Saturday, March 28, 2020

Họa sĩ Trần Thế Vĩnh: “Trong cô đơn, người nghệ sĩ tìm thấy chính mình”

Lời dẫn: Nhân dịp về Việt Nam lần cuối, hữu duyên hẹn Vĩnh lên Pleiku thăm Thầy, thăm bạn trong buổi sinh hoạt Có Mặt Cho Nhau 4. Ở phi trường, Bốn chị em gặp nhau và đi cùng chuyến, mới tìm hiểu và thương người hoạ sĩ trẻ này. Vĩnh vốn rất nghệ sĩ và 'bụi trần lai láng' mà bình dị, Vĩnh chia sẻ là năm này, 2020, sẽ ra một tác phẩm sách bao gồm hơn 50 bức hoạ chân dung của những văn nghệ sỹ lớn của Miền Nam như Tuệ Sỹ, Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn, Văn Cao, Phạm Duy, Hàn Mặc Tử, Tô Thùy Yên, Nguyễn Bính, Lam Phương, Phùng Quán, Du Tử Lê, v.v... chúng tôi rất tán thán 'công đức' và đam mê nghệ thuật của bạn và khuyến tấn nên làm sách và các cuộn triễn lãm. Lotus Media có thể hổ trợ việc thiết kế nếu cần. Chúng tôi mong quý vị hãy tìm hiểu thêm về con người của anh và thưởng thức những tranh vẻ rất hồn pha lẫn những tấm lòng quý kính cho nhau. Quý vị hãy mua để ủng hộ người nghệ sĩ trẻ và tài hoa, gà trống nuôi con, này quý vị nhé. Xin trân trọng giới thiệu hoạ sĩ Trần Thế Vĩnh.

~Lotus Media,

Họa sĩ Trần Thế Vĩnh: “Trong cô đơn, người nghệ sĩ tìm thấy chính mình”

Mar 28, 2020 | By Trang Ps

“Những người nghệ sĩ độc thân hay có gia đình, bản thân anh ta vẫn luôn tồn tại cảm giác cô đơn. Trong cô đơn, họ mới tìm thấy chính mình.” Họa sĩ Trần Thế Vĩnh bình tâm chia sẻ và miên man trong làn khói thuốc mờ ảo.


Một buổi chiều Sài Gòn nọ, khi tất thảy 95 triệu người Việt Nam bất an và hoảng loạn trong tâm dịch Covid-19, các trang mạng như Facebook ngập tràn hình ảnh và nội dung về sự bùng phát virus nguy hiểm này, thì tôi bắt gặp một bức chân dung nhà thơ Bùi Giáng trong bảng màu sơn dầu thánh thoát và nên thơ do một người bạn chia sẻ lại. Bút pháp độc đáo với những nét phá “bất bình thường” khiến tác phẩm chân dung dội vào lòng tôi nỗi tò mò khôn tả. Ai là cha đẻ của bức họa này?
Chúng ta đang ở thời kỳ mà mọi câu hỏi đều có thể được giải đáp nhanh chóng thông qua một cú nhấp chuột, và cũng như vậy, tôi tình cờ biết đến họa sĩ Trần Thế Vĩnh, người đứng sau bức họa Bùi Giáng và 50 tác phẩm chân dung còn lại trong series bao gồm những văn nghệ sĩ trí thức tài hoa đã để lại tiếng vọng cho đời từ con người đến tác phẩm và đã khẳng định tên tuổi trước năm 1975 như: nhạc sĩ Phạm Duy, nhà thơ Tô Thùy Yên, nhạc sĩ Văn Cao, nhà thơ Nguyễn Bính, nhà thơ Hàn Mặc Tử, nhà văn Phùng Quán,…
Bộ tranh chân dung 51 bức được vẽ từ năm 2018 – 2019 là sự chuẩn bị cho một chương mới trong cuộc đời người họa sĩ khi anh quyết định ra mắt một cuốn sách ảnh và triển lãm cá nhân cho series thú vị này.
Câu chuyện tình cờ này phần nào dệt nối nhân duyên cho cuộc trao đổi giữa tạp chí Luxuo.vn và họa sĩ Trần Thế Vĩnh tại studio ngăn nắp và tràn đầy cảm hứng của anh ở Gò Vấp, Tp. HCM.

Chào họa sĩ Trần Thế Vĩnh! Điều gì đã khiến anh bén duyên với series 51 bức chân dung ý nghĩa này?

Cuộc đời người nghệ sĩ là một chuỗi những trải nghiệm mà ở đó anh ta biến hóa chúng thành chất liệu trên những tấm toan. Ai đó đã đúng khi nói họa sĩ chúng tôi đa đoan và nhạy cảm. Sau khi tốt nghiệp đại học mỹ thuật Huế, tôi bắt đầu sáng tác bằng sơn dầu là chính, bao gồm những tác phẩm thuộc phong cách biểu hiện và trừu tượng. Bộ tranh trừu tượng của tôi vẽ từ năm 2010 đã tham gia cuộc trưng bày ở Gallery Tự Do vào năm 2012. Từ năm 2013, tôi vẽ series chân dung tự họa và sau 3 năm thì thực hiện triển lãm cá nhân tiếp theo vào năm 2016. Chưa kể, tôi cũng biến duyên với dòng tranh thú một thời gian. Vào năm 2016, tôi lập gia đình và tập trung phần lớn thời gian vẽ biểu hiện.
Nhưng cũng chính từ đây đã mở ra trong cuộc đời tôi nhiều biến cố, từ việc chứng kiến gia đình mới đổ vỡ đến mất hai người mà tôi thương yêu nhất, hàng tháng trời, tôi không vẽ, tình trạng chán nản và buồn bã đó đeo bám tôi ngay cả khi tôi trở lại Sài Gòn. Tôi đọc kinh, đọc văn chương và nghe nhạc. Và khoảng lặng đó đã khiến tôi bén duyên với bộ chân dung này, khi tôi có dịp đọc và tìm hiểu những nhân vật tài hoa như Bùi Giáng hay Tô Thụy Yên.
Xuất phát của bộ tranh này là sự đau khổ. Càng đọc, tôi càng cảm nhận sự đồng điệu giữa cuộc đời mình và cuộc đời của những người mà tôi muốn vẽ. Đời sống nghệ sĩ phải chấp nhận đau khổ, và từ cái đau khổ đó, họ có chất liệu để kể câu chuyện của mình.
Con đường nghệ thuật là con đường nhạy cảm, lận đận và đa đoan. Ranh giới cảm xúc của họ mong manh từ đó dẫn đến cao trào đau khổ. Sinh ra làm nghiệp nghệ sĩ là do trời định.

Như vậy, theo anh, đau khổ là chất xúc tác cần thiết cho nghệ thuật?

Con người sinh ra không ai muốn đau khổ. Đến một lúc nào đó trong đời, chúng ta, một là tìm cách thoát khổ hoặc là chấp nhận đau khổ để tiếp tục cuộc sống này. Bản thân tôi cũng chưa một lần trông chờ vào biến cố hãy xảy ra, hãy để mình đau khổ, để rồi sáng tác.
Nhưng khi đau khổ tự nhiên kéo đến, con người có cơ hội nhìn lại, lắng đọng, chấp nhận nghịch cảnh và lúc này họ có được sự vững vàng góp phần tạo lực đẩy khủng khiếp cho nội tâm. Nhưng nếu anh cứ chìm đắm mãi trong khổ ải ấy, anh sẽ chẳng bao giờ vẽ nổi cái gì “nên hồn” trên tấm toan.
Giống như những ngày mưa gió bão bùng, đau khổ đến để nhắc nhở chúng ta biết sống và trân quý những ngày nắng đẹp, gió hiền. Chính Lão Tử cũng là người chịu nhiều khổ ải mới đắc đạo. Đức Phật cũng trải qua nỗi đau tột cùng mới đạt đến giác ngộ đó thôi. Nói đến đây để nhấn mạnh một điều rằng cuộc sống là vô thường, và dạy cho ta bài học về sự chấp nhận và đối diện với chính mình ở lúc này và ngay bây giờ.

Anh có thể chia sẻ về thói quen sáng tác cũng như trải nghiệm xúc cảm của mình trong và sau khi hoàn thành một bức chân dung?

Ngày nào tôi cũng vẽ, và thường vẽ vào buổi chiều đến đêm khuya. Vẽ cần sự tĩnh lặng bên trong lẫn bên ngoài và cùng với đó là sự nhập tâm. Dù trước lúc ấy, tôi đã đọc và nghiên cứu nhiều tác phẩm của họ, hiểu thơ ca và tư tưởng, nhưng khi vẽ, tôi quên mọi ngôn ngữ ấy đi để tập trung vào ngôn ngữ của chính mình. Không áp đặt. Vẽ trong vô thức. Và chính lúc này là khoảnh khắc diệu kỳ tạo nên trạng thái thăng hoa để đạt được một tác phẩm tốt.
Sự định tâm vô cùng quan trọng trong nghiệp sáng tác của người họa sĩ. Quá khứ của anh ta có thể băng qua nhiều biến cố, với những vết sẹo chưa lành, nhưng anh ta phải chấp nhận rằng mọi chuyện đã trôi vào dĩ vãng, lắng đọng và sắp xếp lại, thì lúc này anh ta có thể nhìn thấy chính mình qua những gì anh ta đã trải qua.
Vẽ xong thì thật sự sung sướng, y như tôi đang đối diện với chính mình, thích có người bạn cụng ly bia và ngồi với nhau tâm sự, chia sẻ. Hoặc không, tôi sẽ châm điếu thuốc và ngâm bức hình trong trạng thái miên man, say đắm.
Tôi nhận thấy cảm xúc con người mình phù hợp với sơn dầu: vừa mạnh mẽ, vừa lắng đọng và tình cảm. Với sơn dầu, bạn có thể vừa tạo ra độ trầm mặc, ào ạt cảm xúc, vừa có thể phô diễn nét thâm trầm của từng lớp màu.

Có một bộ phim mang tên Freedom Writers, trong đó người giáo viên đề nghị các em học sinh chịu nhiều thương tổn trong quá khứ viết nhật ký như một phương pháp chữa lành. Có lẽ, việc nét cọ di chuyển trên tấm toan cũng khiến cõi lòng người nghệ sĩ an yên hơn.

Đối với tôi, vẽ là đam mê và không vẽ, tôi không chịu được. Nhưng ý của bạn cũng đúng, rằng vẽ là một phương pháp chữa lành. Trong khi vẽ, người họa sĩ ấy đã chấp nhận những gì đã qua, cũng giống như những em học sinh viết nhật ký, họ đã chấp nhận để rồi đặt bút.
Khi có nhiều thứ lộn xộn đè nặng trong lòng, nếu người nghệ sĩ chưa giải quyết, họ khó mà vẽ. Vì lúc đó, họ sẽ bị phân tâm. Nhưng khi mọi gánh nặng đã lắng đọng – nghĩa là lúc này anh ta chấp nhận, anh ta sẽ sẵn sàng tâm sự với tấm toan ấy.

Khi nhìn vào những bức chân dung, tôi có thể thấy linh hồn nhân vật trong tranh vô cùng rõ ràng và sống động. Chắc hẳn điều đó đã nói lên phong cách nghệ thuật của riêng anh?

Vẽ chân dung là một chủ đề cơ bản của bất cứ ai khi bước chân vào nghiệp họa sĩ. Nhưng cái khó nhất của vẽ chân dung là lấy được thần thái của nhân vật. Khi bạn nhìn thấy ánh mắt Bùi Giáng trông như mắt thật, ấy chính là linh hồn tranh. Phải nghiên cứu về họ, đọc về họ, thấu cảm với họ, tôi mới có thể vẽ họ sống động như thế theo cách riêng của mình.
Phần sáng tạo của chân dung nằm ở bút pháp, bạn có thể thấy những “nét phá”, tưởng chừng như linh tinh trong tranh, lại là cái đặc biệt và đắt nhất của tác phẩm. Để đạt được điều đó, người nghệ sĩ phải biết buông, biết chấm, biết phá và biết thả. Đó chính là bản lĩnh.
Cũng có thể gọi đây là cách vẽ theo trực giác. Trực giác không có nghĩa là cảm giác suy đoán, phán đoán không cần cơ sở nào, mà là nhận thức mang tính trừu tượng. Người nghệ sĩ thường sở hữu trực giác quyết liệt, họ vẽ bằng trực giác ấy và lấy đó làm cơ sở tạo nên phong cách riêng của mình.

Anh từng nhấn mạnh trong cô đơn, người nghệ sĩ mới tìm thấy chính bản thân mình. Anh có thể lý giải điều này như thế nào?

Thật thế, những người nghệ sĩ độc thân hay có gia đình, bản thân anh ta vẫn luôn tồn tại cảm giác cô đơn. Trong cô đơn, họ tìm thấy chính mình. Có thể, khi với gia đình, họ cũng là một con người bình thường như ai khác thôi, nhưng có thể là vì họ biết cách cân bằng, họ ghìm những xúc cảm của mình lại để hòa quyện vào đám đông.
Nhưng tâm tư tình cảm của người nghệ sĩ hết sức phức tạp, mấy ai hiểu hết tâm hồn họ, và do đó, họ cũng khó khăn khi tìm kiếm người đồng điệu, một người có thể thấu hiểu, lắng nghe và cùng chia sẻ. Ngày xưa khi có gia đình, tôi cũng phải cố gắng ghìm cảm xúc, nhưng có lẽ thiên tính nghệ sĩ trong tôi quá mạnh và người bình thường khó lòng sống nổi với cảm xúc ấy. Chính vì vậy, khi ở với gia đình, tôi cũng có cảm giác như đang ở một mình thôi, vì mình đang sống trong tâm trí của mình.

Từng có thời điểm con người tranh cãi “nghệ thuật vị nghệ thuật” hay “nghệ thuật vị nhân sinh”, với anh thì sao?

Cả hai quan điểm đó đều sai, là vì người ta không hiểu về nghệ thuật. Bản thân nghệ thuật là nghệ thuật và là cuộc sống. Cuộc sống là nghệ thuật và nghệ thuật cũng là cuộc sống. Chúng không thể tách rời. Chẳng qua, vì mâu thuẫn chính trị nên con người cũng mâu thuẫn tư tưởng và đấu tranh lẫn nhau.
Nghệ thuật vị nghệ thuật đề cao tính cá nhân, và nghệ thuật vị nhân sinh đề cao tính tập thể. Nhưng cớ sao phải đưa nghệ thuật ra mổ xe như vậy? Vì vốn dĩ bản thân nghệ thuật đã có tất cả mọi thứ, nó là vòng tròn đầy đủ. Người nghệ sĩ trước tiên phải đề cao tính cá nhân của anh ta, chắc chắn anh ta phải có cái tôi riêng thì mới có thể sáng tạo nghệ thuật. Sáng tạo ấy xuất phát từ rung động cá nhân, chứ không phải tập thể. Nhưng vốn dĩ, rung động đó cũng bắt nguồn từ cuộc sống mà thôi. Thơ ca, văn học, âm nhạc… suy cho cùng đều lấy chất liệu từ cuộc sống ấy mà.

Suốt cuộc đời mình, có những người men theo một hệ tư tưởng chung để vẽ, có người thay đổi, còn anh thì sao?

Tôi là người có hệ tư tưởng liên kết nhau qua từng series tranh. Bởi con người luôn biến đổi, vạn vật vô thường, tư tưởng của tôi ngày mai có thể khác ngày hôm nay, và có thể được chắp nối và hoàn thiện dựa trên tư tưởng cũ. Tác phẩm của tôi cũng men theo hệ tư tưởng bổ sung và hoàn thiện theo thời gian đó. Tôi không thích lặp lại con người mình, tôi yêu thích tự do, vượt thoát mọi ranh giới và vượt thoát cả chính bản thân tôi. Có lẽ, tôi là người đòi hỏi nhiều về sự sáng tạo.
Cám ơn anh vì những chia sẻ hết sức thú vị!
Bài: TRANG PS | Ảnh: RAB HUU STUDIO

Nguồn: Luxuo.vn 

Friday, March 27, 2020

Hoa lòng trong cơn đại dịch

Designed by @YC
Hoa lòng trong cơn đại dịch

Giữa mùa đại dịch đang nở rộ, những đóa hoa lòng của những người hảo tâm đang bắt đầu mở ra, vươn bàn tay giúp đỡ tới những người cần giúp. Trước cơn đại dịch, con số người chết và nhiễm bệnh ngày một tăng theo cấp số nhân ở Hoa Kỳ và thế giới, Hoa Kỳ đã bước vào cơn khủng hoảng thiếu trầm trọng các thiết bị y tế cá nhân. Các bác sĩ và y tá và các nhân viên y tế đang thống thiết kêu gọi dân chúng ai có các thiết bị y khoa như mặt nạ khẩu trang đeo mặt, bao tay nylon, tấm chắn mặt y tế, áo choàng phẫu thuật, làm ơn hiến tặng cho họ. Họ là các chiến sĩ ở tuyến đầu trận chiến chống đại dịch, đã hy sinh bản thân để giúp và cứu chúng ta. Nếu họ bị lây nhiễm, không còn ai cứu giúp chúng ta nữa. Tất cả họ có thể là con em hay người thân của chúng ta và trong tương lai gần biết đâu trong số người đang cần điều trị là chúng ta. Những thiết bị chuyên môn như mặt nạ N95 không còn, họ đã dùng những khẩu trang chúng ta thường dùng để tránh bụi, nhưng cũng sắp cạn. Bên Spain các bác sĩ phải dùng bao rác mặc vào người làm áo choàng phẫu thuật. Ở The Mount Sinai Health System của Manhattan, New York các nhân viên y tế truyền nhau tấm tình họ cũng đã dùng bao rác mặc vào người thay cho áo choàng, vì có đồng nghiệp đã chết vì lây nhiễm. Họ đã đưa lời kêu gọi "Công chúng Mỹ thân mến, chúng tôi đã hết thiết bị y khoa. Hashtag của chúng tôi là #GetMePPE. Vui lòng giúp chúng tôi ra khỏi cơn hoạn nạn."
Lời cầu cứu được phát trên mạng và truyền thông rao đi khắp nơi và cuối cùng đã có người hưởng ứng. Họ gởi đến, mang cho lẻ tẻ, mỗi người 1 ít nhưng tấm lòng thật là cao cả. May quá, cộng đồng người Việt chúng ta có người nghe được và đã ra tay giúp đỡ. Trong một thông báo của cộng đồng Người Việt Quốc Gia Michigan, lời kêu gọi có nội dung như sau:
Kính thưa quý Đồng Hương,
Tình trạng thiếu hụt khẩu trang, bao tay và alcohol sanatizer tại các bệnh viện rất trầm trọng. Trong cộng đồng người Việt chúng ta ai có khẩu trang N95 hoặc khẩu trang thường dùng để chống bụi khi làm việc hay Isopropyl Alcohol mà không dùng đến trong lúc này, và có hảo tâm, thì có thể donate cho bệnh viện trong việc cứu người.
N95 khẩu trang để Y Tá và Bác Sĩ dùng khi tiếp xúc với bệnh nhân.
Khẩu trang tránh bụi dùng trong các tiệm nail có thể để các Y Tá dùng trong bệnh viện. 100% alcohol mà tiệm Nail chúng ta sài mỗi ngày cũng rất tốt để khử trùng trong bệnh viện.
Kính xin mời gọi quý ông bà và anh chị em trong cộng đồng chúng ta mỗi người một tay để tiếp tục hỗ trợ các Bác Sĩ và Y Tá trong địa phương tiếp tục hăng say giúp các bệnh nhân qua được bệnh dịch trong thời gian này. Xin nhắc lại là khẩu trang N95. Thường loại khẩu trang này thì nhà sản xuất có ghi bên ngoài hộp hoặc ngay trên khẩu trang. Người Mỹ đã cưu mang người Việt chúng ta trong những ngày tháng khó khăn nhất thì thiết nghĩ bây giờ là cơ hội để chúng ta bày tỏ lòng biết ơn và nghĩa cử cao đẹp để đền đáp.
Cộng Đồng cũng có ý định dùng tiền quỹ Cộng Đồng để mua thêm các vật liệu y tế trên, nếu trong chúng ta có ai biết nguồn hàng tốt và tin tưởng xin gọi cho chúng tôi.

Sau đó, hội đã nhận được khoảng trên 4000 cái mặt nạ N95+ surgical masks, trên 5000 bao tay và sau đó họ tiếp tục nhận thêm 55,000 gloves, 8 boxes of masks - 800 masks, Gowns - 50 pieces. Các nơi khác cũng gởi đến là: Beaumont - donated 16 boxes, Henry Ford HS - 20 boxes, St. John/Detroit Medical Center - 9 boxes, St. Joseph Mercy Oakland - 10 boxes.
Tất cả các phẩm vật hiến tặng được đem đến các bệnh viện hay trung tâm y tế địa phương hoặc các nơi cần hiến tặng.
Song song với việc hiến tặng ở Michigan, tôi cũng ghi nhận được Hội khí công Hoàng Hạc do Bác Sĩ Phạm Gia Cổn ở Little Saigon, Nam Cali, làm chủ tịch cũng khuyên góp được 200 mặt hạ N95 cho các trung tâm y tế.

Ở Seattle, thuộc Washington State, việc làm của 1 nhóm người Việt đã thực hiện được thật là tử tế, và đầy ắp tình người là cùng nhau may khẩu trang vải hiến tặng. Khi khẩu trang giấy dùng 1 lần rồi bỏ trở nên khan hiếm, khẩu trang vải cũng được dùng để thay thế vì có còn hơn không. Có người hỏi các cơ quan y tế có nhận khẩu trang vải tặng hiến không? Họ trả lời có và họ có cả máy khử trùng nữa. Thế là các chị em giỏi nghề may đã họp nhau lại, bỏ tiền ra mua vải và vật liệu để cắt may. Ai không có máy thì mượn hay đi mua về may. Người biết may chỉ dẫn cho người không biết và mỗi người tự may và bỏ vào bao rồi tập trung lại đem cho. Họ không ngại thức khuya và bận bịu gia đình, cố gắng hoàn tất cho kịp giúp các bệnh viện đang cần khẩu trang đang khan hiếm. Đúng là cứu người như cứu lửa, người Việt mình thật là quyền biến.
Phong trào may khẩu trang tặng hiến cũng đang được các chị em ở San Diego thực hiện. Họ hùn tiền lại mua máy may và vải. Tiệm vải nổi tiếng JoAnn Fabric có chương trình miễn phí cho vải và vật dụng nếu người dân chịu may, ai muốn giúp có thể gọi cho tiệm này và tới mượn mang về may khẩu trang vải. Ai không biết may thì ủng hộ tiền mua vật liệu, các đấng nam nhi thì chung lưng gánh vác việc gọi điện liên lạc, đóng gói, giao hàng v..v... Đọc những lời họ kêu gọi giúp nhau trên face book, tôi thật cảm động muốn rơi nước mắt vì tình người của chúng ta còn đầy ắp.

Trịnh Thanh Thủy

Tài liệu tham khảo
Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Michigan xin chân thành cảm ơn
NGƯỜI VIỆT Ở MỸ MAY KHẨU TRANG
TẶNG CÁC BỆNH VIỆN PHÒNG CHỐNG Covid-19
Below is the information if you're interested in donating PPE to UCI Medical Center.


Nguồn: Viễn Đông

Thursday, March 26, 2020

Tiễn anh Nguyễn Đức Quang là, ‘một nụ cười không tươi!”

 Tiễn anh Nguyễn Đức Quang là, "một nụ cười không tươi!"

Uyên Nguyên

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang (1944 – 2011, cùng với Đinh Gia Lập là người sáng lập Phong trào Du ca) ca diễn tại trường Trung học Kiểu mẫu Thủ Đức. nguồn nhipcauthegioi.hu
Hôm nay cười vang tiễn Anh là,
“nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi”
 
Từ ngày anh Ngô Mạnh Thu mất đi, thì tôi không còn dịp đến nhà anh Nguyễn Đức Quang nữa. Ngôi nhà ngày ấy cũ, nằm im lìm trên mấy trăm thước sân vuông đối diện một ngôi trường trung tiểu học, mỗi ngày nghe rộn tiếng reo hò của đám học sinh lũ lượt tựu tan. Bấy giờ, ngôi nhà ấy chưa xây cất khang trang như những năm sau này.
Nghĩa là từ lâu lắm, tôi không còn dịp ngồi bên Anh để được nghe kể lại, được chia sẻ những mẩu chuyện xưa, nay của tuổi trẻ đất nước, trước sau như niềm thổn thức đeo đẳng một dân tộc trót mang thân phận của NỖI BUỒN NHƯỢC TIỂUnghe xung quanh nghiêng ngã cợt cười, vậy mà vẫn ngạo nghễ, vẫn kiêu hùng, vùng lên “DƯỚI ÁNH MẶT TRỜI”. Mặt trời rực rỡ màu máu xương đã chảy thành dòng, hằn đục lòng sông của nòi giống Tiên Rồng trải dài trên dòng sử lịch bi tráng:
Máu ta từ Thành Văn Lang dồn lại
Xương da thịt này cha ông miệt mài
Từng ngày qua, cười ngạo nghễ đi trong đau nhức khôn nguôi…
(VIỆT NAM QUÊ HƯƠNG NGẠO NGHỄ, 1966)
Rồi sau những năm dài, vẫn nghe đâu đó tin Anh, phân thân đeo đuổi nhiều hoạt động thanh niên xã hội trong nước, rồi trở lại Hoa Kỳ, tiếng hát Anh những ngày gần đây lại dậy vang những buổi trình diễn cộng đồng, ở phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt, Viện Việt Học v.v…
Rồi vài bận gặp lại Anh ở tòa soạn, Anh đa đoan với những sáng tác mới và lịch sinh hoạt trình diễn văn nghệ, những chương trình phỏng vấn, giới thiệu, nên Anh em chỉ nhìn nhau cười, chào và im lặng, sự im lặng thầm hiểu là: hãy cứ dâng cao, tràn lên như một dòng sông, miên man chảy như tiếng nhạc trầm bổng. Trong thế giới hoạt động thanh niên, nhạc là sức sống chuyên chở tuổi trẻ trổ ra biển lớn. Điều đó khẳng định trong dòng nhạc du ca của Nguyễn Đức Quang!
Sóng Việt về, sóng Việt về
Trôi từ lẻ loi non cao xa xôi, trôi mãi
Trôi từ lạch kinh trôi ra sông con
Rồi từ sông con trôi đi xa hơn
về tới bể khơi.
Sóng trôi trên Bạch Đằng
Sóng reo trên Nhị Hà
Trôi bao giấc mộng cuồng xâm của ngoại bang
Triều dâng sóng Việt trôi đi điêu tàn…
(SÓNG VIỆT, 1965)
Lời nhạc Nguyễn Đức Quang không chỉ để “xoay một vòng hát chơi”, mà thúc dục tuổi trẻ mạnh mẽ lên đường, như Cha Ông một ngày xa xăm bàn chân đau nhức gông xiềng, mà vẫn hiên ngang, ngạo nghễ, như sóng tràn tới:
Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn
Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang
Lê sau bàn chân gông xiềng của thời xa xăm
Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loang xoang.

Ta khua xích kêu vang dạy trước mặt mọi người
Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi
Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi
Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian.
(VIỆT NAM QUÊ HƯƠNG NGẠO NGHỄ , 1966)
Lời du ca của nhạc Nguyễn Đức Quang, vừa cất lên thành tiếng đã “VỖ CÁNH CHIM BAY” trên bầu trời lộng, từng nhịp điệu như nước sông tràn tới chực vỡ bờ, mà âm ba thì mở rộng thênh thang một nẻo về nguồn cội:
Từ Nam Quan Cà Mau từ non cao rừng sau gặp nhau do non nước xây cầu.
Người thanh niên Việt Nam quay về với xóm làng tiếng reo vui rộn trong lòng.
Cùng đi lay Trường Sơn cùng đi xoay Hoành sơn cùng đi biến rừng hoang ra lúa thơm
Vượt khơi ra đảo xa lướt ngàn nước sông nhà ta đắp bồi cho mẹ cha.
(VỀ VỚI MẸ CHA, 1965)
Trong tình tự của cội nguồn không phai dấu theo thời gian và không gian, nhạc Nguyễn Đức Quang vẫn cứ vang bay trùm lấp lên tuổi trẻ Việt Nam khắp mọi nẻo đường quê hương, khởi đi từ những thập niên 60 và đoan chắc, vẫn ‘NHƯ MÂY TRÊN CAO”, lừng lững bay suốt trên bầu trời Âm nhạc Việt Nam qua mọi thời đại, khi con tim Việt Nam vẫn còn thao thức lay nhịp, để nhắc tuổi trẻ rằng:
“Còn Việt Nam, triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng.”(VIỆT NAM QUÊ HƯƠNG NGẠO NGHỄ, 1966)
Tuổi trẻ trong và ngoài nước, mấy ai không có lần được nghe hay chính mình, một lúc rất tự nhiên đã nghêu ngao hát lời của ca khúc này. Và chỉ cần tiếp tục hát, truyền cho nhau tiếng hát hôm nay, hòa chung đôi tay vỗ đều nhịp anh em như cách giữ sáng cho NIỀM HY VỌNG VƯƠN LÊN, thì tôi chắc một ngày Việt Nam như nỗi lòng thao thức và trông đợi của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, sẽ vươn vai thẳng dậy trước mặt nhân gian, kiêu hùng “DƯỚI ÁNH MẶT TRỜI.”
Lịch sử đất nước đã minh chứng vai trò của những Phong trào Thanh niên trong mọi thời quật cường của dân tộc, mà vì vậy Phong Trào Du Ca Việt Nam từ khoảng giữa thập niên 60 trở đi, có những trang thanh niên xốc xáo lên đường VỀ MIỀN GIAN NAN với tâm nguyện TỪ NAY GÁNH VÁC; và bằng thành tựu cho ra đời hàng ngàn ca khúc chuyên chỡ tính nhân bản xoa dịu vết thương chiến tranh ở thời cuộc phân chia đôi bờ Nam – Bắc, đã khẳng định vai trò tất yếu của mình trong dòng lịch sử tranh đấu hào hùng và xây dựng quê hương. Dòng nhạc của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang vì vậy, đã thành Sử Việt.
Thương quý, kính tiễn Anh,
Nhạc sĩ Đầu Đàn Du Ca Việt Nam Nguyễn Đức Quang
Hạ tuần tháng 3, 2011
Uyên Nguyên
* Những chữ viết hoa và nghiêng là bài tựa, hay ca từ của nhạc Nguyễn Đức Quang
Chú thích ảnh: Sóng tràn, Uyên Nguyên chụp ở bãi biển Santa Monica, California

Hãy Để Tất Cả Thế Giới Bị Tiêu Diệt Và Chỉ Xin Chừa Lại Đà Lạt

Hãy Để Tất Cả Thế Giới Bị Tiêu Diệt Và Chỉ Xin Chừa Lại Đà Lạt

Nguyên Tánh (Phạm Công Thiện)


Tôi đã đánh mất ý niệm thời gian. Tôi bắt đầu để ý quan tâm đến những ngày tháng ghi trong lịch và thường hay ngó đồng hồ; tôi cũng thường hay hỏi tuổi tác của người khác. Đó là những dấu hiệu bệnh hoạn tâm thần: sự sợ hãi hoảng hốt càng lúc càng trở nên trầm trọng trước cái gì vụt thoáng bay mất mà tôi không thể nào níu kéo lại được, như trước sự bỏ đi biệt tăm biệt tích của một hơi hám đàn bà nào đó đã chết đi chầm chậm trong những ngày nằm một mình ngó lên những bóng ma mộng mị lai vãng tới lui qua lại trong gian phòng nhỏ. Tôi đã chạy trốn tất cả qúa khứ hay chính tất cả qúa khứa đang chạy trốn tôi ? Có một cái gì vô cùng bí mật đã xô đẩy tôi trở về Los Angeles sau hai chục năm trời, một cái gì lạ lùng như sức hút mãnh liệt của vòng trôn ốc tinh cầu, một cái gì bất ngờ đã bôi sạch hết những gì đã tàn phá tôi từ mười ba năm nay. Năm 1970, đang lúc được mời đi dự hội nghị quốc tế ở đại học đường Jeruralem, một cái gì đó xẩy đến bất ngờ khiến tôi bỏ hết tất cả, và hoàn toàn không chuẩn bị, tôi đã lấy máy bay đi trở về Paris và bỏ làm Khoa trưởng Phân khoa Văn học và Khoa học Nhân văn của Đại học Vạn Hạnh. Từ năm 1970 cho đến nay. 13 năm lưu lạc như lục bình trôi sông, từ Paris cho đến Munich và ở lại Toulouse gần mười năm. Thế rồi bây giờ ngồi đây trong gian phòng nhỏ ở Los Angeles, cánh mái tam quan của chùa Việt Nam đầy những con bồ câu bay lượn tứ tung và cả khu cửa sổ mở vút lên tận trời cao mà chiều hôm qua tôi đã đứng rón rén ngó lên một đám mây nhỏ thong dong một mình giữa cả một bầu trời mênh mông vô hạn
Mười ba năm tôi đã quên hẳn quê hương và mất hết mọi liên lạc với tất cả những gì gọi là Việt Nam. Tôi còn tệ hơn cả một tên vong quốc. Tất cả gốc rễ chằng chịt nuôi dưỡng tôi lớn khôn đến ngày hôm nay đã bị chém đứt hết. Tôi căm thù mấy chữ “dân tộc tính”. Tất cả lịch sử Việt Nam đã chết trong tôi. Tôi muốn tất cả nước Việt Nam bị tiêu diệt và chỉ chừa lại thành phố Đà Lạt mà thôi. Chỉ có Đà Lạt mới xứng đáng là Việt Nam trong tất cả mọi ý nghĩa thiêng liêng nhứt và thơ mộng nhất của Việt Nam. Hãy để tất cả thế giới bị tiêu diệt và chỉ xin chừa lại Đà Lạt và Tây Tạng. Đối với tôi Đà Lạt là Tây Tạng, cái gì cao nhứt và hoang vu nhứt của đời tôi: sông Cửu Long bắt nguồng từ vùng núi cao của Tây Tạng. Chỉ những đạo sĩ mới giải phóng Tây Tạng trong tương lai, cũng như chỉ những thi sĩ mới giải phóng toàn thể nước Việt Nam trong nay mai, và hành động đầu tiên quyết định tất cả là giải phóng Đà Lạt trong tâm thức của từng người Việt Nam. Tất cả những chiến tranh vũ trang phải được dẫn đạo bằng mặt trận đầu tiên và mặt trận quyết định cuối cùng. Mặt trận thi ca. Khi toàn dân Việt Nam không còn được tự do thong dong để mơ mộng, khi cả một chính quyền chỉ đẻ ra những tên thợ thơ, những tên làm thơ tuyên truyền, những tên đã giết chết hết những gì thơ mộng nhứt của Việt Nam thì lúc ấy có cái gì linh thiêng nhứt và hùng mạnh nhứt như vũ bão ngấm ngầm mấy ngàn năm heo hút của sông Nhị Hà và sông Cửu Long sẽ bất ngờ bừng vỡ lên như cơn động đất toàn diện, và tất cả Mùa Xuân của Việt Nam sẽ bừng dậy như cả rừng đào đỏ máu của Đà Lạt. Chỉ có Thơ và Tơ Tưởng (chữ của Hàn Mặc Tử) mới giải phóng Việt Nam. Thơ ca ở đây không có nghĩa là những bài, những bài ca ngớ ngẩn mất dậy của một lũ văn nghệ ngu xuẩn chỉ đùa chơi lố bịch với ngôn ngữ hấp hối: và Tơ Tưởng ở đây không phải chỉ là triết lý ý thức hệ nông cạn của thứ chủ nghĩa Marx-Lenine rẻ tiền, và của cả thứ chủ nghĩa triết lý phân tích ngôn ngữ hay thực dụng coca-colaism. Chỉ có thi sĩ mới có được tơ tưởng lớn nhất mới chuẩn bị mở đường về Quê Hương. Tất cả còn lại chỉ là một hơi thở tàn tạ trong trái tim của một con chim én bị bắn rớt vào một buổi chiều hoang vu nhất mặt đất. Từ khi con người có trên mặt đất này, con người đã tìm mọi cách để xua đuổi phỉ báng thi sĩ. Người ta thường sung sướng tự mãn cho rằng thi sĩ chỉ biết mơ mộng và không thực tại thực tế thực tiễn. Lời kết án ấy trở nên qúa sáo, đến nỗi người ta còn có can đảm xử dụng mà không hề thấy mắc cỡ về sự ngu xuẩn của mình. Người ta làm như người ta hiểu Thơ là gì, hiểu Mơ Mộng là gì, và hiểu Thực Tại là gì. Thực là khôi hài.
Có một câu của Heidegger đã không ngớt ám ảnh tôi từ trên mấy chục năm nay. “Thơ ca không phải chỉ là một đồ trang sức phụ hoạ đời sống, cũng không phải là một cơn xúc động nhiệt tình nhất thời hay chỉ là một sự quan tâm thích thú và tiêu khiển mua vui giải sầu. Thi ca là nền móng căn bản cơ sở chống đỡ lịch sử, vì thế thơ ca không phải chỉ là một phát hiện văn hóa, và hoàn toàn không phải chỉ là “diễn đạt” của một thứ “linh hồn văn hóa”. Những giòng ấy quyết định một cái gì trầm trọng nhứt trong lịch sử con người trên mặt đất: Chính Ngôn Ngữ kiến lập tạo thành thế giới. Và chỉ khi nào thế giới phát hiện thì mới có cái gọi là Lịch Sử. Ngôn ngữ không phải chỉ có mục đích diễn đạt truyền thông, mà hơn cả mọi sự, Ngôn Ngữ chính là biến cố quan trọng nhứt khai mở khả tính tối thượng của đời sống con người trên mặt đất. Lúc thành kính chiêm ngưỡng Holderlin, Heidegger có tư tưởng quyết định: ”Thơ ca là Ngôn ngữ Uyên nguyên (Ur-Sprache) của một dân tộc có sử tính”. Đối với Holderlin, thi sĩ là kẻ đạo đạt “tiếng nói của dân tộc”, là kẻ bị hất ra ngoài đời sống tầm thường của thế nhân và đứng giữa những thần linh và loài người. “Nhưng chỉ ở chỗ giữa này mà lần đầu tiên mới quyết định con người là ai và con người an định đời sống mình ở đâu. Con người chỉ thực sự là con người khi con người biết lưu trú một cách thơ mộng trên trái đất (Holderlin). Chỉ có thi sĩ là tạo dựng lại mọi sự “bằng Ngôn Ngữ và qua bên trong Ngôn Ngữ.” Phải phá vỡ tất cả Ngôn Ngữ mất gốc rễ của Việt Nam hiện nay. Chỉ có cuộc Cách Mạng Ngôn Ngữ mới là cuộc Cách Mạng duy nhứt dẫn đầu tất cả mọi thứ, và hiển nhiên chỉ có thi sĩ mới làm được sự chuyển hóa toàn diện trong ngôn ngữ Việt Nam bằng cách lắng tai nghe trong Im Lặng của sư Cô Đơn cùng cực, lắng tai nghe Tiếng Nói của Dân Tộc âm thầm trổi dậy từ thế kỷ này đến thế kỷ khác, Tiếng Nói phát lên từ sự sụp đổ toàn diện của tất cả mọi giá trị, của mọi truyền thống. Holderlin đã đau đớn nhắn lại những thi sĩ nhân loại rằng thời đại này là thời đại mà “những thần linh đã đi mất và thần linh mới chưa tới.” Thi sĩ phải chịu đứng giữa cái gì linh thiêng nhứt đã mất và cái gì linh thiêng khác chưa xuất hiện. Vì thế thi sĩ phải bị hất ra ngoài lịch sử để dựng lại lịch sử uyên nguyên của Dân Tộc. Thi sĩ không nô lệ vào sự tất định của lịch sử, vì chính thi sĩ là sự thể hiện sự tự do toàn triệt của Sáng Tạo; sự tự do toàn triệt này không phải là sự phóng túng nghệ sĩ lông bông mà chính là tất yếu tính nội tại của tất cả sử tinh. Câu thơ mộng của Holderlin không ngớt ám ảnh tôi gần mười năm nay “Hãy để thi sĩ tự do thong dong như những con chim én”. Viết tới đây tôi nhớ tới Nguyễn Du hay Hàn Mặc Tử, và tôi hình dung tưởng tượng Nguyễn Du hay Hàn Mặc Tử đang đầu thai sống lại tại đất Việt Nam, và thử tưởng tượng họ đang làm gì. Tôi không biết, chỉ một điều mọi người đều biết: Tất cả những con chim én đều sẽ lần lượt bị tắt thở ở quê hương.
Nguyên Tánh
(Phạm Công Thiện)
trong tập Đà Lạt Tưởng Niệm Dưới Mặt Đất

Wednesday, March 25, 2020

CÔNG THỨC VIẾT DẤU HỎI DẤU NGÃ


CÔNG THỨC VIẾT DẤU HỎI DẤU NGÃ

1. DÙNG TỪ LÁY THEO QUI ƯỚC:

– Dấu Hỏi đi với Sắc và Ngang.
– Dấu Ngã đi với Huyền và Nặng.

HỎI + SẮC:

– Gởi gắm, thổn thức, rải rác, khoảnh khắc, rẻ rúng, tử tế, cảnh cáo, sửng sốt, hảo hán, phản phúc, phản kháng, rửa ráy, quả quyết, khủng khiếp, khỏe khoắn, nhảm nhí, lở loét, lảnh lót, bảo bối, thưởng thức, thẳng thắn, thảng thốt, hiển hách, nhỏ nhắn, chải chuốt, rả rích, phảng phất, lả lướt, bổ báng, sản xuất.

– Mát mẻ , sắc sảo , mắng mỏ , vất vả , hối hả , hớn hở , xối xả , bóng bẩy , nóng nảy , sắp sửa , sắm sửa , hớt hải , lấp lửng , khúc khuỷu , tá lả , rác rưởi , trống trải , cứng cỏi , sáng sủa , sến sẩm , xấp xỉ , lém lỉnh , láu lỉnh , ngắn ngủi , chống chỏi , hốt hoảng , rắn rỏi , tức tưởi , chúi nhủi , nhắc nhở , nức nở , sấn sổ , ngất ngưởng , thắc thỏm , thấp thỏm , trắc trở , tráo trở , béo bở , ngái ngủ , gắt gỏng , kém cỏi , khấp khểnh , cáu kỉnh , kháu khỉnh , thất thểu , khốn khổ , tán tỉnh , ngúng nguẩy .

HỎI + NGANG :

– Nhỏ nhen , nhởn nhơ , ngẩn ngơ , vẩn vơ , lẳng lơ , lẻ loi , hỏi han , nở nang , nể nang , ngổn ngang , dở dang , giỏi giang , sửa sang , thở than , mỏng manh , chỉn chu , dửng dưng , trả treo , tả tơi , bỏ bê , mải mê , chở che , bảnh bao , hẩm hiu , phẳng phiu , khẳng khiu , rủi ro , mỉa mai , trẻ trung , nghỉ ngơi , ngủ nghê , tỉ tê , xỏ xiên , ngả nghiêng , đảo điên , hiển nhiên , lẻ loi , thảnh thơi , sản sinh .

– Dư dả , chăm chỉ , năn nỉ , thư thả , thon thả , thoang thoảng , trong trẻo , trăn trở , vui vẻ , thơ thẩn , thanh thản , mơn mởn , xăm xỉa , lêu lổng , hư hỏng , căng thẳng , dai dẳng , xây xẩm , san sẻ , xoay sở , hăm hở , xa xỉ , ngoe nguẩy , phe phẩy , đông đủ , tanh tưởi , chưng hửng , tiu nghỉu , sang sảng , nham nhở , chao đảo , gây gổ , sơ hở , cơ sở , tin tưởng , năng nổ , cưa cẩm , thăm thẳm , đưa đẩy , tưng tửng , say xỉn

NGÃ + HUYỀN :

– Bẽ bàng , vẫy vùng , nõn nà , vững vàng , đẫy đà , phũ phàng , bão bùng , sỗ sàng , vỗ về , rõ ràng , vẽ vời , sững sờ , ngỡ ngàng , hỗn hào , hãi hùng , sẵn sàng , kỹ càng , não nề , khẽ khàng , mỡ màng , lỡ làng .
Gần gũi , liều lĩnh , lầm lỗi , gìn giữ , buồn bã , tầm tã , suồng sã , rầu rĩ , thờ thẫn , hờ hững , sàm sỡ , xoàng xĩnh , phè phỡn , bừa bãi , thừa thãi , nghề ngỗng , lừng lẫy , ruồng rẫy , lờ lững , đằng đẵng , mò mẫm , lầm lũi , nhàn nhã, bằng hữu.

NGÃ + NẶNG :

– Lãng mạn , lũ lụt , hãm hại , nhẫn nhịn , lễ lộc , lỗi lạc , rũ rượi , lưỡng lự , chễm chệ , nhã nhặn , mẫu mực , chững chạc , dõng dạc , dữ dội , cãi cọ , nhão nhoẹt , kẽo kẹt , kĩu kịt , nhễ nhại , rõ rệt , lẫn lộn

– Gọn ghẽ , ngạo nghễ , vạm vỡ , lặng lẽ , lạnh lẽo , bạc bẽo , sặc sỡ , rực rỡ , rộn rã , vội vã , nghiệt ngã , hậu hĩ , hậu hĩnh , ngộ nghĩnh , gạt gẫm , hụt hẫng , dựa dẫm , nhẹ nhõm , bập bõm , chập chững , mạnh mẽ , chặt chẽ , sạch sẽ , ngặt nghẽo , khập khiễng , đục đẽo , ruộng rẫy , giặc giã , giặt giũ , giận dỗi , bụ bẫm , dạy dỗ , gặp gỡ , dụ dỗ , lạ lẫm , rộng rãi , tục tĩu , nhục nhã , dạn dĩ , rạng rỡ , rệu rã .

* TỪ KÉP LÀ TỪ THƯỜNG ĐI MỘT CẶP DẤU HỎI HOẶC NGÃ .

– Lã chã , bỗ bã , bẽn lẽn , bỡ ngỡ , mỹ mãn , dễ dãi , cũn cỡn , lững thững , ngẫm nghĩ , lỗ lã , lẽo đẽo , nhõng nhẽo , mũm mĩm , mẫu mã , vĩnh viễn , nhễu nhão .

– Thỏ thẻ , đỏng đảnh , lẻ tẻ , của cải , lẩm bẩm , lẩm cẩm , lảm nhảm , hể hả , kể lể , nhỏng nhảnh , lủng củng , thỉnh thoảng , lảo đảo , tỉ mỉ , thủ thỉ , lảng vảng , rủng rỉnh , loảng xoảng , hổn hển , lủng lẳng , lỏng lẻo , lải nhải , tủm tỉm , bủn rủn , xởi lởi , tẩn mẩn , lẩn quẩn , thỏn mỏn , chỏn lỏn , giả lả , bải hoải , bổi hổi , lẩn thẩn , lởm chởm , rỉ rả , thủng thẳng , bỏm bẻm , nhỏm nhẻm , xiểng niểng , lẩy bẩy

2 . TỪ NGUYÊN ÂM : DẤU HỎI

Ủa , ổi , ổng , ẩu , ủng , ỷ , ổn , ửng , ổ , ủy , ỏn ẻn , ong ỏng , im ỉm , âm ỉ , ấp ủ , ảo ảnh , ăn ở , êm ả , oi ả , yên ả , óng ả , ẩn ý , an ủi , ỉ ôi , ẩm ướt , ủ ê , uể oải , ít ỏi , ủn ỉn , oan uổng , ăng ẳng , ư ử , oẳn tù tì , ẻo lả , ủ rũ , yểu điệu , ỉu xìu , ảm đạm , uyển chuyển , quan ải , oản xôi , yểm trợ ( trừ : ễnh , ưỡn , ẵm , ỡm )

3 . TỪ HÁN VIỆT BẮT ĐẦU LÀ M , N , NH , L , V , D , NG THÌ DẤU NGÃ , CÁC CHỮ KHÁC DẤU HỎI .

Ghi nhớ 7 chữ này bằng câu “ Mình Nên Nhớ Là Viết Dấu Ngã “
– M : Mỹ nhân , Mẫu giáo , Mã đáo , Mãn nguyện , Mãng xà , Mãnh lực , Mẫn cán , Miễn nhiệm , Mão mũ
– N : Não bộ , Nữ nhi , Noãn hoa , Nỗ lực , Nã ( truy nã )
– NH : Nhẫn tâm , Nhãn tiền , Nhiễu loạn , Nhũ mẫu , Nhã nhạc , Nhã nhặn , Nhuyễn thể , Nhĩ ( mộc nhĩ ) , Nhưỡng ( thổ nhưỡng)
– L : Lão gia , Lễ nghi , Lĩnh hội , Lỗi lạc , Lữ khách , Lãng tử , Lưỡng tính , Lãnh địa , Luỹ thành , Lãm nguyệt , Lẫm liệt
– V : Vãn hồi , Viễn xứ , Vĩ đại , Võ sư , Vũ trang , Vĩnh hằng , Vững chãi
– D : Diễm phúc , Dũng khí , Dưỡng dục , Dĩ nhiên , Dõng dạc , Diễu hành , Dã ngoại , Dã tâm , Diễn thuyết
– NG : Nghĩa hiệp , Ngũ cốc , Ngữ hệ , Ngẫu nhiên , Nghiễm nhiên , Ngưỡng mộ , Ngã ( bản ngã )

4 . HỌ VÀ TRẠNG TỪ : DẤU NGÃ

– Họ Nguyễn , Võ , Vũ , Đỗ , Doãn , Lữ , Lã , Mã , Liễu , Nhữ
– Cũng , vẫn , sẽ , mãi , đã , những , hỡi , hễ , lẽ ra , mỗi , nữa , dẫu …

5 . DÙNG DẤU BẰNG CÁCH SUY LUẬN THEO NGHĨA . Ví dụ :

NỔI – NỖI :

– Chỉ sự trổi lên hơn mức bình thường thì dấu hỏi ( nổi trội , nổi bật , nổi danh , nổi tiếng , nổi mụn , nổi gân , nổi điên , nổi giận , nổi xung , nổi hứng , nổi sóng , nổi bọt , nổi dậy , chợ nổi , nông nổi , làm nổi , trôi nổi , hết nói nổi , chịu hết nổi , gánh không nổi )

– Cái nào mang tính biểu cảm thì dấu ngã ( khổ nỗi , đến nỗi nào , làm gì nên nỗi , nỗi lòng , nỗi niềm , nỗi ước ao , nỗi nhục , nỗi oan , nỗi hận , nỗi nhớ )

NGHỈ – NGHĨ :

– Liên quan đến sự dừng lại một hoạt động thì dấu hỏi ( nghỉ ngơi , nghỉ học , nghỉ việc , nghỉ hè , nghỉ lễ , nghỉ mệt , nghỉ dưỡng , nghỉ chơi , nghỉ mát , nghỉ thở , nghiêm nghỉ , nhà nghỉ , an nghỉ )

– Thể hiện cảm xúc suy nghĩ thì dấu ngã ( nghĩ ngợi , suy nghĩ , ngẫm nghĩ , nghĩ cách , thầm nghĩ , nghĩ quẫn , nghĩ bậy , cạn nghĩ )

MẢNH – MÃNH :

– Cái nào gợi hình dáng thì dấu hỏi ( mảnh trăng , mảnh ruộng , mảnh vườn , mảnh đất , mảnh xương , mảnh sành , mảnh vỡ , mảnh khảnh , mảnh mai , mảnh khăn , mảnh áo , mảnh vá , mảnh tình , mỏng mảnh )

Thể hiện tính chất thì dấu ngã ( dũng mãnh , mãnh liệt , ranh mãnh , ma mãnh , mãnh hổ , mãnh thú , mãnh lực ..)

KỶ – KỸ :

– Gắn với bản thân con người thì dấu hỏi ( kỷ vật , kỷ niệm , kỷ luật , kỷ lục , kỷ yếu , ích kỷ , tự kỷ , vị kỷ , tri kỷ , thế kỷ , thập kỷ )

– Gắn với kỹ thuật , trình độ thao tác thì dấu ngã ( Kỹ nghệ , kỹ năng , kỹ xảo , kỹ thuật , kỹ sư , kỹ nữ , kỹ lưỡng , kỹ càng , kỹ tính , nghĩ kỹ , giấu kỹ , tuyệt kỹ )

CHÚ Ý :

Qui ước cơ bản chứ không tuyệt đối , vẫn có một số từ ngoại lệ không theo qui ước trên như :

HỎI + NẶNG : – Hủ tục, hủ bại.

chữ “nữa” viết dấu ngã trong đa số trường hợp, chỉ khi nói về số lượng chia hai như ” phân nửa”, “một nửa”, thì viết dấu hỏi.
Bài viết có thể hữu ích (有益) cho những ai thường phạm lỗi chính tả “hỏi ngã”. Tuy nhiên, phải nên nói rõ hơn là luật “trắc, bằng” thường đi kèm theo với dấu “hỏi” và “nặng huyền” thì thường đi kèm với dấu “ngã” thì chỉ nên áp dụng với chữ kép “thuần” Việt mà thôi. Còn nếu là những từ kép Hán Việt thì “quy luật” đó không có được hiệu nghiệm cho lắm. Tôi xin cho thí dụ:
Ví dụ như chữ “sản xuất” (產出) ở trên là tiếng Hán Việt và “tình cờ” nó đi theo cái luật “bằng, trắc”. Tuy nhiên, nếu là “cộng sản” (共產) hay “tài sản” (財產) thì nó lại không có hợp với luật “huyền nặng”!

Lý do là vì chữ Hán Việt không hề thay đổi từ “hỏi” sang “ngã” hay ngược lại, khi cái chữ đó đi kẹp với những chữ có những dấu khác nhau.

Một khi chữ “sản” đã được viết với dấu “hỏi” rồi thì cho dù nó có đi kẹp với dấu gì đi nữa thì nó vẫn phải viết với dấu hỏi mà thôi.

Giống như chữ “phản ứng” (反應) thì là đúng với quy luật, dấu “hỏi” đi kèm với dấu “sắc”, nhưng “phản hồi” (反囘) thì không theo quy luật vì viết với dấu hỏi, nhưng lại đi kèm theo với dấu “huyền” !

Sài Gòn, 11.2019
Bài sưu tầm

Vĩnh Hảo: Khép Lại Những Con Đường

Khép Lại Những Con Đường

Vĩnh Hảo


 Tự tại vô ngại-ảnh minh họa: BXP



Người ta nói, đại dịch đã đến rồi. Các công sở sẽ đóng cửa. Các con đường sẽ đóng bớt lại. Nhà hàng, rạp hát, những nơi vui chơi giải trí… tất cả đều phải đóng. Mỗi người hãy tự cách ly, đừng lang thang bên ngoài nữa. Một sẽ hại tất cả, và tất cả chung quanh cũng sẽ hại cho một. Mỗi cá nhân đều có liên hệ hỗ tương với gia đình và xã hội; tuy ly cách nhưng thực ra không ai tách rời khỏi thế giới. Mỗi người hãy tự ý thức vai trò và trách nhiệm của mình trong cuộc đời. Đừng ích kỷ, tham lam, chỉ biết có mình và người thân của mình. Tánh xấu của cá nhân luôn ảnh hưởng đến người khác, vật khác; trong trường hợp của đại dịch là vô tình/gián tiếp giết hại đồng loại, phá hoại môi trường. Hãy ngừng lại cái tâm bé xíu nhỏ mọn; và hãy mở lòng ra, biết yêu thương mình, yêu thương người, yêu thương vật. Tự phòng vệ cũng chính là bảo vệ cho người khác. Ý tưởng này hẳn đã nghe quen trong Phật giáo: một là tất cả, tất cả là một[1]. Vậy thì, hãy dừng lại, dừng lại. Trở về với gia đình, trở về với tự thân. Đóng lại các căn trần. Khép lại những con đường…
Con đường đi quanh, hoa cỏ hồn nhiên mọc tràn lưng núi. Bướm cải du xuân vàng rợp đồng xanh. Chim trắng như bông, chao lượn góc trời. Dáng sắc lung linh trong nắng xế. Muôn màu vẽ nhòa trên tóc xưa. Dấu chân ai còn in lối về. Chiều tàn lưu luyến buổi bình minh. Buồn vui khép lại trong đôi mắt sâu. Ngày như đêm không còn thấy gì.
Con đường băng ngang bờ bãi quạnh. Nghe gió chuyển rung những tán lá. Sóng nước vỗ nhịp cho bản trường ca không biết bắt đầu tự khi nào. Tiếng ca cất lên nơi hoang dã, vượt khỏi những cung bậc, chạm đến tầng mây cho mưa rơi xuống. Tiếng mưa rào rào lúc ban đầu, rồi chầm chậm, tí tách… rồi lặng im. Cơn suy-thịnh buông theo lời ca, tiếng nói. Giọng ai bật cười lúc sáng tinh mơ. Từ nay khép lại đôi tai này. Không còn những thanh, âm. Không còn tiếng vô thanh.
Con đường phố thị ngào ngạt những hương thơm. Mùi thức ăn đánh thức cơn đói giữa chiều. Mùi xăng từ khói xe gợi nhớ những chuyến đi xa. Mùi vải mới gợi nhớ ngày xưa thơ ấu trong áo quần ngày đầu xuân. Mùi muôn hoa kết tụ trong tinh dầu, phảng phất trên những làn da. Mùi da thơm gợi nhớ những cuộc tình. Những cuộc tình đời này hay nhiều đời trước, vẫn còn vương hương. Ngồi lặng im, khép lại cánh mũi này, cho lắng hết dư hương. Dư hương lắng hết rồi mà bỗng liên tưởng một mùi hương chưa từng ngửi qua: hương thơm từ cõi Chúng Hương của Phật Hương Tích[2].
Hương thơm cõi Chúng Hương thì không thể mường tượng ra nổi, nhưng từ bát cơm thơm mà vị “hóa bồ-tát” (3) đem về từ tay Phật Hương Tích, gợi lại một bát cơm trắng dẻo, thơm tho của cõi trần. Lưỡi này đã kinh qua bao vị mặn, ngọt, cay, chua, đắng, chát, mềm, giòn, khô, ướt… của hàng trăm món ăn phương đông, phương tây. Đạm bạc đơn giản cũng có, sơn hào hải vị cũng có. Ăn vì đói hay ăn cho ngon cũng đều đã nếm qua. Nhưng giá trị của mỹ vị thường khi chỉ được nhận chân với bụng rỗng. Miếng cơm trong tù. Miếng ăn của người đói. Nhu cầu lấp vào bao tử trống tạo nên ảo giác ngon cho vị giác. Vậy rồi, cũng chính từ nhu cầu và ảo giác ấy, người ta đã sáng tạo ra bao món ăn cầu kỳ, tỉ mỉ, tinh tế, tuyệt hảo. Giờ này ngồi lại giữa phòng không, không nói không ăn, miệng hàm hoa, nhẹ thơm cam-lồ vị.
Thân đã rong chơi muôn dặm ngoài. Nóng, lạnh chiêu cảm hết những mùa qua. Ngõ hẹp gặp nhau ắt phải vầy oan trái. Từ thuở tóc xanh đã miên man dõi theo những bóng sắc. Ôm nhau cho trọn duyên tình gieo từ bao kiếp xa xôi không thể nhớ. Để rồi, giữa trời đất mênh mông, bỗng chốc muôn trùng xa hút bóng cố nhân. Tóc râm. Chùn gối. Thân hạc đứng lại bên sông xưa, ngắm tà huy rơi trên núi non điệp trùng.
Những con đường khép lại, nhưng tâm thức lại mở ra muôn hướng, với những chiều sâu thăm thẳm. Một đường mở ra muôn đường. Mỗi đường lại mở ra vô tận con đường… Hình sắc, âm thanh, hương vị và cảm giác xúc chạm trộn lẫn vào nhau, nhào nặn ra những ảnh tượng hữu lý và phi lý. Ngựa bay trên không. Chim bơi dưới nước. Không gì thật, mà cũng không gì không thật…
Ngồi im mà nhận ra ý thức đang chuyển động theo Tâm Kinh: không màu sắc, không âm thanh, không hương, không vị, không xúc… Không thấy cả người quan sát. Không nghe cả sự thinh lặng. Không ngửi cả cái không mùi. Không nếm cả cái không vị. Không xúc chạm cả cái không xúc chạm. Không khởi ý, cũng không khởi cái ý chấm dứt ý tưởng. Không gì ngăn ngại, không gì hãi sợ. Đoạn dứt các vọng duyên. Đoạn dứt người đoạn dứt. Tự tại vô ngại, đi đứng nằm ngồi mà bất động như như. Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa.
California, ngày 24 tháng 3 năm 2020
[1]  “Duy Ma Cật Sở Thuyết,” bản dịch và chú giải của Tuệ Sỹ. Dịch phẩm này dựa trên bản Hán của Cưu Ma La Thập, đối chiếu bản Phạn và Tạng ngữ; cẩn thận đối chiếu luôn cả 2 bản Hán dịch khác của Chi Khiêm (Phật Thuyết Duy Ma Cật Kinh), và Huyền Trang (Thuyết Vô Cấu Xưng Kinh). Bản của Cưu Ma La Thập dịch là “cõi Chúng Hương,” Huyền Trang dịch là “Phật-độ Nhất Thiết Diệu Hương;” Đức Phật Hương Tích thì Huyền Trang dịch là Đức Phật “Nhất Thiết Hương Đài.” Theo kinh văn, cách thế giới này vượt qua bốn mươi hai Hằng hà sa số cõi Phật, có một nước tên là Chúng hương, có Phật hiệu Hương Tích nay đang tại thế. Hương thơm của quốc độ này át hẳn mọi hương thơm của chư thiên trong các quốc độ khắp mười phương… Ở đó hương thơm tạo ra mọi thứ như lầu các, đất đai, vườn tược và hoa viên khiến chúng tỏa mùi thơm ngát. Còn thực phẩm thì có mùi thơm lan tỏa đến vô lượng thế giới khắp mười phương.”
[2] “Duy Ma Cật Sở Thuyết,” Phẩm 10, Phật Hương Tích, bản dịch của Tuệ Sỹ, nhà xuất bản Phương Đông 2008.

(3) “Duy Ma Cật Sở Thuyết,” Phẩm 10, Phật Hương Tích, bản dịch của Tuệ Sỹ, nhà xuất bản Phương Đông 2008.