Showing posts with label GS. Nguyễn Văn Thái. Show all posts
Showing posts with label GS. Nguyễn Văn Thái. Show all posts

Wednesday, September 4, 2019

TIÊU CHUẨN YÊU ĐƯƠNG CỦA NGƯỜI ĐÀN BÀ QUA THI CA DÂN GIAN

Tranh - Hiền Huỳnh

TIÊU CHUẨN YÊU ĐƯƠNG CỦA NGƯỜI ĐÀN BÀ QUA THI CA DÂN GIAN

Người đàn bà Việt Nam trong dòng sinh mệnh của dân tộc

Tình yêu lứa đôi là một thể tính quan trọng trong đời sống con người, nhất là đối với người phụ nữ Việt Nam. Người đàn ông có thể có thái độ hời hợt về tình yêu, nhưng người đàn bà thì không. Người đàn bà không đùa giỡn với tình yêu; khía cạnh này sẽ được khai triển trong một bài khác. Bài này chỉ tập trung vào chủ điểm tình yêu -- qua ca dao, tục ngữ -- là một hiện tượng mà người đàn bà hết sức trân quý.  Mà vì trân quý tình yêu cho nên người đàn bà thường không yêu bừa bãi mà nhất quyết chỉ “muốn yêu” người đàn ông hội đủ những tiêu chuẩn mà người đàn bà cho là quan trọng trong liên hệ lứa đôi. Cụm từ “muốn yêu” được dùng có chủ ý, bởi vì hôn nhân, trong văn hoá Việt Nam, nhiều khi vượt khỏi tự do lựa chọn của người con gái. 

Vậy người ta tự hỏi người đàn bà muốn người mình yêu có những đặc tính nào? Dưới chế độ cộng sản miền Bắc với lý thuyết duy vật biện chứng được nhồi nhét suốt mấy chục năm trời cùng với sự nghèo khổ cùng cực của nhân dân miền Bắc, cộng thêm sự đột biến của nền kinh tế chỉ huy thành chính sách kinh tế thị trường trên toàn cõi đất nước từ thập niên 80 trong thế kỷ trước cho đến nay, con người -- nhất là những người hời hợt -- sẽ nhanh chóng trả lời một cách không do dự là tiêu chuẩn quan trọng nhất là TIỀN. Thực sự câu trả lời này không khẩn thiết là sai. Có thể tâm trạng của những người đua tranh về kinh tế, tiếp cận với đời sống đô thị và thế giới trên lãnh vực kinh tế đã biến họ thành những người bắt chước, nhưng chỉ bắt chước được cái vỏ bên ngoài mà không thấu hiểu được cái cốt lõi bên trong của những nền văn hóa dân chủ.

Sự biến chất của một số người hời hợt này -- và chính quyền cộng sản độc tài hiện tại cũng đang muốn biến tất cả nhân dân, nhất là giới trí thức, thành những người như thế -- sẽ không làm thay đổi được tâm trạng của những người mà ưu tư đã thấm nhuần nền tảng giá trị của dân tộc. Nỗ lực bồi dưỡng nền tảng giá trị này đã từng có sự đóng góp của giới trí thức, học giả trên toàn quốc. Nhưng văn học dân gian, đặc biệt là ca dao, tục ngữ xuyên suốt mấy ngàn năm lịch sử cũng đã đặt những viên đá gốc cho một hệ thống giá trị tiêu biểu của dân tộc. 

Sau đây là những câu trả lời về những tiêu chuẩn mà ca dao, tục ngữ xác định như là những yêu cầu thiết yếu cho tình yêu của người phụ nữ dân dã Việt Nam.

Một trong những tiêu chuẩn thiết yếu là nhân nghĩa.

Tìm vàng, tìm bạc dễ tìm,

Tìm câu nhân nghĩa khó tìm bạn ơi!


Đối với người phụ nữ Việt Nam, thước đo tình yêu đôi lứa là nhân nghĩa:
Đứa ở xét công, vợ chồng xét nhân nghĩa.

Theo tinh thần Khổng giáo, một triết lý sống thực dụng đã có ảnh hưởng sâu đậm trên nhiều tầng lớp nhân dân từ giới trí thức cho đến giai cấp dân dã, hòa hợp với ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo và Phật giáo, thì quan niệm về nội dung của từ “nhân” gần như đồng nghĩa với cụm từ “bác ái” trong Thiên Chúa giáo và cụm từ “từ bi” trong Phật giáo. Khổng Tử trả lời cho học trò Trương Tử Vấn là nếu người nào làm được năm điều sau đây là người có “nhân”: (1) cung, (2) khoan, (3) tín, (4) mẫn, và (5) huệ. Cung [恭] có nghĩa là “kính trọng, tôn kính”. Khoan [惠] là “khoan dung, tha thứ”. Tín [信] là “sự thành thực, lòng thành”. Mẫn [敏] là “cần cù, gắng gỏi”. Huệ [惠] “là lòng thương, lòng nhân ái” (Hán Việt Tự Điển Trích Dẫn). Tóm lại, từ “nhân” có nghĩa là lòng thương người; kính trọng tha nhân; sẵn sàng giúp đỡ, an ủi những người khốn khổ hay trong hoàn cảnh khó khăn, với tất cả lòng chân thành của mình; sẵn sàng tha thứ những lỗi lầm của người khác; và phải chuyên cần học hỏi. Cũng trong bối cảnh văn hoá này, từ “nghĩa” [義] có nghĩa là “sự tình đúng với lẽ phải, thích hợp với đạo lý” (Hán Việt Tự Điển Trích Dẫn). Trong quan hệ vợ chồng, “đúng với lẽ phải, thích hợp với đạo lý” bao hàm sự biết ơn và hành động trả ơn, không phụ bạc hay phản bội. Do đó trong tình nghĩa vợ chồng, tình yêu được biểu lộ qua sự đùm bọc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau; an ủi, vỗ về nhau trong những lúc khó khăn. Sự đùm bọc, giúp đỡ, hỗ trợ, an ủi, vỗ về không những chỉ biểu lộ tình yêu mà còn là chứng tích của sự biết ơn và trả ơn cho những công lao, chăm lo, và săn sóc mà người thương đã tận tuỵ dâng hiến cho mình.  Những hệ luận của nhân nghĩa còn bao hàm ý nghĩa tính tình hiền lành, hoà nhã, tình thương và sự quý trọng anh em, hiếu đạo đối với cha mẹ. Nhân nghĩa biểu tượng trọn vẹn giá trị người. Cho nên con người không có nhân nghĩa thì không còn là con người nữa, không còn đáng được yêu chuộng nữa.

Tiền tài như phấn thổ,

Nhân nghĩa trọng tợ thiên kim.
Con le le mấy thuở chết chìm,
Người tình bạc nghĩa kiếm tìm làm chi.

.
Do đó người đàn bà khẩn thiết phải có một lập trường dứt khoát:
Người còn thì của cũng còn,

Miễn là nhân nghĩa vuông tròn thì thôi.


Một tiêu chuẩn khác cho tình yêu của người đàn bà là học thức.  Học thức trong môi trường giáo dục Nho giáo cũ không chỉ có nghĩa là biết văn chương thi phú mà còn đồng nghĩa với đạo đức, yêu chuộng và thực hành đạo thánh hiền. Một điểm cần lưu ý là trong bối cảnh truyền thống văn hóa Việt, “học” thường đi đôi với “hạnh”. Đạo đức là hệ luận của kiến thức. Một người có học mà không có đạo đức là một hiện tượng bất bình thường. Do đó, một khi nhân nghĩa là tiêu chuẩn của yêu đương thì học thức đương nhiên cũng phải là một tiêu chuẩn. Một người đàn ông có học thường giữ được một vị thế ưu tiên trong lòng người đàn bà Việt Nam.
Chả tham ruộng cả, ao liền;

Tham về cái bút, cái nghiên anh đồ.

Ngoài giá trị đạo đức tất yếu phải có, người đàn ông hay chữ còn có cái giá trị được xã hội quý trọng. Vì hay chữ thì làm thầy mà trong xã hội cổ truyền thì trên là vua, dưới là ông thầy cho nên

Không ham bồ lúa anh đầy,

Ham ba hàng chữ làm thầy thế gian.


Và tình yêu chồng chất ngang bằng với lượng kiến thức mà chàng sở hữu: Càng hay chữ, càng được yêu:
Hai tay cầm bốn trái dưa,

Trái ăn, trái để, trái đưa cho chàng.
Tay cầm cuốn sách bìa vàng,
Sách bao nhiêu chữ, dạ thương chàng bấy nhiêu.

Nhưng kiến thức của chàng phải là thứ kiến thức đích thực.  Chàng phải là người học thức thứ thiệt, chứ không thể là học giả giả hiệu.  Dù là dân dã, người đàn bà vẫn có thể nhận diện được mấy ông mang hàm học vị giả hiệu và có thể trắc nghiệm được khả năng chân chính hay giả tạo. Sự giả tạo lố lăng không lường gạt được ngay cả người dân thôn quê bình dị.

Gặp anh hay chữ em hỏi thử đôi lời,

Sao trên trời mấy cái, nhái ngoài đồng mấy con.
Chuối con mấy bẹ, chuối mẹ mấy tàu?
Anh đây đối đặng thời tôi vào kết duyên.

Trái với học thức là sự ngu đần, dốt nát.  Ngu đần, dốt nát là phản đề tất yếu của kiến thức.  Vì vậy ngu đần và dốt nát không thể nào hiện hữu trong sổ liệt kê những tiêu chuẩn yêu đương của người phụ nữ Việt Nam.

Một là em lấy chồng quan,

Hai là chồng lính, ba là chồng dân.
Nhưng em chẳng lấy chồng đần,
Về nhà mẹ chửi, ra đường chúng khinh.

Người đàn bà có một lập trường rất rõ ràng là dù cho phải làm hầu một người có học vẫn hơn là lấy một người đàn ông ngu đần làm chồng.

Chim khôn đậu nóc nhà quan;

Trai khôn tìm vợ, gái ngoan tìm chồng.
Xưa nay những khách má hồng,
Thà hầu quân tử hơn chồng đần ngu.


Một tiêu chuẩn khác là tài hoa.  Chữ tài trong bối cảnh bình dân không khẩn thiết phải là những tài năng xuất chúng mà có thể chỉ đơn giản như một giọng hát, câu hò hay.

Nước sâu sóng bủa láng sờ,

Thương anh vì bởi câu hò có duyên.

Hay là:
Ở xa nghe tiếng chàng hò,

Cách sông cũng lội, cách đò cũng qua.


Nhưng tài cũng còn đồng nghĩa với những đặc tính của người anh hùng và anh hùng hầu như cũng đồng nghĩa với tài hoa hay ít nhất tài hoa cũng phải là một đặc tính nổi bật của người anh hùng vì

Chào chàng tới cảnh đình trung,

Chào mừng sẽ hỏi anh hùng tài cao:
Rằng đây thu cúc, xuân đào,
Mơ xe mận lại gió chào trăng thu.

Hình như ý nghĩa anh hùng trong con mắt dân gian không có những đặc tính xuất chúng hay hy sinh lớn lao mà chỉ quyện trong một ý hệ đơn giản bao gồm kiến thức, đạo đức, tài hoa, lịch thiệp:

Một mai nước lớn đò trôi,

Cây khô lá rụng, bậu ngồi chờ ai?
Tôi ngồi chờ mía chờ khoai,
Chờ người quân tử, chờ trai anh hùng.

Nhác trông nhà ngói năm gian,

Thấy chàng lịch sự khôn ngoan có tài.
Cho nên em chẳng lấy ai,
Em quyết chờ đợi một vài ba đông.
Yêu anh em chẳng lấy chồng,
Em dốc một lòng chờ đợi lấy anh.


Đối với người đàn bà, ngoại hình của người đàn ông cũng là một tiêu chuẩn quan trọng. Không phải người đàn bà chỉ cần người đàn ông có đạo nghĩa, học thức, và tài hoa mà hình dáng cũng là yếu tố quyến rũ đối với giới thuyền quyên.
Nhác trông thấy bóng anh đi,

Thấy chân anh bước, dạ thì em thương.
Nhác trông thấy bóng anh qua,
Hình dung chải chuốt thật là xinh sao.
Em mong thấy mặt em chào,
Vắng anh em những khát khao đêm ngày.

Nhất là nụ cười. Nụ cười, nhưng chắc hẳn phải là một thứ nụ cười nào đó có một sức mạnh huyền bí đối với người đàn bà vì có lẽ phải chăng nụ cười nào đó đã gói trọn  được tất cả cái đạo nghĩa, học thức, tài hoa, và lịch thiệp của người đàn ông.

Chả tham nhà ngói rung rinh.

Tham về một nỗi anh xinh miệng cười.
Miệng cười anh đáng mấy mươi,
Chân đi đáng nén miệng cười đáng trăm.

Hay là
Thầy mẹ anh vá hay tài vá nên?

Nhác trông tấm áo có duyên,
Miệng cười hoa nở càng nhìn càng ưa.
Áo anh em mặc cũng vừa,

Ông Tơ bà Nguyệt khéo lừa đôi ta.

Nhưng dù hội đủ bao nhiêu tiêu chuẩn đi nữa, người đàn ông nhất thiết phải đáp ứng được yêu cầu cốt lõi của mọi tiêu chuẩn: Đó là tình yêu chân thật và sự chung thuỷ. Trong nhiều bối cảnh văn hoá khác biệt kể cả văn hoá Việt, quan niệm hôn nhân của người đàn ông có thể đơn giản chỉ là một sự đổi chác kinh tế qua giá trị cần lao hay giá trị tiền tài hay chỉ là một áp đặt quyền lực.  Nhưng đối với người đàn bà dân dã Việt Nam thì tiêu chuẩn chính yếu của hôn nhân phải là tình yêu và sự chung thuỷ:

Anh thương em phải thương cho trót,

Anh không bỏ sót cái nghĩa chung tình.


Đạo nghĩa dĩ nhiên là phải có, nhưng trong liên hệ lứa đôi người đàn ông không thể bỏ sót tình yêu đối với người thương.

Anh về ta chẳng cho về,

Ta nắm lấy áo ta đề câu thơ.
Câu thơ ba chữ rành rành:
Chữ Trung, chữ Hiếu, chữ Tình là ba.
Chữ Trung thì để phần cha.
Chữ Hiếu phần mẹ, đôi ta chữ Tình.

Trong bối cảnh văn hóa bác học của Nho giáo, Trung và Hiếu được nhấn mạnh và áp đặt còn Tình thì không. Cho nên để giáo huấn về chữ hiếu người ta thường nghe nói là vợ chết thì lấy vợ khác, còn cha mẹ chết đi thì không thể thay thế được. Nhưng văn hoá dân gian mang tính đối kháng những áp đặt thiếu tính nhân bản để khẳng định giá trị chính đáng về tình yêu và thuỷ chung cần được bảo tồn.

Chữ Trung chữ Hiếu, còn thiếu chữ Ân tình.

Đạo chồng nghĩa vợ, sao mình vội vong.


Và một khi đã đòi hỏi tình yêu và chung thuỷ từ người đàn ông thì người đàn bà cũng biểu dương sự công bằng qua thể hiện tình yêu của chính mình đối với chồng, con.

Gió đâu bằng gió Tu Bông.

Thương ai bằng
Thương cha, thương mẹ, thương chồng, thương con.

Hoặc là 
Chồng em áo vải em thương.

Chồng người áo gấm xông hương mặc người.


Đối với người đàn bà chỉ có tình yêu mới là quan trọng nhất.

Thương nhau ở dưới gốc đa

Còn hơn ở cả ngôi nhà trăm gian.


Và dù có bị đối đãi ngang trái, chỉ cần có được tình yêu của chồng là đủ.

Nàng dâu khôn lanh, nấu canh cho ngọt,

Canh sôi hớt bọt, thêm ớt rắc tiêu.
Mẹ chồng cay đắng đủ điều,
Mẹ ghét cứ ghét, chồng chiều cũng vui.

Và để xác định giá trị của tình yêu mà mình đã cổ võ, người đàn bà sẵn sàng đem chính bản thân mình ra làm tấm gương soi sáng:

Anh cầm cây viết, anh dứt đường nhân nghĩa,

Em cầm cây kim, em thêu chữ ân tình.


Và tình yêu keo sơn của người đàn bà thật là một tình yêu mang tính tha nhân, chỉ nghĩ đến hạnh phúc của người mình yêu mà không nghĩ đến chính bản thân;

Em về Bồ Địch, Giếng Vuông,

Sáo treo bốn bức, em buồn nỗi chi?
- Anh buồn em lại vui chi,
Vui thời vui gượng có khi khóc thầm.

một thứ tình yêu vô điều kiện và vô vị lợi:

Hai tay cầm bốn trái dưa,

Trái ăn, trái để, trái đưa cho chàng.
Hai tay cầm bốn lượng vàng,
Vàng thời bỏ được, nghĩa chàng em không buông.


Còn nhan nhản những vần ca dao minh họa những tiêu chuẩn của tình yêu như là một điều kiện thiết yếu đối với người đàn bà trong liên hệ lứa đôi. Không phải là không có, nhưng thật là hiếm nếu chúng ta tìm ra được những câu ca dao nêu lên vấn đề tiền tài như là một tiêu chuẩn cho tình yêu trong quan niệm của người đàn bà. Trái lại, chúng ta đã thấy những câu ca dao, tục ngữ nêu lên thái độ của người đàn bà phủ định tiền tài như là một tiêu chuẩn của yêu đương. Và còn rất nhiều dấu ấn của lập trường này trong thi ca dân gian. Sau đây là một vài dẫn chứng:

Con cá dưới sông, con lội con nhào;

Đường chông gai anh đừng có phụ,
Chỗ sang giàu em không ham.
Chim quyên ăn trái ổi tàu,

Xứng đôi mẹ gả, ham giàu mà chi.


Nói như vậy không có nghĩa là người đàn bà không tưởng, thiếu thực tế. Những xác định trên chỉ có nghĩa là tiền tài không phải là một tiêu chuẩn ưu tiên. Người đàn bà có xác định một ranh giới kinh tế, nhưng rất hợp lý:

Theo anh em cũng muốn theo,

Em sợ anh nghèo, anh bán em đi.


Chắc hẳn dù người đàn ông khó tính đến đâu cũng không thể phủ nhận tiêu chuẩn tối thiểu này. Nghèo đến mức độ đành phải bán vợ đi thì còn gì là tình yêu!

Trên đây là liệt kê của những tiêu chuẩn yêu đương của người đàn bà trong liên hệ lứa đôi: nhân nghĩa, học thức, có tài, hình dáng xinh đẹp, nụ cười quyến rũ, anh hùng, quân tử, nhưng quan trọng nhất và cũng là điều kiện “cần và đủ” là tình yêu chân thật và sự chung thuỷ. Tuy nhiên, những tiêu chuẩn này chỉ hiện hữu như là những ước mơ hơn là những yêu sách bởi vì tình yêu đối với người đàn bà dân dã Việt Nam mang tính định mệnh. 

Số em giàu, lấy khó cũng giàu;

Số em nghèo, chín đụn mười trâu cũng nghèo.
Phải duyên phải kiếp thì theo,
Thân em có quản khó nghèo làm chi!


Mà đã là định mệnh thì nhân nghĩa, học thức, xấu đẹp, tài hoa, giàu nghèo thực sự rồi cũng không quan trọng mấy đối với người đàn bà.  Nhưng đạo nghĩa và tình yêu là điều mà hình như -- nếu không tự mâu thuẫn với chính mình khi tin vào thuyết định mệnh -- người đàn bà nghĩ là mình có thể có tự do lựa chọn.

Phải duyên phải nợ thì theo,

Không phải duyên nợ, vàng đeo mặc vàng.

Dầu mà anh có nên quan,
Hiển vinh mình bạn, đây nàng cũng không.
Em kiếm nơi mô có tình nghĩa vợ chồng,
Ơn cha nghĩa mẹ đạo đồng em theo.

Mâu thuẫn hay không mâu thuẫn không quan trọng bằng ánh sáng chiếu rọi cho người đàn ông thấy rõ là đạo nghĩa và tình yêu bao gồm sự chung thuỷ là những đặc tính mà người đàn bà trân quý nhất qua các chứng tích văn học dân gian. Vả lại, định mệnh với ý nghĩa “phải duyên phải nợ thì theo” – qua phân tích cặn kẽ -- chẳng qua cũng chỉ là tình yêu.

Nguyễn văn Thái, Ph.D.
Philadelphia, Ngày 3 Tháng 9 năm 2019

Monday, December 17, 2018

Thỏa ước 2008 giữa Chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam về vấn đề trục xuất

Google Image

THỎA ƯỚC
GIỮA CHÍNH PHỦ HIỆP CHỦNG QUỐC HOA KỲ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VỀ VIỆC CHẤP THUẬN VIỆC GIAO HOÀN CÔNG DÂN VIỆT TRỞ VỀ NƯỚC

Kính gửi quý đồng bào người Việt hải ngoại:

Đính kèm theo bức thư này là bản Thoả ước 2008 giữa Chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam về vấn đề trao trả cho Việt Nam những công dân của Việt Nam đã vi phạm luật lệ của Mỹ. Bản tiếng Việt do chúng tôi dịch từ bản tiếng Anh nhằm mục đích phục vụ những người cần được đọc bản Thoả ước bằng tiếng Việt hơn là bản tiếng Anh. Tiếp theo sau bản tiếng Việt là bản tiếng Anh dành cho những người cảm thấy đọc bản tiếng Anh dễ hiểu hơn.

Chúng tôi sẽ đóng góp một vài suy nghĩ về vấn đề quan trọng này với hy vọng phần nào làm sáng tỏ vấn đề nêu trên. Nếu quý vị đọc bản Thoả ước kèm theo dưới đây trước khi tiếp tục đọc bài này thì có lẽ quý vị sẽ có một nhận định về việc trục xuất di dân người Việt rõ ràng hơn.

Điểm đầu tiên mà chúng tôi muốn nêu lên là Thoả ước 2008 là một thoả ước giữa hai chính phủ Mỹ và Việt về việc trục xuất khỏi nước Mỹ và giao hoàn cho Việt Nam những công dân của Việt Nam đã vi phạm luật pháp của Mỹ. Thoả ước này có hiệu lực 5 năm kể từ ngày ký, ngày 22 tháng Giêng năm 2008 và sau đó tự động tiếp tục triển hạn cứ 3 năm một. Như vậy, đến tháng Giêng 2019 thì Thoả ước đã được triển hạn hai lần và sẽ tự động triển hạn lần thứ ba, trừ phi có văn bản chính thức thông báo không triển hạn của một Chính phủ này gửi cho chính phủ kia ít nhất là sáu tháng trước khi Thoả ước hết hạn kỳ (Điều khoản 6).

Một trong hai chính phủ có thể đình chỉ hoặc chấm dứt Thoả ước nếu chính phủ này báo tin cho chính phủ kia bằng văn bản chính thức. Việc đình chỉ hay chấm dứt sẽ có hiệu lực 30 ngày sau khi nhận được văn bản (Điều khoản 9). Điều khoản 7 và 8 nói về việc tu chính, bổ sung Thoả ước hay các tranh tụng về cách diễn nghĩa hoặc ứng dụng Thoả ước. Những việc này được thực hiện qua đường dây ngoại giao thích hợp.

Nếu Thoả ước 2008 được đình chỉ hay chấm dứt thì việc trao trả những công dân của Việt Nam về nước không còn là vấn đề nữa vì sẽ không có quốc gia tiếp nhận những người bị hồi hương. Vấn đề then chốt còn lại, do đó, sẽ là những trao đổi thoả hiệp giữa hai chính phủ về việc tu chính, bổ sung hay cách cắt nghĩa hoặc ứng dụng Thoả ước 2008.

Ngày 12 tháng 12, 2018 vừa rồi tờ báo the Atlantic tường trình là chính phủ của Tổng thống Trump đã thay đổi cách cắt nghĩa Thoả ước 2008, đòi hỏi những người tỵ nạn chiến tranh Việt Nam nhập cư vào nước Mỹ bất hợp pháp hoặc vi phạm luật pháp của Mỹ trước ngày 12 tháng 7 năm 1995 phải bị trục xuất khỏi nước Mỹ và trao trả lại cho Việt Nam. (https://www.theatlantic.com/international/archive/2018/12/donald-trump-deport-vietnam-war-refugees/577993/).

Trong lúc đó, Điều khoản 2 của Thoả ước 2008 xác định là: “Công dân Việt Nam sẽ không bị trao trả về Việt Nam theo Thoả ước này nếu họ đến Hoa Kỳ trước ngày 12 tháng 7 năm 1995, ngày mà các quan hệ ngoại giao đã được tái thiết lập giữa Chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam. Chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam duy trì lập trường pháp lý của mình liên quan đến việc công dân Việt Nam đến Mỹ trước ngày này.”

Chính phủ Mỹ có cơ sở pháp lý khi chất vấn Điều khoản 2 bởi vì theo điều khoản này thì một công dân của Việt Nam nhập cư bất hợp pháp vào nước Mỹ trước ngày 12 tháng 7 năm 1995 hoặc vi phạm luật pháp của Mỹ ở tại Mỹ trước ngày này cũng không thể bị trục xuất về Việt Nam. Đồng thời phép loại suy còn cho thấy là Điều khoản 2 này cũng có nghĩa là chỉ những công dân Việt Nam nào đến Mỹ sau ngày 12 tháng 7 năm 1995 mà vi phạm luật pháp của Mỹ (bao gồm cả luật di trú) mới bị trục xuất. Do đó, không ngạc nhiên khi Chính phủ Mỹ đưa ra một lối diễn nghĩa hợp lý hơn, nghĩa là những công dân Việt Nam đến Mỹ trước ngày 12 tháng 7 năm 1995 mà vi phạm luật pháp của Mỹ (bao gồm cả luật di trú) cũng bị trục xuất và trao trả lại cho Việt Nam.

Bản Thoả ước 2008 nói rõ là Chính phủ Việt Nam chỉ chấp thuận tiếp nhận những người bị trục xuất nếu những người này hội đủ các điều kiện của Điều khoản 2 mục 1 gồm có tiểu mục (a), (b), (c), và (d). Điều khoản 2, mục 1(a) minh định là: “Đương sự là một công dân của Việt Nam và không phải là một công dân của Mỹ hay là của bất cứ quốc gia nào khác.” Điều khoản 2, mục 1(c), “Đương sự đã từng vi phạm luật pháp của Mỹ và đã bị giới chức thẩm quyền ra lệnh trục xuất khỏi Hoa kỳ.”

Những điểm nêu ra ở mục 1 của Điều khoản 2 cho thấy rõ là chỉ những công dân của Việt Nam mới nằm trong phạm vi thoả hiệp giữa Chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam về vấn đề trục xuất. Những người Việt đã có quốc tịch Mỹ là những công dân của Mỹ và có tất cả những quyền dân sự của Mỹ như tất cả các công dân Mỹ khác  thuộc bất cứ chủng tộc nào dù là da vàng, da trắng, da nâu, hoặc da đen, v.v…

Theo tờ báo the Atlantic thì Chính phủ Mỹ đề nghị với Chính phủ Việt Nam là những người “tỵ nạn chiến tranh” đến Mỹ trước ngày 12 tháng 7 năm 1995 mà vi phạm luật pháp của Mỹ (bao gồm luật di trú) thì phải bị trục xuất khỏi nước Mỹ và trao trả lại cho Việt Nam. Lối dùng từ ngữ này của tờ the Atlantic, theo thiển ý, có thể chỉ là một sự hiểu lầm hoặc cố ý đã gây hoang mang không ít trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Trong Thoả ước 2008, cụm từ “công dân của Việt Nam” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, hầu như ở tất cả mọi điều khoản, và  “công dân của Việt Nam và không phải là công dân của Mỹ hay là của bất cứ của một quốc gia nào khác” (Điều khoản 2, mục 1(a) ) là điều kiện tiên quyết để Chính phủ Việt Nam chấp nhận việc Chính phủ Mỹ trao trả người Việt vi phạm luật pháp của Mỹ.

Do đó, vấn đề còn lại là ai là người được xem là công dân của Việt Nam. Trong số những người Việt đến Mỹ trước ngày 12 tháng 7 năm 1995 gồm có những thành phần sau đây:

  1. Những sinh viên Việt Nam du học ở Mỹ
  2. Những người Việt đến Mỹ theo diện du lịch
  3. Những người Việt xin và có thẻ xanh để lao động ở Mỹ
  4. Những người Việt tỵ nạn cộng sản chỉ có thẻ xanh mà chưa hoặc không có quốc tịch Mỹ vì hoặc không thi đỗ vào quốc tịch Mỹ hoặc không muốn vào quốc tịch Mỹ vì một lý do nào đó.
  5. Những người Việt đến Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình chỉ có thẻ xanh mà chưa hoặc không có quốc tịch Mỹ vì hoặc không thi đỗ vào quốc tịch Mỹ hoặc không muốn vào quốc tịch Mỹ vì một lý do nào đó.

Thành phần 1 và 2 đương nhiên là công dân của Việt Nam. Nếu những người này ở lại Mỹ bất hợp pháp (phạm tội về di trú) hay vi phạm luật pháp khác của Mỹ thì sẽ bị chính phủ Mỹ trục xuất và giao hoàn cho Việt Nam.

Thành phần 3, 4 và 5 là những thường trú nhân (permanent resident) và có thể vẫn được xét định là công dân của Việt Nam vì không phải là công dân của Mỹ.

Theo Thoả ước 2008 thì Chính phủ Việt Nam là đơn vị quyết định quốc tịch của những người Việt đã vi phạm luật pháp của Mỹ và đã bị Mỹ ra lệnh trục xuất. Thường thì Chính phủ Việt Nam không chấp nhận những người tỵ nạn cộng sản và con cái của họ là công dân của Việt Nam. Tuy nhiên chính phủ của Tổng thống Trump có thể áp lực Chính phủ Việt Nam chấp nhận họ là công dân của Việt Nam và Chính phủ Việt Nam có thể đồng ý, nhất là khi Chính phủ Việt Nam nhận thấy có thể có lợi nhuận cao trong việc thương thảo với Chính phủ Mỹ. Chính phủ Việt Nam có thể đòi hỏi Chính phủ Mỹ cung cấp một số tài trợ khá lớn nhằm mục đích hỗ trợ những người bị hồi hương để họ có phương tiện ngõ hầu có thể thích nghi lại với đời sống ở Việt Nam sau nhiều năm xa xứ. Trong thực tế thì có lẽ không ai tin là những người này sẽ nhận được số tiền trợ cấp này, nhưng chắc rằng ai cũng tin là những người này sẽ không tìm được sinh kế ở Việt Nam vì bị kỳ thị, và họ cũng sẽ không được Chính phủ Việt Nam giúp đỡ. Họ sẽ bị bỏ rơi vì họ chỉ là những con vật hy sinh. Do đó, họ rất cần cộng đồng người Việt hải ngoại, các tổ chức cộng đồng, các cơ quan thiện nguyện, các giới chức chính quyền, các dân biểu, nghị sĩ địa phương và liên bang người Mỹ gốc Việt cũng như người Mỹ can thiệp với Chính phủ Mỹ, yêu cầu chính phủ cứu xét hoàn cảnh những người Việt tỵ nạn cộng sản và những người đến Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình mà không phải là công dân Mỹ và đã có lần lầm lỡ vi phạm luật pháp của Mỹ. Họ là những người đã từng sát cánh với quân nhân Mỹ chống lại sự cưỡng chiếm miền Nam tự do của Đảng Cộng sản Việt Nam và đã liều chết trốn thoát khỏi sự đàn áp tàn nhẫn của chế độ Cộng sản Việt Nam.


Tiểu Thạch Nguyễn văn Thái, Ph.D.
Philadelphia, ngày 17 tháng 12 năm 2018.


THỎA ƯỚC

GIỮA CHÍNH PHỦ HIỆP CHỦNG QUỐC HOA KỲ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VỀ VIỆC CHẤP THUẬN VIỆC GIAO HOÀN CÔNG DÂN VIỆT TRỞ VỀ NƯỚC


Chính phủ Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ (sau đây được gọi là “Chính phủ Mỹ”) và Chính phủ Cộng hoà Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam (sau đây được gọi là “Chính phủ Việt Nam”),

Với nguyện vọng phát triển những quan hệ thân hữu giữa hai quốc gia, và thiết lập các thủ tục cho các giới thẩm quyền của cả hai nước về vấn đề chấp thuận việc những công dân Việt Nam bị chính phủ Mỹ ra lệnh trục xuất được nhanh chóng và trật tự,

Để thiết lập những thủ tục chung cho các giới chức liên hệ dựa trên những nguyên tắc pháp lý của mỗi quốc gia và trên trách nhiệm quốc tế phải chấp thuận sự trao trả các công dân bị hồi hương; và để tuân thủ các nguyên tắc pháp lý quốc tế đã được thừa nhận, để cho phép sự quyết định việc hồi hương của từng trường hợp một, và để thừa nhận quyền quyết định về quốc tịch của quốc gia tiếp nhận,

Đã thoả thuận như sau đây:

Điều khoản 1
Các Quy định Tổng quát

1.Chính phủ Mỹ sẽ thi hành việc hồi hương của những công dân Việt Nam đã vi phạm luật pháp của Mỹ theo luật của Mỹ và quốc tế và theo những quy định của Thoả ước này. Việc hồi hương cần phải xét đến khía cạnh nhân đạo, tính hợp nhất của gia đình, và những hoàn cảnh của mỗi người trong từng trường hợp cá nhân.

2. Chính phủ Việt Nam có thể xét việc giao hoàn những công dân của mình đã vi phạm luật pháp của Mỹ dựa trên việc thẩm xét các thủ tục pháp lý và hộ tịch và những hoàn cảnh của từng trường hợp cá nhân. Các cá nhân đương sự và thủ tục chấp thuận sẽ được dựa trên các điều kiện của Thoả ước này.

3. Việc hồi hương sẽ được thi hành một cách trật tự và an toàn, và với sự tôn trọng nhân phẩm cá biệt của mỗi người bị hồi hương. Chính phủ Mỹ sẽ cho phép những công dân Việt Nam đã bị lệnh trục xuất có một khoảng thời gian hợp lý để họ dàn xếp những công việc cá nhân trước khi gửi trả họ về Việt Nam.

4. Những người bị hồi hương theo Thoả ước này có quyền chuyển tiền và tài sản cá nhân hợp pháp của họ về Việt Nam.

5. Chính phủ Mỹ sẽ trả phí tổn cho việc giao hoàn những người bị hồi hương về Việt Nam theo Thoả ước này, như đã được quy định ở Điều khoản 5 và bản Phụ đính 1. Chính phủ Mỹ sẽ còn trả phí tổn cho việc giao hoàn bất cứ người nào đã bị hồi hương vì nhầm lẫn, theo Điều khoản 3 của Thoả ước này.

Điều khoản 2
Những Người Có Thể Bị Trục xuất và Các Điều kiện Chấp thuận

1.Chính phủ Việt Nam sẽ chấp thuận việc giao hoàn những công dân Việt theo Điều khoản 1 và mục 2 của Điều khoản 2 của Thoả ước này, nếu sau khi điều tra cá nhân hội đủ những yêu cầu sau đây:
  1. Đương sự là một công dân của Việt Nam và không phải là một công dân của Mỹ hay là của bất cứ quốc gia nào khác;

  1. Đương sự trước đây đã cư trú tại Việt Nam và không có nơi cư trú hiện tại ở một quốc gia thứ ba.

  1. Đương sự đã từng vi phạm luật pháp của Mỹ và đã bị giới chức thẩm quyền ra lệnh trục xuất khỏi Hoa kỳ; và

  1. Nếu đương sự đã bị kết án phạm tội (bao gồm cả việc vi phạm di trú), người này sẽ phải hoàn tất án tù trước khi bị trục xuất, và bất cứ sự giảm án nào cũng sẽ phải được thẩm quyền ban lệnh.

2. Công dân Việt Nam sẽ không bị trao trả về Việt Nam theo Thoả ước này nếu họ đến Hoa Kỳ trước ngày 12 tháng 7 năm 1995, ngày mà các quan hệ ngoại giao đã được tái thiết lập giữa Chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam. Chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam duy trì lập trường pháp lý của mình liên quan đến việc công dân Việt Nam đến Mỹ trước ngày này.

3. Trong trường hợp một công dân của Việt Nam đã nhập cư vào Hoa Kỳ từ một đệ tam quốc gia nơi mà người này có nơi cư trú vĩnh viễn và đã bị Mỹ ra lệnh trục xuất thì Chính phủ Mỹ sẽ tìm cách giao hoàn người đó lại cho quốc gia thứ ba này hay là xét cho phép người này ở lại Mỹ, trước khi yêu cầu tống khứ về Việt Nam.

4. Trong bất cứ trường hợp nào mà Chính phủ Việt Nam thủ đắc được thông tin về việc hồi hương của một cá nhân mà trước đó chưa từng được xét định bởi Chính phủ Mỹ thì Chính phủ Việt Nam có thể yêu cầu tái thẩm xét nhân đạo dựa vào những hoàn cảnh đặc biệt của người bị hồi hương theo luật pháp của Mỹ.

Điều khoản 3
Giao hoàn Những Người Bị Hồi Hương vì Nhầm lẫn

Khi nhận được thông báo của Chính phủ Việt Nam là một người bị trao trả cho Việt Nam bởi Chính phủ Mỹ không hội đủ các tiêu chuẩn đề cập trong Điều khoản 2 của Thoả ước, thì Chính phủ Mỹ cần phải nhanh chóng tiếp nhận người này trở lại Hoa Kỳ mà không cần có thủ tục đặc biệt nào.

Điều khoản 4
Các Thủ tục Chấp thuận

1.Khi Chính phủ Mỹ tin rằng một người nào đó có thể bị trục xuất là công dân của Việt Nam và hội đủ các tiêu chuẩn trong khuôn khổ Điều khoàn 2 của Thoả ước này, thì Bộ Nội An của Mỹ, với tư cách của Chính phủ Mỹ, sẽ yêu cầu Chính phủ Việt Nam cung cấp những tài liệu du hành thích hợp và chuyển những hồ sơ thích hợp đến Chính phủ này. Những hồ sơ này sẽ bao gồm ba tập tài liệu, bản chính và hai bản sao. Bản chính và một bản sao sẽ phải được Toà Đại sứ Mỹ tại Việt Nam chuyển đến Bộ Công An Việt Nam (Ban Di Trú), và bản sao kia sẽ được gửi đến Bộ Ngoại giao Việt Nam (Ban Lãnh Sự).

Mỗi hồ sơ sẽ gồm có một bản ghi chú ngoại giao yêu cầu Chính phủ Việt Nam tiếp nhận người bị trao trả, tên của người mà Chính phủ Mỹ tin là cần phải bị hồi hương về Việt Nam, những đơn đã được điền đầy đủ bởi người này (một tờ đơn mẫu được cung cấp ở Phụ đính 2 của Thoả ước này), một bản sao của lệnh trục xuất, và những tài liệu khác về tiểu sử, quốc tịch, lịch sử tội trạng, án lệnh thụ hình, và quyết định khoan hồng hay giảm án tội của người này. Lệnh trục xuất sẽ được dịch sang Tiếng Việt trên một mẫu chuẩn và lịch sử tội trạng bao gồm một hồ sơ của Trung Tâm Quốc Gia về Thông Tin Tội Ác [NCIC] bằng tiếng Anh được kèm theo bởi một khoá mật mã đã được dịch ra tiếng Việt. Tất cả các hồ sơ và các bản dịch sẽ được chứng thực bởi thẩm quyền Mỹ.

2. Khi được Chính phủ Việt Nam yêu cầu, Chính phủ Mỹ sẽ sắp xếp và tạo thuận lợi cho việc phỏng vấn những người nằm trong phạm vi Điều khoản 2 (1) của Thoả ước bởi các giới chức di trú Việt Nam nhằm quyết định về các tình tiết liên quan đến quốc tịch Việt Nam, các chi tiết lý lịch, và nơi cư trú cuối cùng của các đương sự. Bộ Nội An của Mỹ sẽ sắp xếp nơi phỏng vấn. Chính phủ Mỹ cũng sẽ tạo thuận lợi cho các cuộc phỏng vấn những người có thể bị trục xuất mà Mỹ tin là công dân của Việt Nam bởi các giới chức lãnh sự của Chính phủ Việt Nam có căn cứ tại Mỹ.

3. Chính phủ Việt Nam sẽ nhanh chóng phúc đáp Chính phủ Mỹ về những trường hợp được đề cập theo Điều khoản này sau khi việc chứng thực của Việt Nam đã được thực hiện. Nếu đã được quyết định là một người mà tên và hồ sơ đã được cung cấp cho Chính phủ Việt Nam theo Điều khoản này hội đủ các yêu cầu của Điều khoản 2, thì Bộ Công An của Chính phủ Việt Nam sẽ cấp một tài liệu du hành cho phép người đó được trở về Việt Nam, và sẽ gửi một văn bản thông báo cho Toà Đại sứ Mỹ tại Việt Nam biết.

4. Khi chính phủ Việt Nam đã cấp giấy tờ du hành theo Thoả ước này thì Chính phủ Mỹ sẽ cung cấp một thông báo ít nhất là mười lăm (15) ngày trước chuyến bay và các dàn xếp du hành theo đó đương sự sẽ được trao trả về Việt Nam. Toà Đại sứ Mỹ tại Việt Nam sẽ thông báo cho Bộ Công An (Ban Di Trú) và Bộ Ngoại giao (Ban Lãnh sự) biết ngày và số chuyến bay, giờ đến, cảng đến (Phi cảng Nội Bài tại Hà Nội hay Phi cảng Tân Sơn Nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh), và các chi tiết liên hệ đến bất cứ những giới chức Mỹ nào hộ tống người bị giao hoàn (như là tên, ngày sinh, số của sổ thông hành, thời gian phỏng định ở lại tại Việt Nam, v.v…), và để cho phía Việt Nam xác nhận là đã nhận được những người bị trao trả.

Khi một người đang chịu sự chăm sóc y tế bị trao trả về Việt Nam theo Thoả ước này, thì các giới chức hộ tống Mỹ sẽ cung cấp một bản hồ sơ bệnh lý của người đó cho các giới chức Việt Nam tiếp nhận ở tại cảng vào. Các giới chức hộ tống và tiếp nhận sẽ cùng ký một bản phúc trình chung chứng nhận việc hồi hương của đương sự.

Điều khoản 5
Các Chi phí

1.Chính phủ Mỹ sẽ trả phí tổn cho việc chuyên chở những công dân Việt Nam đến Việt Nam theo Thoả ước này.

2. Chính phủ Mỹ sẽ trả các phí tổn cho việc tiếp nhận các người bị hồi hương bao gồm: chi phí nhận thực, sự tiếp nhận tại phi cảng và chuyên chở các đương sự từ phi cảng đến những nơi cư trú theo Phụ đính 1 đính kèm.

3. Chính phủ Mỹ sẽ trả phí tổn cho việc sắp xếp các giới chức Việt Nam liên hệ phỏng vấn những người mà Chính phủ Mỹ tin là công dân Việt Nam và phải chịu bị hồi hương theo Thoả ước này.

4. Chính phủ Mỹ sẽ trả phí tổn cho việc trở lại Hoa kỳ của những người bị hồi hương vì nhầm lẫn, như đã được quy định ở Điều khoản 3 của Thoả ước này.

Điều khoản 6
Hiệu lực và Thời hạn

1.Thoả ước này sẽ có hiệu lực sau sáu mươi (60) ngày kể từ ngày có chữ ký của cả hai Chính phủ.

2. Khi có hiệu lực, Thoả ước này có giá trị năm năm. Sau đó Thoả ước sẽ tự động triển hạn cho thời hạn cứ ba năm một trừ phi có văn bản thông báo không triển hạn của một Chính phủ này gửi cho chính phủ kia ít nhất là sáu tháng trước khi Thoả ước hết hạn.

Điều khoản 7
Tu chính và Bổ sung

Thoả ước này có thể được tu chính hoặc bổ sung bằng văn bản thoả hiệp của Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Mỹ qua những đường dây ngoại giao thích hợp.

Điều khoản 8
Giải Quyết Tranh tụng

Bất cứ những tranh tụng nào liên quan đến việc diễn nghĩa hay ứng dụng Thoả ước này sẽ được giải quyết qua những đường dây ngoại giao thích hợp.

Điều khoản 9
Đình chỉ hoặc Chấm dứt

Thoả ước này có thể bị đình chỉ hay chấm dứt bởi một trong hai Chính phủ. Việc đình chỉ hay chấm dứt Thoả ước sẽ có hiệu lực ba mươi (30) ngày sau kể từ ngày một Chính phủ nhận được văn bản thông báo từ Chính phủ kia về ý định đình chỉ hay chấm dứt.

Làm tại Hà Nội, ngày 22 tháng Giêng, năm 2008 thành hai bản bằng ngôn ngữ Anh và Việt, cả hai văn bản đều đồng thực thụ như nhau.


KÝ THAY CHO CHÍNH PHỦ   KÝ THAY CHO CHÍNH PHỦ
HIỆP CHỦNG QUỐC HOA KỲ              CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Julie Myen                                  (không nhận ra tên của chữ ký)



Người dịch: Tiểu Thạch Nguyễn Văn Thái, Ph.D.

Vì không có nguyên bản tiếng Việt của Chính phủ Cộng hoà Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nên TS. Nguyễn văn Thái đã tạm dịch sang tiếng Việt để phục vụ những người cần được đọc bản Thoả ước bằng tiếng Việt. Do đó, bản tiếng Việt này không nên dùng như một tài liệu chính thức trong việc diễn nghĩa hay trích dẫn. Văn bản bằng tiếng Anh được đính kèm theo sau đây để quý đồng bào có phương tiện đối chiếu.



AGREEMENT

BETWEEN THE GOVERNMENT OF THE UNITED STATES OF AMERICA AND THE GOVERNMENT OF THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM ON THE ACCEPTANCE OF THE RETURN OF VIETNAMESE CITIZENS


The Government of the United States of America (hereinafter called "the U.S. Government") and the Government of the Socialist Republic of Vietnam (hereinafter called "the Vietnamese Government"),

With a wish of developing friendly relations between the two countries, and to establish procedures for competent authorities of both countries on the prompt and orderly acceptance of Vietnamese citizens who have been ordered removed by the U.S. Government,

In order to establish common procedures for the relevant authorities based on the legal principles of each country and the international responsibility to accept the return of repatriated citizens; and to follow recognized principles of international law, to allow for a case-by-case determination of repatriation, and to recognize the right of the receiving country to determine nationality,
Have agreed to the following:

Article 1
General Provisions

1. The U.S. Government will carry out the repatriation of Vietnamese citizens who violated U.S. law in accordance with U.S. and international law and the provisions of this Agreement. The repatriation should take into account the humanitarian aspect, family unity and circumstances of each person in each individual case.

2. The Vietnamese Government may consider the return of its citizens who violated U.S. law based on the consideration of legal procedures and the '/ status and circumstances of each individual case. The subject individuals and the acceptance procedure will be based on the terms of this Agreement.

3. Repatriation will be carried out in an orderly and safe way, and with respect for the individual human dignity of the person repatriated. The U.S. Government will allow Vietnamese citizens who have been ordered removed a reasonable time to arrange their personal affairs before returning them to Vietnam.

4. Persons repatriated under this Agreement have the right to transfer their legal money and personal property to Vietnam.

5. The U.S. Government will pay for the cost of returning to Vietnam persons repatriated under this Agreement, as provided in Article 5 and Annex 1. The U.S. Government will also pay for the cost of returning to the United States any person who was mistakenly repatriated, in accordance with Article 3 of this Agreement.

Article 2
Removable Persons and Conditions of Acceptance

1. The Vietnamese Government will accept the return of Vietnamese citizens in accordance with Article 1 and item 2 of Article 2 of this Agreement, if upon investigation the individual meets the following requirements:

(a) The individual is a citizen of Vietnam and is not a citizen of the United States or of any other country;

(b) The individual previously resided in Vietnam and has no current residence in a third country;

(c) The individual has violated U.S. laws and has been ordered by competent authority removed from the United States; and

(d) If the individual has been convicted of a criminal offense (including immigration violation), the person will have completed any imprisonment before removal, and any reduction in sentence will have been ordered by competent authority.

2. Vietnamese citizens are not subject to return to Vietnam under this Agreement if they arrived in the United States before July 12, 1995, the date on which diplomatic relations were re-established between the U.S. Government and the Vietnamese Government. The U.S. Government and the Vietnamese Government maintain their respective legal positions relative to Vietnamese citizens who departed Vietnam for the United States prior to that date.

3. In the case of a citizen of Vietnam who immigrated to the United States from a third country where that person had a permanent residence and who has been ordered removed from the United States, the U.S. Government will seek to return that person to the third country or consider allowing that person to stay in the United States, before requesting removal to Vietnam.

4. In any case where the Vietnamese Government obtains information relevant to the repatriation of an individual that was not previously considered by the U.S. Government, the Vietnamese Government may request a humanitarian reconsideration based on the specific circumstances of the repatriated person in accordance with United States law.

Article 3
Return of Persons Repatriated in Error

Upon notice by the Vietnamese Government that a person returned to Vietnam by the U.S. Government does not meet all criteria mentioned in Article 2 of this Agreement, the U.S. Government should promptly receive the return of that person to the United States without any special procedure.

Article 4
Acceptance Procedures

1. When the U.S. Government believes that a removable person is a citizen of Vietnam and meets all criteria within Article 2 of this Agreement, the U.S. Department of Homeland Security, on behalf of the U.S. Government, will request appropriate travel documents from the Vietnamese Government and will forward the appropriate files to that Government. Such files will include three sets of documents, the original and two copies. The original and one copy shall be forwarded to the Vietnamese Ministry of Public Security (Immigration Department) by the U.S. Embassy in Vietnam, and the other copy will be sent to the Vietnamese Ministry of Foreign Affairs (Consular Department).

Each file will contain a diplomatic note which requests that the
Vietnamese Government accept the returnee, the name of the person the U.S. Government believes should be repatriated to Vietnam, the appropriate forms completed by such person (an example of which is provided in Annex 2 of this Agreement), a copy of the order of removal, and other documents regarding the person's biography, citizenship, criminal history, sentence imposed, and decision of amnesty or reduction of criminal sentence. The order of removal will be translated into Vietnamese on the standard form, and the criminal history will include a National Crime Information Center (NCIC) record in English accompanied by a code key translated into Vietnamese. All documents and translations will be certified by the competent U.S. authorities.

2. Upon request by the Vietnamese Government, the U.S. Government will arrange and facilitate the interview of persons who fall within Article 2 (1) of this Agreement by Vietnamese immigration officials to determine information regarding the Vietnamese citizenship, biographical data, and last place of residence of such persons. The U.S. Department of Homeland Security will arrange a venue for those interviews. The U.S. Government also will facilitate interviews by U.S.-based consular officers of the Vietnamese Government of deportable persons whom the U.S. believes to be Vietnamese citizens.

3. The Vietnamese Government will provide a prompt response to the U.S. Government on cases referred under this Article after the Vietnamese verification is made. If it is determined that a person whose name and file has been provided to the Vietnamese Government in accordance with this Article meets the requirements of Article 2, the Ministry of Public Security of the
Vietnamese Government will issue a travel document authorizing that person's return to Vietnam, and will provide written notification to the U.S. Embassy in Vietnam.

4. When the Vietnamese Government has issued a travel document under this Agreement, the U.S. Government will provide at least fifteen (15) days notice of the flight and travel arrangements by which the person will be returned to Vietnam. The U.S. Embassy in Vietnam will inform the Ministry of Public Security (Immigration Department) and the Ministry of Foreign Affairs (Consular Department) of the date and number of the flight, the time of arrival, the port of entry (Noi Bai Airport in Hanoi or Tan Son Nhat Airport in Ho Chi Minh City), and the details regarding any U.S. officers escorting the person to be returned (such as names, dates of birth, passport numbers, estimated times of stay in Vietnam, etc), and allow the Vietnamese side to confirm receipt of the returnees.

When a person under medical treatment is returned to Vietnam under this Agreement, the escorting U.S. officers will provide a copy of the person's health record to the receiving Vietnamese officials at the port of entry. The escorting and receiving officers will sign a joint report verifying the person's repatriation.

Article 5
Expenses

1. The U.S. Government will pay for the cost of transporting
Vietnamese citizens to Vietnam under this Agreement.

2. The U.S. Government will pay for the costs of receiving repatriated persons including: verifying fee, the receipt at the airport and transportation of the persons from airport to the place of residences in accordance with the enclosed Annex 1.

3. The U.S. Government will pay for the cost of arranging interviews by relevant Vietnamese officials of persons whom the U.S. Government believes to be Vietnamese citizens and subject to repatriation under this Agreement.

4. The U.S. Government will pay for the cost of returning to the United States persons who were repatriated in error, as provided in Article 3 of this Agreement.

Article 6
Entry into Force and Duration

1. This Agreement will enter into force sixty (60) days from the date of signature by both Governments.

2. Upon entry into force, this Agreement will be valid for five years. The Agreement will be extended automatically for terms of three years thereafter unless written notice not to extend is given by one Government to the other at least six months prior to the expiration date of the Agreement.

Article 7
Amendment and Supplementation

This Agreement may be amended or supplemented by written agreement of the Vietnamese Government and the U.S. Government through appropriate diplomatic channels.

Article 8
Resolution of Disputes

Any disputes regarding the interpretation and implementation of this Agreement will be resolved through appropriate diplomatic channels.

Article 9
Suspension or Termination

This Agreement may be suspended or terminated by either Government. Such suspension or termination of this Agreement will come into effect after thirty days (30) from the date one Government receives the written notification from the other Government of its intention to suspend or terminate.

Done at Hanoi, on 22 January 2008 in duplicate in the English and Vietnamese languages, both texts being equally authentic.



FOR THE GOVERNMENT OF FOR THE GOVERNMENT OF
THE UNITED STATES OF THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
AMERICA