Showing posts with label Vĩnh Hảo. Show all posts
Showing posts with label Vĩnh Hảo. Show all posts

Tuesday, June 30, 2020

NGƯỜI VỀ


NGƯỜI VỀ
Thư tòa soạn số 102, tháng 05, 2020


Trời rạng muôn phương với trăng sao
Đất rung bảy lần cùng núi rừng
Người về rực rỡ vườn tuệ giác
Thiên nhạc dặt dìu khúc xưng dương.

Trần gian thống khổ bao đời kiếp
Bảy bước đơm hoa mở đường về
Trí tuệ xua tan ngàn năm tối
Từ bi trải rộng vạn nẻo mê.

Thị hiện đi ngang đời tục lụy
Hóa độ hằng hà mộng phù sinh
Đại dương ảnh hiện trăng miên viễn
Dạt dào sóng vỗ nhịp vô thinh.

Từng đến từng đi từng lưu trú
Hay vẫn chưa từng với mộng trung (1)
Nhẹ cười phiêu diêu thân dặm lữ
Gậy trúc qua đường nghiêng bóng không.

Một thuở ngang về
Xôn xao cuộc thế
Căn nhà bốc lửa
Rường cột đổ nghiêng
Hớt hãi bầy đàn
Vẫn còn giành nhau ghế cao ghế thấp
Lặng nhìn thế sự trong đêm
Núi tuyết nghìn năm tịch mặc
Cánh phụng hoàng không lẫn giữa bầy quạ đen
Ôi đời, ôi thế nhân, hãy yên lòng tranh ngôi phù phiếm
Ta về đây không vì quyền chức, cao danh
Ta về đây mở một con đường
Con đường phủ nhận mọi con đường
Con đường cô liêu chỉ một hương vị
Tuyệt nhiên không lời
Bất động như như (2).


California, ngày 25 tháng 4 năm 2020
Kính dâng Thầy Tuệ Sỹ nhân mùa Phật Đản
Vĩnh Hảo

(1)  “Như lai giả, vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ, cố danh Như lai” (Như lai ấy không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, nên gọi là Như lai. - Kinh Kim Cang).

(2)  “Vân hà vị nhân diễn thuyết? Bất thủ ư tướng, như như bất động” (Thế nào là vì người diễn nói? – Không chấp nơi tướng, như như bất động. – Kinh Kim Cang)

Thursday, June 25, 2020

Vĩnh Hảo: SỰ THẬT VÀ QUAN ĐIỂM


SỰ THẬT VÀ QUAN ĐIỂM
Vĩnh Hảo

Thư tòa soạn Nguyệt san CHÁNH PHÁP số 104 Tháng 07.2020

Có vẻ như con người thời nay càng lúc càng trở nên lười biếng, thụ động; nhất là từ khi nhân loại bước vào kỷ nguyên tin học, truyền thông liên mạng. Tin học đã đem con người khắp hành tinh gần lại với nhau, nhưng chỉ trong khoảng thời gian ngắn, chính nó bị con người lạm dụng để bóp méo, biến dạng sự thực cho những mục tiêu bất chính của cá nhân, bè phái.

Kỹ nghệ thông tin toàn cầu ở thế kỷ 21 đã cung cấp phương tiện nhanh chóng và thuận lợi cho người dùng đến nỗi từ lời nói, hành động, cho đến ý nghĩ... người ta phó mặc hoặc mượn người khác nói giùm, làm giùm, thậm chí suy nghĩ giùm. Nghĩa là khỏi cần phải xét lại xem thông tin trên mạng có đúng không, lời nói của người kia có đáng tin không, hành động của người nọ có thật không. Thông tin nào không thuận với ý kiến, quan điểm của mình thì lập tức bác bỏ, cho rằng tin giả, không cần kiểm tra sự thật; thông tin nào hợp ý nghĩ, lập trường của mình thì tin ngay, khỏi cần biết có hợp lý hay không trên thực tế.

Nói hay viết đã lười, vì nghe/đọc của người khác thấy hay và hợp ý rồi, chỉ cần lặp lại một cách vô thức; làm thì chỉ có mỗi một động tác là nhích con chuột, dùng một ngón tay trỏ, bấm chọn biểu trưng cảm giác của mình, rồi chia sẻ ngay với hàng trăm, hàng ngàn người khác cái thông tin mà thân/bằng hữu của mình vừa đăng lên. Có khi không đọc, không nghe mà vẫn cứ bấm thích và truyền đi, vì tin rằng bạn bè, tổ chức, đảng phái của mình đã đọc và suy nghĩ rồi mới phóng lên mạng. Cứ thế, tạo nên một thứ “hiệu ứng bầy đàn,” và “hành vi của bầy cừu”[1] trên không gian mạng, ảnh hưởng ngược vào đời sống thực tế của gia đình, xã hội.

Xã hội trở nên rối loạn, phân hóa, tách ra thành từng mảng, từng nhóm, tự động kéo nhau theo sự thúc đẩy và mời gọi của những tiếng nói hợp ý, hợp tình. Tính cách và tâm lý bầy đàn đã bị lạm dụng bằng nhiều hình thức từ thô thiển đến tinh tế, để lôi kéo quần chúng cho mục tiêu tôn giáo, chính trị, xã hội và cả kinh tế.

Người có trí thì không để bị dẫn dắt bởi dư luận hay bởi ý kiến đám đông; không vội vàng tin vào những thông tin, lời đồn, dư luận; đánh giá sự việc một cách khoa học, có luận lý; lượng định một vấn đề có tính thời sự, cấp thiết thì phải tìm hiểu nguồn gốc sự thật; phân biệt đâu là sự thực khách quan và đâu là quan điểm, ý kiến chủ quan[2]. Biết cái gì là sự thực rồi thì hãy chấp nhận là sự thực, không cố gắng gán ghép cho nó một tính cách giả dối nào đó để biến nó thành không thực. Còn những gì là quan điểm, ý kiến, ý thức hệ (của cá nhân, tập thể), cũng khó mà kết luận là đúng hay sai. Cho dù một quan điểm nào đó của mình, qua kinh nghiệm thực tế có thể chứng minh được là đúng thì cũng chỉ là cái đúng tương đối, không thể buộc người khác phải chấp nhận tin theo; vì đã là ý kiến thì không phải mọi người (với bối cảnh văn hóa và tri thức sai biệt) đều suy nghĩ và nhận định như nhau. Người ta sẽ bàn cãi, xung đột với nhau về quan kiến suốt cả đời không chắc đã tìm ra mẫu số chung, mà có thể còn truyền cả sự xung đột ấy cho nhiều thế hệ sau.

Trong thế giới điên đảo ngày nay, người con Phật áp dụng Bát Chánh Đạo[3] vào đời sống thường nhật, sẽ nhờ chánh kiến mà không bị rơi vào tà kiến, thiên kiến, ác kiến; nhờ chánh tư duy mà biết chiêm nghiệm, truy tìm sự thật, không bị lôi kéo bởi các tin đồn, tin giả, và những tuyên bố bịa đặt, dối trá; nhờ chánh ngữ mà tránh nói những lời hư dối, lời ác, lời thêu dệt đãi bôi, lời hai chiều chia rẽ.

Sống chân thực, sống với lương tri thì không thể chấp nhận, tán thành những điều ngoa ngụy, điêu trá; và nhất là không thể cổ vũ hay ủng hộ bất kỳ cá nhân hay tập thể bất chánh nào.

Không có nhân xấu/ác nào có thể đưa đến kết quả tốt/lành.

Không có hạt giống hư dối nào có thể nẩy mầm chân thực, an vui.

Sống giữa cõi đời hỗn mang này, đừng vội tin ai, nhưng hãy tin rằng nhân lành mới trổ quả lành. Thế giới ngày mai ra sao là do nơi nhân lành của mỗi người hôm nay gieo xuống: từ ý nghĩ lành, tác động lên lời nói và hành động lành, khởi từ lòng yêu thương, hướng về khắp tất cả.

California, ngày 25 tháng 6 năm 2020
Vĩnh Hảo


_________________________________
[1] Theo nghiên cứu của các nhà tâm lý, xã hội và kinh tế học, có một thành phần rất đông trong xã hội dễ bị chăn dắt, hướng dẫn (như đàn cừu) bởi những người khôn ngoan hơn (như sói). Những người này khá thụ động, ít suy nghĩ, không chịu xét đoán, nặng về bản năng, thường a dua theo đám đông (vì nghĩ rằng không lẽ nhiều người làm như vậy mà lại sai lầm!), cứ hành động và hô hoán ồn ào theo đàn nhóm mà không cần biết hậu quả ra sao, tương lai thế nào. Càng nhiều người bị dẫn về một hướng thì hiệu quả càng lớn, càng mạnh hơn, kéo theo hàng chục, hàng trăm lần những người và đàn nhóm khác cùng tin theo, làm theo. Đây gọi là hiệu ứng tâm lý bầy đàn, hành vi bầy đàn, tâm lý đám đông, bản năng bầy đàn (herd effect/herd behavior/psychology of crowd/herd instinct).

[2] Sự thật (fact), là điều thực tế có thể chứng minh được bằng chứng cớ, dù ở quốc gia này hay quốc gia kia, đảng phái này hay đảng phái kia (ví dụ: con người cần phải ăn uống để sinh tồn. – Đây là một sự thật không thể chối cãi). Quan điểm, ý kiến, quan niệm (opinion) là cái người ta tin, nghĩ hoặc cảm giác nhưng không thể chứng minh được là đúng hay sai; hoặc có thể đúng với người này nhưng không đúng với người kia (ví dụ: những người có màu da như vậy là những người thông minh, cao quý nhất. – Đây chỉ là ý kiến, quan điểm của cá nhân hay một tầng lớp người, không phải là sự thật tuyệt đối với tất cả mọi người). Fact vs. Opinion được dạy từ cấp tiểu học ở Mỹ. Không nhớ chương trình giáo dục ở Việt Nam trước năm 1975 và sau năm 1975 có dạy cho trẻ em phân biệt được giữa fact (sự thực) và opinion (quan điểm) hay không; nhưng nhìn thực tế xã hội hiện nay, có vẻ như những người Việt lớn tuổi ở nước ngoài khi tham gia sinh hoạt liên mạng, đã không biết đâu là thực, đâu là giả — luôn tin hoàn toàn vào những gì nghe, thấy qua thông tin mà phe cánh của mình đưa ra; và hoàn toàn không tin vào những gì do những người thuộc phe cánh khác nói. Gần đây, các nhà giáo dục và xã hội nhận thấy cần thiết phải đưa ra những hướng dẫn cụ thể để giúp học sinh, sinh viên, cũng như người dân trong nước tránh những ngộ nhận về các thông tin có thể là bịa đặt (hoax), tuyên truyền (propaganda), báo cáo cẩu thả về một sự kiện hay một tuyên bố gây hiểu lầm (sloppy reporting of an event or statement, causing misunderstanding), trình bày thiên vị về một tình huống phức tạp (a biased presentation of a situation that is not very simple), bằng cách: kiểm tra nguồn (source) từ đâu, có đáng tin cậy không, có thiên vị không, có phải là châm biếm không. Để tìm ra một cách nhanh chóng các thông tin và thông báo lừa bịp, có thể kiểm tra với: www.factcheck.org; kiểm tra tuyên bố chính trị của một nhân vật hay đảng phái: www.politifact.com; kiểm tra một bức ảnh được sử dụng với một câu chuyện gán theo rất đáng nghi ngờ, hãy vào: www.tineye.com; nghi ngờ một ý kiến hay sự kiện được nêu ra trên truyền thông có thiên vị hay không: www.allsides.com (nếu là ý kiến – opinion, thì sự thật hỗ trợ cho nó /facts used to support the opinion/ là gì, từ nguồn nào), hãy kiểm chứng với www.factcheck.com; để kiểm tra các tình huống, quang cảnh và các chủ đề truyền thông thay đổi liên tục, hãy vào www.snopes.com; để biết một sự kiện hay câu nói là nghiêm túc hay chỉ là châm biếm mỉa mai, hãy vào: www.realorsatire.com; để tìm ra câu chuyện tin tức có thật hay không, hãy vào: www.factitious.com. Tất nhiên, trong những cái thật có khi cũng bị sai sót vì lý do nào đó, nhưng nếu kiểm tra kỹ, biết đối chiếu các nguồn vô tư đáng tin cậy ở trên, sẽ giúp tìm ra sự thật một cách nhanh chóng, dễ dàng.

[3] Bát Chánh Đạo, hay Bát Thánh Đạo, là con đường tám nhánh (gồm chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định) dẫn đến giải thoát, niết-bàn.

Tuesday, June 9, 2020

Suy Nghĩ Về Văn Học Phật Giáo Việt Nam

Hoa Ðàm số 4: Suy Nghĩ Về Văn Học Phật Giáo Việt Nam

Ðặc san Hoa Ðàm – Số 4 – Chủ Ðề “Văn Học Phật Giáo”,
phát hành ngày 30 tháng Tư, 2017
Chủ trương và thực hiện:
Hoa Ðàm Group
Kết tập:Tâm Thường Định Bạch Xuân Phẻ – Nguyên Túc Nguyễn Sung
Tâm Khai Sơn Nguyễn Anh Thy
Nhuận Pháp Trần Nguyễn Nhị Lâm – Quảng Pháp Trần Minh Triết
Ðây là điều người viết từng ưu tư khi nhìn lại quãng đường trên một phần tư thế kỷ của nền văn học Phật giáo trong nước cũng như hải ngoại. Những ưu tư này đã được trình bày một cách sơ sài qua buổi thuyết trình với một số Tăng Ni tại trường hạ Chùa Phật Tổ, Long Beach, California, Hoa Kỳ vào ngày 25/6/2006, chủ đề “Mấy suy nghĩ về văn học Phật giáo Việt Nam tại hải ngoại.” Thời gian ít ỏi chưa đầy hai giờ đồng hồ không đủ để nói và lắng nghe được những gì cần thiết liên quan đến chủ đề. Đa số Tăng Ni đã chia sẻ với người viết về những thao thức và hoài vọng đóng góp cho văn học Phật giáo, nhưng đi vào đường hướng và hành động cụ thể thì dường như không có gì, bởi vì, có thể nói rằng, Phật giáo Việt Nam tại hải ngoại không có một tư tưởng chủ đạo hay một hướng đi rõ rệt nào trên phương diện văn học. Nói theo ngôn ngữ chuyên khoa thời thượng, điều này có nghĩa rằng chúng ta chưa có một ‘định hướng văn học’ Phật giáo.
Thực ra, Phật giáo có cần một định hướng văn học chăng? Đây là một chủ đề lớn, vượt khỏi tầm mức của người viết, cần được thảo luận và học hỏi nhiều hơn từ những bậc cao minh thức giả có thẩm quyền về Phật học và văn học. Nhưng có thể từ vị trí của một người sáng tác, xin đưa ra một vài nhận xét có tính cách gợi ý để mong cầu sự hồi ứng từ những người làm văn học Phật giáo:
– Sự dậm chân của sáng tác: Không khác những người làm văn học ở thế tục, những người sáng tác Phật giáo bị khựng lại một thời gian khá dài sau biến cố lịch sử của đất nước từ năm 1975. Liền sau đó là một nền văn học bị phá sản và o ép đi vào ‘định hướng xã hội chủ nghĩa’ trong nước, trong khi ngoài nước là một nền văn học tạm dung, rồi văn học lưu vong, văn học hoài niệm, văn học hội nhập… có vẻ như không dính dự và theo kịp các trào lưu văn học thế giới mà chỉ là những diễn đạt có tính cách phản ứng theo tâm thức và hoàn cảnh của mình. Theo cách ấy, có thể nói là chính từ biến cố và hoàn cảnh mà bộc phát những”trào lưu” của một nền văn học khu biệt, dậm chân tại chỗ. Từ khuynh hướng cho đến thể loại sáng tác, những phật-tử nghệ sĩ và những nghệ sĩ phật-tử của 30 năm qua tại hải ngoại không có gì khác hoặc khá hơn so với những người sáng tác trước năm 1975. Trong nước bị hạn chế vì “quan điểm và lập trường” và chính sách độc quyền tư tưởng, bưng bít thông tin đã đành, ngoài nước quá tự do thì sự dậm chân không thể qui lỗi cho hoàn cảnh được nữa. Thiếu nhân lực chăng? Thiếu tài lực chăng? — Không phải. Thế thì, làm thế nào để phát huy một nền văn học Phật giáo Việt Nam rực rỡ không chỉ cho chính nó mà còn đi vào dòng chính của văn học dân tộc, văn học thế giới?
– Mục đích và định hướng văn học Phật giáo: Mục tiêu tối hậu của hành giả Phật giáo là giải thoát, giác ngộ thì mục đích của Tam tạng thánh điển hoặc văn học Phật giáo cũng qui vào đó. Nhưng có chăng một con đường dẫn đến mục tiêu ấy? Đứng về mặt chân đế (cứu cánh) mà nói, chẳng có thứ phương tiện ngữ ngôn văn tự nào có thể chạm đến tuyệt đối. Vậy thì, mọi cố gắng của Tam tạng kinh điển cũng như các thể loại và văn bản Phật giáo được sáng tác đều chỉ mang tính cách ước lệ, tương đối, giới hạn, nhằm gợi ý hoặc hướng dẫn sự trực nhập chân lý chứ không phải tự thân chúng là chân lý. Không có con đường dẫn đến thực tại tối hậu. Giới hạn của văn học như thế, đã được đề cập qua bài “Dẫn vào thế giới văn học Phật giáo” của Tuệ Sỹ: “…mọi diễn tả của ngôn ngữ không được phép vượt qua giới hạn của tri thức thường nghiệm. Chân lý chỉ tuyệt đối ở tự thân của nó, nhưng là tương đối ở lãnh vực diễn đạt của ngôn ngữ. Vì vậy, các tác giả của Phật học có thói quen mở đầu tác phẩm của mình bằng một thái độ khiêm tốn: những gì họ sẽ trình bày không liên hệ đến tự thân của chân lý mà họ muốn hướng đến.” Hệ luận có thể rút ra từ đây là, khi văn học được xem là ‘phương tiện’ để thuyết minh cứu cánh, văn học không còn là văn học. Bởi nếu tự thân văn học không là cứu cánh, nó không quan hệ gì đến chân lý; còn nếu chỉ là phương tiện cho một cái gì ngoài nó, muôn đời nó chỉ là xác khô. Thế nhưng, ai cũng biết là Tam tạng kinh điển đã được thuyết minh, là một kho tàng văn học đồ sộ của Phật giáo. Tam tạng kinh chỉ là phương tiện, không phải là cứu cánh, nhưng qua đó, thế giới tịch lặng linh động của bản thể có thể được trình hiện bởi sự trực nhận sâu sắc của người nghe (đọc). Không thể vì giới hạn của ngôn ngữ mà không thuyết giáo. Đức Phật đã kinh qua con đường ấy, và người sau cũng cứ thế mà đi. Có nghĩa là vẫn có mục đích và định hướng hay một phương thức nào đó để diễn đạt chân lý. Mục đích là giải thoát giác ngộ. Định hướng hay phương thức diễn đạt chính là Tứ Diệu Đế. Phật giáo đã có sẵn một khuôn mẫu, một định hướng rõ rệt cho giáo điển. Văn học Phật giáo mọi thời mặc nhiên đi theo định hướng ấy.
– Định mà bất định: Tứ Diệu Đế không phải là một khuôn mẫu cứng ngắc. Đó là cánh cửa tóm thâu hai vòm trời chân đế và tục đế. Như hai mặt gương soi chiếu vào nhau, mở vào tương quan vô tận. Từ chỗ này, chẳng có biên giới giữa phương tiện và cứu cánh; cũng chẳng có giới hạn của tư tưởng, phương thức và thể tài văn học. Nói theo ngôn ngữ của Kim Cang bát-nhã thì cứu cánh chẳng phải là cứu cánh thì mới là cứu cánh; định hướng chẳng phải là định hướng thì mới là định hướng. Tất cả các pháp đều chẳng phải là pháp, đồng thời, không có pháp nào mà chẳng là Phật pháp. Từ không tính mà phủ nhận tất cả, cũng từ không tính mà xác lập tất cả. Lấy diệu hữu mà phô diễn chân không; từ chân không mà trình bày diệu hữu. Nói mà thực ra chẳng nói gì cả. Định hướng mà kỳ thực là bất định hướng. Như vậy, một hướng mà mở ra muôn hướng. Đó là con đường thênh thang của văn học Phật giáo.
Nhưng cần gì phải lý luận dông dài! Vẻ mênh mông tráng lệ của tư tưởng văn học Phật giáo dường thế, nhưng đâu là thực tế của nền văn học Phật giáo Việt Nam tại hải ngoại (và trong nước)?
– Văn học kinh viện: Văn học Phật giáo Việt Nam 30 năm nay có vẻ khép kín, thầy-trò trong chùa đóng cửa nói nhau nghe, dường như không liên hệ tới nền văn học dân tộc. Văn học dân tộc ở đây là nói một nền văn học của một cộng đồng con người dùng chung một ngôn ngữ, có những sinh hoạt sáng tác nghệ thuật, góp phần tạo nên bản sắc của một nền văn hóa đặc trưng, có thể thăng trầm đổi thay, nhưng nhất quán. Ở đây không dám vượt qua lằn ranh tính thể của văn học, mà chỉ xin xét nơi hiện tượng sinh hoạt của văn học. Có thể nói sinh hoạt văn học Phật giáo Việt Nam 30 năm qua là sinh hoạt “cửa tùng đôi cánh gài.”thử nhìn lại thời kỳ 1964-1975, những Nhất Hạnh, Huyền Không, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Quách Tấn, Võ Hồng, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Đức Sơn, Trịnh Công Sơn, Phạm Thiên Thư… không những là văn thi sĩ lỗi lạc của Phật giáo mà còn là những danh tài nghiễm nhiên chiếm lĩnh những vị trí hàng đầu trong vuông chiếu văn học nghệ thuật miền Nam Việt Nam. Những văn thi tài ấy cùng những tác phẩm cũ hoặc mới của họ cho đến ngày nay, vẫn còn là những ngôi sao sáng ảnh hưởng sâu đậm trong nền văn học dân tộc (và trong một vài trường hợp đặc biệt, văn học thế giới). Nhưng sau năm 1975, ở trong và ngoài nước, sao lại có hiện tượng vắng hoe nhân tài văn học trong giới Phật giáo như thế? Chúng ta có thể tính kể cho nhau nghe, nào là nhà văn A, nào là nhà thơ B, nào là nhạc sĩ C, nào là họa sĩ D… nhưng tại sao những văn nghệ sĩ ấy nổi danh trong Phật giáo lại không hề được biết đến trong giới văn nghệ sĩ cũng như giới thưởng ngoạn văn học nghệ thuật bên ngoài? Khi họ vào chùa, nhìn kinh sách báo chí nhà chùa thì họ biết thoáng qua những tên tác giả, nhưng ra khỏi chùa thì không còn nhớ đến nữa. Điều này có nghĩa gì? – Một là, Phật giáo thiếu những nhân tài văn học nghệ thuật kiệt xuất; hai là các nhân tài văn học Phật giáo chỉ sáng tác với mục đích truyền bá Phật Pháp, không quan tâm đúng mức chức năng thực sự của văn học, cho nên, không có tác phẩm xuất sắc; ba là sinh hoạt văn học Phật giáo rất cục bộ, không tiếp cận cuộc đời. Ba lý do ấy tác động hỗ tương với nhau, cô lập nền văn học Phật giáo khỏi dòng chính của văn học nhân gian.
– Nghệ sĩ phật tử và phật tử nghệ sĩ sáng tác gì? Báo chí Phật giáo kêu gọi sự góp mặt của những ‘nghệ sĩ phật tử’ có tiếng tăm, nhưng những nghệ sĩ này không biết phải góp mặt bằng cách nào. Nhà thơ tìm trong tập thơ trăm bài của mình xem bài nào có vẻ thuần tịnh, tả cảnh chùa với tiếng chuông mõ, hoặc phảng phất bóng dáng từ bi. Nhà văn tìm bài nào có liên hệ tới Phật và Bồ-tát hoặc một vị sư nào đó. Không tìm được bài thích hợp thế giới chay tịnh của thiền môn, các nghệ sĩ phật tử đành bó tay, im lặng, và đôi khi phải lánh mặt không bén mảng đến chùa. Còn những ‘phật tử nghệ sĩ’ thì lúc nào cũng hăng say sáng tác, nhưng bài vở chỉ rập khuôn một công thức “văn dĩ tải đạo.” Viết cho báo chùa thì phải viết về chùa. Ăn chay, trì chú, tụng kinh, niệm Phật, hình như là đề tài muôn thuở không thể thiếu trong các sáng tác Phật giáo. Thế nên, số lượng sáng tác thì nhiều mà phẩm chất lại kém, thơ văn của người này sàng sàng na ná của người kia, chẳng có cá tính, chẳng có sự đặc thù. Một nền văn học đầy dẫy những sáng tác có vẻ “vô ngã” tương tự nhau như thế, không thể gọi là một nền văn học thuần túy, mà chỉ là phòng thông tin của một cơ quan truyền giáo. Thiền sư nghệ sĩ như Nhất Hạnh có thể dùng văn học làm phương tiện truyền đạo mà phương tiện ấy vẫn cứ là tối hảo; nghệ sĩ thiền sư như Tuệ Sỹ sáng tác hào hoa cách nào cũng thể hiện lồng lộng cung trời tính Không. Nhưng đó là những tài năng ngoại hạng. Nơi họ, văn học cũng là phương tiện, cũng là cứu cánh. Nói cách nào cũng là đạo, mà im lặng cũng là đạo. Còn những người nghệ sĩ phật tử và phật tử nghệ sĩ ‘tầm tầm bậc trung’ như chúng ta, tất phải vạch một “khởi điểm” nhắm đến một “đích điểm.”tức là cần phải có một định hướng văn học với những chủ đề mở rộng, được khai triển từ Tứ Diệu Đế, có thể tạm gọi là nền ‘văn học Tứ Đế.’ Các nghệ sĩ phật tử và phật tử nghệ sĩ có thể bổ túc cho nhau, học hỏi và trao đổi nhau về tư tưởng phật học và các thể loại sáng tác văn học. Mà quan trọng nhất là từ phía hàng tăng sĩ lãnh đạo Phật giáo, cần phải có một cái nhìn cởi mở đối với văn học, từ nội dung đến hình thức, từ ý tứ đến thể tài. Một nền văn học khởi sắc rực rỡ chỉ có thể nẩy mầm và vươn cao từ mảnh đất tự do. Chất liệu giải thoát và tư tưởng mênh mông khoáng đạt của Phật giáo là nguồn tài nguyên vô tận cho cảm hứng sáng tạo của nghệ sĩ. Những nhà lãnh đạo Phật giáo không thể không quan tâm.
 Với mấy suy nghĩ và nhận xét khái quát về hiện trạng văn học Phật giáo Việt Nam tại hải ngoại (và trong nước) như thế, người viết luôn kỳ vọng báo chí Phật giáo sẽ là những quán trọ ở ngã tư đường, mở toang bốn hướng cửa để tiếp đón lữ khách bốn phương, là chỗ nối kết cho các khuynh hướng sáng tác văn học Phật giáo, là viên gạch lót đường cho những khai phá, sáng tạo, tìm tòi, thử nghiệm… như là khởi điểm cho một viễn trình làm mới bộ mặt văn học Phật giáo. Sẽ có ít người đồng tâm hưởng ứng. Sẽ có khá nhiều người bảo thủ chống đối. Nhưng không sao. Chẳng có cuộc cách mạng nào có thể diễn ra một cách êm thấm xuôi thuận.
Mở hướng mới không thể không nhìn lại chặng đường đã qua. Tản mạn đôi điều về văn học Phật giáo Việt Nam như thế nếu có làm phật lòng ai, cũng là điều vạn bất đắc dĩ.
Bởi vì, đích điểm của văn học Phật giáo là gì?
Là sự vượt qua.
Ma ha bát nhã ba la mật.
California, ngày 01 tháng 9 năm 2006
Vĩnh Hảo

Thursday, May 28, 2020

Vĩnh Hảo: Lời Ca Của Gã Cùng Tử (Tuyển tập 100 Lá Thư Chủ Bút Nguyệt San Chánh Pháp)

Lời Ca Của Gã Cùng Tử 

(Tuyển tập 100 Lá Thư Chủ Bút Nguyệt San Chánh Pháp)

Vĩnh Hảo

LỜI CA CỦA GÃ CÙNG TỬTuyển tập 100 Lá Thư Chủ Bút Nguyệt San Chánh Pháp
Biên Soạn: Vĩnh Hảo
Hương Tích Phật Việt xuất bản, 2020.
Bìa: Uyên Nguyên
Trình bày và layout: Nhuận Pháp và Tâm Thường Định
Copyright © 2020 Vĩnh Hảo, Hương Tích Phật Việt.
ISBN: 9798644156986
All rights reserved.
___________________

Tựa

Biết mình là cùng tử, biết mình có viên ngọc trong chéo áo, thì không còn là cùng tử.
Không còn là cùng tử thì không còn lang thang.
Nhưng lang thang, một khi không phải là hệ lụy từ vô minh vọng tưởng thì lang thang trở thành tất yếu.
Lên đường đi đâu, về đâu? Ai vạch, ai vẽ nên con đường ấy?
Nếu mọi con đường đều từ tâm khởi thì con đường nào cũng vô tận.
Khổ đau bất tận, thúc bách khát vọng tìm cầu hạnh phúc, cũng bất tận; và cặp đôi này luôn dẫn vào những mê lộ thăm thẳm vô biên.
Không có đích đến cho những truy cầu, vọng tưởng.
Những nơi tạm dừng hay ở lại lâu dài cũng không phải là đích đến.
Thế nên, cuộc lên đường của cùng tử không phải là những bước chân giang hồ lang bạt của một kẻ nghèo cùng khốn khổ, mà là cuộc du hành của một kẻ rất ư tự tin, giàu có. Có thể gọi cuộc rong chơi này là du- hí tam-muội.
Dừng lại là thể; rong chơi là dụng.
Diệu dụng của mọi cuộc rong chơi chính là ba-la-mật.
Trăm lời ca hay ngàn lời ca cũng đều là tiếng vọng của một kẻ lãng du đi qua trần gian mộng huyễn, như gió đùa qua nước. Gió đôi khi cuồng nộ như giông bão, nhưng thường khi chỉ là những thoáng nhẹ vi vu, không dấu vết, để lại đôi vòng sóng lan man, gợn trên mặt hồ tĩnh lặng.
Ngày xa quê nơi quê xa
Vĩnh Hảo

Tự Do Khỏi Tự Ngã

Thư tòa soạn số 52, tháng 03.2016
Những ngày Tết rộn ràng trôi qua thật nhanh; nhưng hoa xuân vẫn trên cành. Buổi sáng nơi vườn ríu rít tiếng chim. Cành mai chưa kịp ra hoa; các nụ vừa chớm, mũm mĩm vươn lên từ những chồi lá xanh mướt; trong khi hoa đào thì khiêm nhường khoe sắc hồng tía nơi một góc hiên. Các nhánh phong lan kiêu sa nhè nhẹ đong đưa theo làn gió sớm. Bầu trời xanh biếc không gợn mây. Lòng bình yên, không muộn phiền…
Người ta vẫn thường cho rằng văn minh là tiến bộ, là đi tới. Dừng lại hoặc đi lui thì không văn minh. Thực ra, càng tiến bộ, con người càng tăng thêm nhiều nhu cầu; càng nhiều nhu cầu, càng tăng thêm nhiều gánh nặng và trói buộc.
Hãy tạm gác qua một bên định nghĩa điển chương của chữ văn minh (civilization) như là đỉnh cao thành tựu của một nền văn hóa (dân tộc hay nhân loại) trong một giai kỳ nào đó. Hãy nói về nền văn minh của con người trong ý nghĩa là thành tựu mục tiêu (hay ước vọng) đem lại phúc lạc thực sự cho mình, cho người, một cách bình an.
Trong ý nghĩa đó, nhân loại ngày nay quả thực là không có văn minh: kêu gọi tự do cho mình mà lại tước đoạt tự do của người; xóa bỏ giai cấp bằng đấu tranh giai cấp; muốn bình đẳng nhưng lại đối xử phân biệt (giới tính, chủng tộc, tôn giáo, đảng phái); chống độc tài mà lại muốn độc quyền độc tôn; nâng đỡ, ủng hộ những người này bằng cách cướp đoạt, đày đọa những người khác; mưu cầu hòa bình bằng khởi động chiến tranh… Chúng ta, loài người tân tiến, loay hoay đi tìm sự bình an bằng những phương tiện bất an; tìm hạnh phúc bằng con đường đau khổ.
Cho nên, không phải cứ nhắm mắt bước tới, bước lên, là văn minh. Có khi cần phải dừng lại. Có khi cần phải bước lui.
Dừng lại những manh động của tự ngã: hành động, lời nói và ý nghĩ nào nhằm tư lợi, vinh danh cá nhân (dù bằng hình thức tinh vi nhẹ nhàng nhất), đều không phải văn minh; ngược lại, chúng là đầu mối cho những xung đột, mâu thuẫn, làm rối loạn xã hội.
Bước lui để tự kiểm và tránh xa sự nuôi lớn bản ngã: tự hào, tự mãn, tự cao, tự tôn… đều là những biểu hiện lộ liễu và lố bịch của con người trước những thành công lớn hay nhỏ trong cuộc sống; đặc biệt là đối với danh vọng—nó thường cho người ta ảo tưởng về sự vượt trội và vĩ đại. Hào quang danh vọng luôn làm mờ mắt và choáng ngộp những ai bước lên đỉnh cao (nơi họ nghĩ là tột cùng)—mà không tự biết rằng nơi ấy thường khi lại là chỗ xuất phát cho tiến trình sa đọa, đi xuống.
Có người sẽ hỏi, bằng hình ảnh cụ thể, một kẻ đã lên đến đỉnh đồi rồi thì đi đâu nữa? – Câu trả lời thông thường là người ta có khuynh hướng đi quanh, hoặc đi xuống.
Thực ra vẫn còn một lối đi cho kẻ chạm đến đỉnh đồi, đó là bước vào khoảng không. Có thể mượn lời của Thiền sư Cảnh Sầm mà nói rằng “Bách trượng can đầu tu tiến bộ,” nghĩa là đứng trên đầu sào trăm trượng, vẫn nên bước thêm bước nữa. Bước vào hư không.
Đó không phải là con đường của mọi người. Cũng không phải là con đường dẫn đến văn minh vật chất, hữu thể.
Đó là con đường của kẻ thiên lý độc hành; là con đường siêu tuyệt vượt lên tất cả mọi nền văn minh, vượt qua tất cả mọi trói buộc của tự ngã, vượt qua cả sự vượt qua, đạt đến tự do tuyệt đối (mà kỳ thực cũng chẳng có gì để vượt qua hay đạt đến).
Chỉ có những gì rất thực và rất thường ở nơi này. Bầu trời không mây, tím sẫm. Đêm bình yên trong tiếng gió, nhẹ khua chiếc phong linh, và những giò lan âm thầm tỏa hương. Trăng đầu mùa lừng lững lên cao. Lòng bình yên, thong thả châm trà.
California, ngày 27.02.2016

Wednesday, May 27, 2020

Hải Triều Âm: Lời Vào Tập cho “Kỷ yếu Tang Lễ Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang”

Hải Triều Âm: Lời Vào Tập cho “Kỷ yếu Tang Lễ Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang”

Bảo Tháp Đức Cố Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang trong khuôn viên Tu viện Nguyên Thiều
(Tâm Quang Vĩnh Hảo chấp bút theo yêu cầu của Ban Biên Tập Hải Triều Âm)
 Khi một thiền tăng nằm xuống, giới nhà thiền gọi riêng sự kiện này một cách tôn kính là “viên tịch” hoặc “thị tịch”, hàm nghĩa rằng sự ra đi chỉ là hoàn thành sứ mệnh của mình đối với thế gian, trở về với nơi tịch diệt niết-bàn; và đến hay đi, nhập hay xuất, nơi cõi ta-bà này cũng chỉ là phương tiện quyền biến của một lữ khách mà thôi, thực sự không có sinh tử trong cõi đời mộng huyễn.
Trong ý nghĩa cao viễn ấy, sự viên tịch chính là một hành tướng của giải thoát, tự tại; và chính vì giải thoát, tự tại, dấu chân của thiền tăng là vô tích, hành trạng của thiền tăng là vô hành. Những gì cần lưu dấu, khắc ghi để noi gương hoặc giữ làm kỷ niệm là của người ở lại.
Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, Tăng Thống GHPGVNTN, đã thị hiện và thị tịch nơi cõi đời này 89 năm, với 71 hạ lạp (theo tiểu sử, ngài thọ cụ túc giới năm 18 tuổi, không phải 20 tuổi như qui chế đàn giới qui định). Suốt một đời tận tụy hoằng pháp, hành đạo, gánh vác việc giáo hội, ngài đã trải không biết bao nhiêu là khổ nhọc, gian truân, tân toan lo nghĩ và dấn thân gầy dựng một tương lai tốt đẹp cho Đạo pháp, và cho Dân tộc. Nhưng những hoàn cảnh khổ nhọc gian truân ấy, đối với tâm thái của một thiền tăng, chỉ là hình sắc bên ngoài, chỉ là hoa đốm hư không; và đối với thời gian thực tế của đời ngài thì chỉ là một phần nhỏ. Một tù nhân không biết làm gì khi bị giam nhốt sẽ cảm thấy thời gian ở tù của mình là uổng phí, vô vị; còn đối với ngài, thời gian ở tù hoặc bị quản thúc, chẳng qua là thời gian tạm ngừng nghỉ một số Phật sự nào đó, nhưng việc hành trì, nhiếp chúng không gián đoạn; và nhìn một cách lạc quan, có thể nói chính thời gian này là thời gian ngài làm được nhiều việc nhất. Ngồi một chỗ mà có thể cứu độ, cảm hóa vô số chúng sanh, tạo vô biên công đức. Những gì ngài làm, nói, và nghĩ, cũng như tâm hành tự tại thênh thang của ngài thì không làm sao ghi hết được. Nếu cố gắng cô đọng trong một bài viết hoặc tiểu sử, cũng chỉ phác thảo được một vài nét chính. Mà những nét gọi là “chính” ấy, hẳn là không thể nêu bật được cuộc đời và phẩm cách một bậc long tượng hàng đầu của Phật giáo Việt Nam đương đại, nếu người soạn viết chỉ khai thác những khía cạnh nhỏ và thứ yếu trong toàn cảnh bức tranh đời ngài.
Hình trái: Quang cảnh Lễ Nhập Tháp của Đức Đệ Tứ Tăng Thống GHPGVNTN,
Tỳ Kheo Thích Huyền Quang
Hình phải: Hòa Thượng Thích Quảng Độ trong tang lễ
Đức Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang
(Ảnh tư liệu Quangduc.com)
Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang viên tịch ngày 05 tháng 7 năm 2008 (nhằm ngày mùng 3 tháng 6 năm Mậu Tý), đến nay đã tròn một tháng. Trong những ngày qua, Tăng Ni và Phật tử của nhiều giáo hội, tổ chức, tự viện, từ trong nước đến hải ngoại, đã cử hành lễ tang, lễ tưởng niệm và thọ tang ngài một cách tôn kính, long trọng. Tang lễ diễn ra tại Tu viện Nguyên Thiều, theo như tin tức và hình ảnh cho thấy, thật là trang nghiêm, trọng thể, dù đã có chủ ý tổ chức đơn giản, “vô tướng.” Hơn 1000 Tăng Ni và 2000 đoàn viên GĐPT, cùng với hàng ngàn thiện tín nam nữ khác đã tham dự tang lễ cho thấy niềm kính tiếc của Phật giáo đồ đối với ngài như thế nào.
Nhiều báo chí, trang nhà điện toán, đài truyền thanh và truyền hình, cũng đã nhắc đến tên ngài, hoặc đưa thông tin về tang lễ (trong nước) và các buổi lễ tưởng niệm ở khắp nơi. Đặc biệt ở hải ngoại, tin tức về lễ tang và lễ tưởng niệm ngài rất đầy đủ, được thông tin từ nhiều nguồn khác nhau: Phật giáo, các giáo hội khác nhau, các tôn giáo bạn, các tổ chức và hội đoàn chính trị, các cơ quan truyền thông… (lược bớt một đoạn) Một số các lễ “tưởng nguyện” ngài, người tham dự được nghe sự vinh danh ca tụng tinh thần yêu nước, đấu tranh chống cộng sản,… được nghe ban tổ chức công khai gièm pha chỉ trích Tăng Ni và các lễ tưởng niệm cử hành ở những chùa khác… nhiều hơn là nghe về đạo nghiệp và phẩm cách cao đẹp của một bậc tôn giả[1] chốn Không môn.
Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ trước Linh Đài Đức Đệ Tứ Tăng Thống GHPGVNTN,
Tỳ Kheo Thích Huyền Quang tại tu viện Nguyên Thiều
Thứ Ba 8-7-2008 (Ảnh tư liệu Nhuận Pháp)
Trước tình trạng như vậy, chúng tôi cảm thấy có trách nhiệm thực hiện tập tài liệu này để sưu tập một số văn kiện, tin tức, hình ảnh, văn thơ điếu, khả dĩ nêu bật được công hạnh kỳ vĩ của Đại lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang. Một vài bài viết điển hình do ngài trước tác trước và sau năm 1975 cũng được trích dẫn ở đây để thấy tính cách nhất quán trong đường hướng, hoài bão và tâm nguyện của ngài đối với Phật giáo và dân tộc. Một số văn kiện được ban hành từ Viện Tăng Thống do ngài ấn ký trước khi có giáo chỉ số 2 và số 9 cũng thể hiện lòng từ bi, khoan dung và cởi mở của ngài đối với tha nhân, bao gồm những người đồng đạo, khác đạo, và ngay cả những người bất thiện cố ý triệt hạ Phật giáo, hoặc tổn hại đến giáo hội và các thành viên do ngài lãnh đạo. Một tập kỷ yếu về ngài đầy đủ hơn, hy vọng sẽ được môn đồ pháp quyến thực hiện trong những năm tháng tới. Riêng sưu tập này, với thời gian ngắn để hoàn thành, chúng tôi chỉ ghi nhận những tài liệu nào có trong tầm tay. Những lễ tưởng niệm, thọ tang, văn kiện và sự việc nào liên quan đến sự viên tịch của Đại lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang mà không có trong sưu tập, có thể vì một trong những lý do sau đây:
  • nơi tổ chức không viết tường thuật, không chụp ảnh, cũng không phổ biến tin tức về buổi lễ;
  • nơi tổ chức có thông tin về buổi lễ nhưng không cung cấp cho ban biên tập chúng tôi;
  • nơi tổ chức quá thiên về hình thức hành chánh mà không chú trọng nội dung: lễ thọ tang Đức Tăng Thống mà chỉ lo tố cáo, chỉ trích cá nhân hoặc tổ chức khác;
  • nơi tổ chức có vẻ nặng không khí chính trị, ân cần tiếp đón thỉnh mời chính khách và Tăng Ni ngoại quốc để tô phồng ảnh hưởng quốc tế không thực có mà không quan tâm đến thực thể Tăng Ni và Phật tử Việt Nam.
Sau cùng, xin thưa rằng tập tài liệu này sẽ không sao tránh khỏi những thiếu sót, rất mong sự bổ khuyết của chư tôn đức Tăng Ni và Phật tử gần xa, để nếu có điều kiện tái bản, sẽ được hoàn chỉnh hơn.
Ước mong tập tài liệu nhỏ này có thể gửi đến chư tôn đức Tăng Ni và Phật tử khắp nơi biểu tượng Huyền Quang, như một bậc tôn giả của Phật giáo Việt Nam, và như một đại sĩ hiện thân nơi cõi ta-bà khổ não này.
Với ước mong đó, chúng tôi cung kính đảnh lễ cúng dường giác linh ngài, và xin thành tâm dâng tặng tiểu phẩm này đến liệt quí vị.
Ngày 05 tháng 8 năm 2008
Ban Biên Tập Hải Triều Âm
_____________________________________________
[1] Chữ dùng của Đại lão Hòa Thượng Thích Trí Quang trang trọng tôn xưng Đại lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang trong bức liễn điếu gửi đến Tu viện Nguyên Thiều. Chữ này chỉ dành để gọi những bậc thượng thủ đáng tôn quí, đáng xưng tụng và qui ngưỡng trong Tăng đoàn.

_______________________
BÌNH ĐỊNH (trích Việt Báo Thứ Tư, 7/9/2008) — Theo tin VB, các huynh trưởng Gia Đình Phật Tử đã dựng lên nhiều lều để làm chỗ đón nhiều ngàn tăng ni Phật Tử , và thay nhau đứng bếp suốt 24 giờ mỗi ngày để cung cấp lương thực cho các đợt Phật Tử tới dự tang lễ cố Đaị Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Đức Tăng Thống của GHPGVNTN. Nhiều vị tôn túc nổi tiếng trong giới học thuật của Tu Viện Quảng Hương Già Lam cũng đã từ Sài Gòn khẩn cấp tới dự lễ tang, trong khi nhiều vị tôn đức khác từ nhiều tỉnh cũng tới thọ tang.
Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ đã có mặt tại Tu Viện Nguyên Thiều hôm Thứ Ba 8-7-2008 để cầu nguyện cho hương linh ngài Huyền Quang. Thượng Tọa Thích Thanh Huyền (cũng từ Già Lam) đã có mặt từ nhiều ngày trước, và đã đích thân tham dự lễ nhập quan cho ngài Huyền Quang.
Các đơn vị Gia Đình Phật Tử mặc đồng phục thay nhau giữ gìn trật tự. Các huynh trưởng mang băng trật tự đứng từ ngã ba Diêu Trì (lối vào Tu Viện Nguyên Thiều) dọc theo nhiều cây số tới cổng để đón, chỉ dẫn lối đi cho Phật Tử bằng nhiều phương tiện giao thông tới dự tang lễ.
Người đông tới tiếp đón tất bật. Tất cả các lều của các đơn vị Gia Đình Phật Tử Bình Định đều được trưng dụng khẩn cấp để dựng lên tiếp đón. Các anh chị huynh trưởng Gia Đình Phật Tử đứng nấu bếp 24 giờ thay nhau để lúc nào cũng có nước sôi và thức ăn cho người tham dự. Lương thực thực phẩm địa phương không cung ứng kịp. Các huynh trưởng phải đặt mua xa, từ Nha Trang. (…)
Cũng hôm Thứ Ba, các Dân Biểu Liên Bang Loretta Sanchez (Dân Chủ), Dân Biểu Zoe Lofgren (Dân Chủ) và Dân Biểu Tom Davis (Cộng Hòa) đã cùng ký tên trong một lá thư phân ưu đến với Hòa Thượng Thích Quảng Độ và đồng bào phật tử của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trong và ngoài nước về việc viên tịch của Đức Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang.
Bản văn của 3 dân biểu ca ngợi “Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang là người khiêm tốn đầy lòng yêu thương đã dâng hiến cuộc đời ông để đứng lên cùng chính nghĩa tranh đấu cho tự do tôn giáo và nhân quyền cho người dân Việt Nam.
“Ngài là biểu tượng cho phong trào đấu tranh ôn hòa cho tự do tôn giáo và nhân quyền của người dân Việt Nam. Chúng tôi biết hơn 3 thập niên qua, Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang đã bị bị quản thúc tại thiền viện vì đã kiên trì đấu tranh cho tự do tôn giáo và nhân quyền bất chấp các cấm cản. Chúng tôi chắc sự cố gắng suốt đời của Đức Tăng Thống sẽ không bị oan uổng và mong rằng nhà cầm quyền Việt Nam sớm thừa nhận và kính trọng quyền tự do tôn giáo.
“Chúng tôi cũng được biết nhà cầm quyền Việt Nam đang cố gắng hạn chế Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trong công việc tổ chức tang lễ cho Đức Tăng Thống Thích Huyền Quang theo như truyền thống và ý nguyện của Giáo Hội. Một lần nữa, chúng tôi xin chân thành bày tỏ lòng thương tiếc và gởi lời thành kính phân ưu đến với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trong thời gian khó khăn này. Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến quyền tự do tính ngưỡng và độc lập của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và quyền tự tuyển cử Đức Tăng Thống thừa kế Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang.
“Chúng tôi hiểu rõ tình trạng đàn áp tự do tôn giáo và nhân quyền vẫn tiếp tục xãy ra tại Việt Nam. Chúng tôi sẽ luôn cố gắng làm việc cùng các đồng nghiệp và cộng đồng thế giới để nói lên tình trạng đàn áp tự do tôn giáo và nhân quyền tại Việt Nam.”
Bản văn của 3 dân biểu cũng gửi chung cho Đại Sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, Lê Công Phụng; Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, Michael Michalak.
Đặc biệt, bản Điếu Văn của Ban Hướng Dẫn Trung Ương Gia Đình Phật Tử đã do đại diện quý huynh trưởng đọc trứơc linh quang của cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang hôm Thứ Ba.
Trong tấm ảnh mà Việt Báo nhận được từ quý huynh trưởng, cho thấy quý huynh trưởng đang quỳ đọc trứơc linh quan, và đứng trứơc là Thượng Tọa Thích?Minh Tuấn (môn đồ pháp quyến).

Phụ bản  toàn văn bản Điếu Văn của GĐPT Việt Nam
PHỤC BÁI THƯỢNG VĂN
Của BHDTƯ TRONG LỄ TƯỞNG NIỆM ĐỨC ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG
Thượng HUYỀN hạ QUANG – ĐỆ TỨ TĂNG THỐNG GHPGVNTN
***
Sông Côn sóng cuộn,
Đỉnh Thái mây vần;
Bốn nghìn năm non nước lặng chuông ngân,
Suốt nghìn dặm hoa vàng in ngấn lệ,
Rừng thông bóng ngả, chợt lênh đênh dép cỏ rêu mờ,
Canh mộng đèn lu, nghe lạnh buốt nhà Lam mưa rủ.
Đường đời vinh nhục, không nhạt màu son,
Vận nước thăng trầm, dễ mòn nẽo Đạo.
Giữa lúc thuyền Chánh Pháp vượt ngàn thác lũ,
Ánh Hùng Tinh lịm tắt bờ Tây;
Đàn chim dại bơ vơ, cội Bồ Đề lá rụng.
Chúng con tòan thể Lam viên khắp mọi miền thế giới,
Từ tận cùng hải đảo xa xôi,
Hoặc hiện tiền, hoặc xa cách,
Hết thảy đồng quy tâm về trú xứ Nguyên Thiều,
Đồng phủ phục dưới bóng Linh đài,
Chí thành kỉnh niệm Giác Linh xưa,
Gia phong truyền nếp, tín nguyện túc căn.
Giang sơn Bình Định kết thái anh hoa;
Nhân kiệt địa linh ươm mầm Thánh chủng.
Tuổi đồng chơn cát ái từ thân, nhẹ gót siêu phương.
Đường Bắc Nam xuyên suốt dặm trường,
Mười bốn năm theo Thầy học đạo.
Giữa lúc nhân tâm thế đạo ngửa nghiêng,
Đất nước ngập tràn máu lệ,
Quê hương nô dịch ngọai bang;
Gío Tây điên đảo, tà thuyết hòanh hành;
Chín năm ròng lặn lội hiểm nguy, vào tù ra khám,
Mong manh chiếc áo nâu sòng mà đương cự cuồng phong, dương cao Chánh Lý. Khi đất nước qua phân, củi đậu nấu đậu,
Mà nước sông Côn chưa cạn tình người;
Sừng sững Trường Sơn,
Bóng rập phương trời khói hận.
Sân chùa nắng đỏ, đỉnh tháp sương in;
Ánh đèn khuya soi lối cửa tùng,
Hồn dân tộc rạng ngời Bắc đẩu.
Ba mươi năm vật đổi sao dời,
Bền nguyện cả dẫu lênh đênh chìm nổi.
Cửa Thiền bổng rộn ràng khóa lợi,
Đèn Tổ chong leo lét Tăng luân.
Đường Bắc Nam một dải sơn hà,
Tình nhân thế chập chờn phản phúc.
Thị phi không đầu mối,
Nhân nghĩa khớp dàm danh.
Bóng xuất trần nặng trĩu gánh nhân sinh,
Gương đạo lý phôi pha màu thế lụy.
Người về đâu, muôn dặm thân cô,
Cắm gậy trúc vững nền Đạo thống.
Đi về đâu, nghìn nhà một bát,
Quải nạp y ấp ủ hương Nguyền.
Bánh xe Hóa đạo xoay vần theo quỹ đạo Nhật thân,
Bĩnh pháp truyền đăng
Giữ gìn lưu truyền Thánh sử.
Nghìn năm Huyền sữ, đêm âm u bởi lạc hướng văn minh.
Một lớp thiêu thân, gió dập dồn theo lửa đèn hư huyễn.
Đầu đường xó chợ lác nhác trẻ thơ,
Quán rượu phòng trà quay cuồng niên thiếu.
Để đưa đàn nai qua rừng an ổn,
Tránh xa cạm bẩy yêu ma;
Chúng con nương nhờ đức Cả, tựa bóng sông chùa,
Dọn vườn Lam tiếp đãi hậu sinh,
Lắng nước Tuệ ươm mầm chánh tín.
Những cánh chim non đã tung bay khắp bốn phương trới,
Bằng BI TRÍ DŨNG mà vượt ngàn giông bão.
Kỳ diệu thay! Chúng sanh ngiệp cảm bất khả tư nghì;
Gốc cổ thụ nghìn tầm sừng sững.
Rồi một sớm, cỗng nhà Thiền chợt khóa nẻo vườn Lam,
Đàn Oanh vũ xua bay tứ tán.
Từ ly lọan nghe ẩn tình thâm thiết,
Lướt phong ba nên chí nguyện kiên cường.
Trên trời cao ngự án mây Từ,
Cho cỏ dại vươn cao, dù nắng mưa bãp táp.
Ô hô ai tai!
Dòng sanh diệt sát na khônh đình trú,
Cõi vô thường một thóang sương mai.
Bến Kim Hà rụng cánh hoa Đàm,
Miền đất khổ nghẹn lời Di huấn.
Kể từ đây, đường về cõi Tịnh, bóng ẩn hoa vàng;
Lối cỏ Nguyên Thiều, rêu mờ gậy trúc.
Biển Đông vang dậy muôn lớp sóng triều,
Cánh hạc ngút ngàn phương trời thăm thẳm.
Bóng Thầy lồng lộng,
Đi về tự tại đường mây;
Lênh đênh một chiếc thuyền Lam,
Mù mịt ba nghìn thế giới.
Còn đây vẳng lời Thầy dạy,
Mênh mông bể khổ, bất khà nại hà.
Chốn Ta Bà ô trược,
Chúng con nguyền không quản chông gai;
Đời nhân ngã thị phi,
Còn đức nhẫn nên sáng màu đạo nghĩa.
Ô hô, phục vọng Giác Linh tiền.
Quý huynh trưởng đang quỳ đọc trước linh quan hôm Thứ Ba 8-7-2008,
và đứng trước là Thượng Tọa Thích Minh Tuấn (môn đồ pháp quyến)
tại Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định.