHẬT TỬ KIM QUANG 2019


KIM QUANG BUDDHIST YOUTH SCHOLARSHIP

HỌC BỔNG GIA ÐÌNH PHẬT TỬ KIM QUANG


Purpose:

The purpose of the Kim Quang Buddhist Youth Scholarship is designed to provide a small financial reward and encouragement to students who demonstrate commitment to GÐPT, academic excellence, and a willingness to contribute to the betterment of their families, schools, and community.  One of our goals at GÐPT is to instill the principle that happiness and social well-being of each individual, our families, and communities will depend upon the daily practice and application of the basic teaching of Buddha – compassion and wisdom; commitment to excellence; and service to others.  Thus, we believe this scholarship will be served as an encouragement to continue these efforts and a small reward for the diligent practice of the Buddha’s teaching.


Mục Đích:

Học Bổng GĐPT Kim Quang nhằm khích lệ tinh thần và một chút tài chánh để khuyến khích những đoàn sinh hiểu biết những căn bản của GĐPT, và có lý tưởng phục vụ cho gia đình, học đường, và xã hội.  Ở GĐPT, chúng tôi hiểu là hạnh phúc và an lạc của mỗi cá nhân, gia đình, và xã hội sẽ tùy thuộc vào nền tảng giáo lý căn bản của Đạo Phật - Từ bi, Trí tuệ - và cũng tùy thuộc vào những người có tinh thần phục vụ cho lợi ích nhân sinh.   Những nguyên tắc trên là kim chỉ nam của tổ chức GĐPT; đã được hướng dẫn và dạy dỗ cho đoàn sinh ở mọi lứa tuổi. Vì vậy cho nên chúng tôi tin là học bổng này sẽ hỗ trợ các em tiếp tục lý tưởng phục vụ trên.


Eligibility Requirements:

        • Current high school senior graduating in June 2019

        • Vietnamese heritage or at least 50% Asian heritage

        • Currently an active member of GÐPT in the United States of America with a minimum of 2 years membership

        • Plan to attend a community college or university in Fall 2019


Điều Kiện:

        • Đang là học sinh lớp 12 niên khóa 2018-2019 và sẽ tốt nghiệp bậc Trung Học vào tháng 6/2019

        • Tối thiểu là 50% gốc Việt Nam hoặc Á Châu

        • Đang thường xuyên sinh hoạt với GĐPT ở Hoa Kỳ với ít nhất 2 năm thâm niên

        • Sẽ ghi danh học cao đẳng hoặc đại học khóa mùa thu 2019


A Completed Application Includes:

  • Completed application form (attached)

  • 1-2 page personal statement or 500 words essay - approximately (see application for questions)

  • Current high school grade transcript

  • At least one letter of recommendation

  • A Membership Verification Form completed by GĐPT chapter leader including chapter’s seal

Hồ Sơ Gồm Có:

  • Điền đơn đính kèm đầy đủ

  • Viết bài luận ngắn về mình, hoặc bài tiểu luận khoảng 500 từ (xem câu hỏi trong đơn kèm)

  • Phiếm điểm của trường trung học

  • Ít nhất là một lá thư giới thiệu

  • Thư kiểm chứng sinh hoạt được Liên Đoàn Trưởng hoặc Bác Gia Trưởng điền và đóng dấu đơn vị



Selection Criteria & Process:

The criteria for selecting scholarship recipients are:  personal strengths, (such as maturity, motivation and potential to succeed), knowledge of GÐPT’s philosophy or your own religion, community contribution, and academic achievement.


The Kim Quang Buddhist Youth Organization will award 3 scholarships, worth $500 each, to the three most qualified students.

Điều Kiện Tuyển Chọn:

Những khả năng cá nhân, (v.d. sự trưởng thành, động cơ, khả năng thành đạt), thông hiểu mục đích và đường hướng của tổ chức GĐPT, đóng góp cho cộng đồng, và có khả năng học lực cao.


GĐPT Kim Quang sẽ phát 3 học bổng trị giá $500 đô la cho ba em có những điều kiện tốt nhất được nêu trên.



Applications with all attachments must be submit online by July 20, 2019 11:59PM:

Xin nộp đơn trên mạng trước ngày 20 tháng 7 năm 2019 11:59PM:



For More Information:

This application can be downloaded from GÐPT Kim Quang  website at http://www.gdptkimquang.org. For additional information, please email: Kim Quang Buddhist Youth Scholarship Committee at kimquangscholarship@gmail.com


Chi Tiết:

Đơn Xin Học Bổng có thể lấy xuống từ trang nhà GÐPT Kim Quang tại http://www.gdptkimquang.org.  Muốn biết thêm chi tiết, xin liên lạc điện thư: Học Bổng GĐPT Kim Quang tại kimquangscholarship@gmail.com