Showing posts with label Nguyễn Thanh Huy. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Thanh Huy. Show all posts

Friday, December 19, 2025

Thanh Huy | Việt Báo: Tiến Sĩ Bạch Xuân Phẻ Hướng Dẫn về Đề Tài “Giáo Dục Trong Gia Đình và Giao Tiếp - Ứng Xử Chánh Niệm”

 

Tiến Sĩ Bạch Xuân Phẻ hướng dẫn phương pháp Giáo Dục Trong gia đình

Westminster (Thanh Huy) – Tại Chánh Điện Tu Viện Đại Bi, Thành Phố Westminster, Hội Đuốc Tuệ đã tổ chức buổi hướng dẫn về đề tài: "Giáo Dục Trong Gia Đình và Giao Tiếp - Ứng Xử Chánh Niệm” do Tiến Sĩ Bạch Xuân Phẻ hướng dẫn.
 
Một buổi chiều Chủ Nhật an lành, Tu Viện Đại Bi đón chào rất đông hành giả, phụ huynh, anh chị em Gia Đình Phật Tử, và những người quan tâm đến nghệ thuật giáo dục chánh niệm trong gia đình. Bầu không khí trang nghiêm nhưng gần gũi mở ra ngay từ khoảnh khắc bước vào chánh điện: ba pho tượng Phật vàng tỏa sáng, hoa sen hồng tươi thắm, và nụ cười hiền hòa của đại chúng khiến tâm người dự tự nhiên được lắng dịu. Tất cả tạo nên một nhân duyên tuyệt đẹp cho buổi pháp thoại “Giáo dục trong gia đình & Giao tiếp – Ứng xử Chánh niệm” do Tiến sĩ Bạch Xuân Phẻ (Tâm Thường Định) hướng dẫn.
 
Trước lúc hội thảo bắt đầu, cư sỹ Tâm Nguyên Trí cùng tiếng đàn guitar dìu dặt vang lên, mang lại cảm giác như cả chánh điện được ôm ấp bởi dòng suối nhạc. Những nốt nhẹ ngân như kéo mọi người về lại với hơi thở, với sự có mặt trọn vẹn của giây phút hiện tại.
 
Không khí và nhân duyên khởi đầu. Buổi học mở đầu bằng 5 phút ngồi thiền và theo dõi hơi thở. Trong sự im lặng nhiệm mầu, đại chúng theo lời hướng dẫn nhẹ nhàng: “Thở vào – biết mình đang thở vào; Thở ra – biết mình đang thở ra.” Chỉ một bài thực tập đơn giản, nhưng đủ giúp không gian trở nên trầm tĩnh và kết nối. Mỗi người trở về với chính mình, chuẩn bị để tiếp nhận một pháp thoại không chỉ bằng trí tuệ, mà bằng cả trái tim mở rộng.
 
Tiến Sĩ Bạch Xuân Phẻ hướng dẫn phương pháp Giáo Dục Trong gia đình 

Trong phần dẫn nhập, Tiến sĩ Bạch Xuân Phẻ chia sẻ rằng: “Gia đình chính là ngôi trường đầu tiên của nhân cách, và cha mẹ là người thầy lớn nhất.” Tiến sỹ nhấn mạnh giáo dục trong gia đình là quan trọng nhất; trường học đầu tiên của tâm hồn chính là ở nhà và người Thầy Cô đầu tiên chính là Ba Mẹ.

Từ cách cha mẹ nói năng, đứng ngồi, vui buồn, đến từng ánh mắt và cử chỉ đều là những bài học sống động mà trẻ tiếp nhận hằng ngày. Không ai có thể dạy con bình an nếu bản thân mình chưa có mặt bình an. Không thể dạy con hiểu biết khi chính người lớn chưa biết hiểu chính mình.
 
Giảng sư nhấn mạnh:
  • Giáo dục gia đình bắt đầu từ tình thương.
  • Tình thương nuôi lớn bằng sự lắng nghe và hiểu biết.
  • Và hiểu biết được nuôi dưỡng bởi năng lượng chánh niệm trong từng hơi thở.
Từ đó, buổi pháp thoại mở ra chiều sâu của một triết lý giáo dục nhân ái: cha mẹ muốn chuyển hóa con cái thì hãy bắt đầu từ sự chuyển hóa của chính mình.
Trong phần Chánh niệm trong giao tiếp, giảng sư phân tích ba nền tảng quan trọng:
  1. Hiểu mình – nhận diện cảm xúc trước khi phản ứng.
  2. Hiểu người – thấy được nỗi khổ niềm đau bên dưới lời nói hay hành động.
  3. Hiểu hoàn cảnh – chọn cách đáp ứng phù hợp, không bị cuốn theo tự động.
Trong giao tiếp, chánh niệm giúp ta dừng lại, thở và chỉ nói những điều nuôi dưỡng. Thay vì phản ứng ngay lập tức, người thực tập học cách “thở – nhận diện – mỉm cười” rồi mới phản hồi thay vì phản ứng và đặc trên nền tảng lợi mình và lợi người, ngày bây giờ và cho cả tương lai.
 
Tiến sĩ Bạch Xuân Phẻ chia sẻ: “Khi ta nói bằng từ bi, người nghe sẽ mở lòng. Khi ta lắng nghe bằng hiểu biết, khổ đau sẽ giảm bớt.” Buổi học triển khai sâu hơn với bài tập “Tôi cảm thấy… Khi…” trong tâm lý học gọi là, “name it to tame it” (gọi cảm xúc để giúp thuần hóa nó). Nói chung, hãy tập hạnh lắng nghe và nói lời hoà nhã giúp ta nhận ra sức mạnh của ngôn ngữ ái ngữ trong việc hóa giải xung đột.
Buổi workshop có phần thực tập – trải nghiệm chuyển hóa. Buổi học trở nên sinh động khi đại chúng bước vào phần thực tập nhóm. Mỗi người có cơ hội:
  • Lắng nghe sâu mà không chen lời, không phán xét.
  • Nói năng ái ngữ để diễn bày cảm xúc chân thật.
  • Quan sát cảm xúc trong lúc giao tiếp – điều mà đời thường ít ai để ý.
Nhiều người đã xúc động khi chỉ trong vài phút lắng nghe thật sự, họ cảm nhận một sự nhẹ nhõm bất ngờ. Không ít người chia sẻ rằng lần đầu tiên họ nhận thấy: “Chỉ cần thay đổi cách nghe và cách nói, gia đình đã có thể bớt đi rất nhiều hiểu lầm.”
 
Phần thảo luận các tình huống thực tế – con nổi nóng, vợ chồng hiểu lầm, cha mẹ căng thẳng – giúp mọi người thấy rõ tính ứng dụng của chánh niệm trong đời sống. Những phương pháp như “dừng-thở-mỉm cười” / “PBS - Pause-Breathe-Smile”, “3 hơi thở”, BCOOL”, hay “Silence is gold”/“im lặng là vàng” trở thành những công cụ hữu hiệu để đối trị cảm xúc mạnh.
 
Cuối buổi, trong âm thanh tiếng chuông nhẹ ngân, đại chúng cùng thực tập thiền từ bi:
“Cầu mong cho tôi được bình an và hạnh phúc
Cầu mong cho gia đình tôi và bạn bè tôi được bình an và hạnh phúc
Cầu mong cho mọi người và mọi loài được an lành…”
 
Sự ấm áp lan tỏa khắp chánh điện. Mọi người chụp ảnh lưu niệm trong tinh thần hòa hợp và biết ơn. Tiến sĩ Bạch Xuân Phẻ gửi lời cảm niệm: “Chánh niệm không chỉ là ngồi thiền, mà là sống tỉnh thức trong từng khoảnh khắc yêu thương - để mỗi gia đình trở thành một ngôi chùa nhỏ giữa đời.” Buổi hội thảo kết thúc trong an lạc, để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng mọi người tham dự - những người sẽ mang theo hơi thở chánh niệm, ngôn ngữ yêu thương và sự hiểu biết trở về mái ấm của mình.

Thursday, May 31, 2018

Thơ Trần Trung Đạo, nỗi thao thức của một người yêu Việt Nam

Thơ Trần Trung Đạo, nỗi thao thức của một người yêu Việt Nam

Nguyễn Hoàng Lãng Du và Nguyễn Thanh Huy


Trần Trung Đạo không phải là người xa lạ trong giới văn nghệ. Những sáng tác của anh đã đăng trên các báo, xuất bản và được nhiều người đón nhận. Thơ của anh có kích thước vì chuyên chở được cái tình yêu thương của Con Người. Nhiều giòng chữ trong hai tập Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười và Thao Thức trở thành sợi nắng ban mai đánh thức lương tâm nhân loại trong đêm dài tăm tối. Trần Trung Đạo không chỉ viết cho chính mình. Anh viết nhiều cho Dân Tộc anh, cho những người thân mến và cho những kẻ khốn cùng. Trần quân sinh tại Quảng Nam, nơi được mệnh danh là địa linh nhân kiệt, với ngọn núi Ngũ Hành ngàn năm sừng sững, với sông Thu Bồn miên man nước chảy, với quế Tiên Phước ấp ủ hương rừng. Anh ngậm ngùi gởi về nơi mở mắt chào đời những bài Bao Giờ Nhỉ Tôi Về Thăm Xứ Quảng, Thu Bồn, Lụa Duy Xuyên. Thơ anh là giòng sông thương nhớ tìm về nguồn cội:
Trái tim tôi có một giòng máu đỏ
Sẽ một ngày chảy đến tận Câu Lâu
Nước sô^ng Thu dù lụt lội đục ngầu
Nghe vẫn ngọt như bòng bong Đại Lộc.
(Bao giờ nhỉ tôi về thăm xứ Quảng)

Anh sẽ đưa em về qua Hưng Hóa
Ghé Phong Châu quỳ trước điện Vua Hùng
Dẫu lạc loài nơi cuối bể đầu non
Hồn con vẫn là hồn muôn năm cũ
(Về thăm lịch sử)

Trần Trung Đạo là kẻ lữ hành trong cuộc đời bất định. Những thành phố mà anh đã từng đặt chân tới đã trở đô thị sống mãi trong thơ anh. Những bạn bè anh gặp đã trở thành tri kỷ trong ký ức. Đời anh vươn cao từ những khốn khó nên anh nâng niu quá khứ của mình. Từ chốn tạm dung nhiều ánh sáng anh thốt lên những khao khát không cùng:
Thèm một tối cùng anh em bè bạn
Uống cho say rồi chết giữa Sài Gòn.
(Ra Biển Gọi Thầm)

Tấm lòng của Trần Trung Đạo trải rộng ra cho non sông. Tình yêu nồng nàn của anh bao phủ khắp các ngả đường đất nước. Anh hứa với người tình trong thơ: Anh sẽ đưa em về thăm Hà Nội, dù cả đời anh chưa được một lần qua …Anh sẽ đưa em đến bờ Thiên Mạc để nhớ một lần lửa dậy Thăng Long …Anh sẽ đưa em đến đường Cổ Ngư bóng mát vì những chuyện tình đẹp nhất khởi từ đây. Quê hương Việt Nam xa cách của anh là một thiên đường thần thánh.
Mỗi chiếc lá nghe như còn hơi thở
Mỗi cành cây như có một linh hồn
Ta sẽ về sống lại một lần thôi
Em sẽ khóc như chưa hề được khóc.
(Về thăm lịch sử)

Trần Trung Đạo là người chí tình. Ngòi bút của anh hóa thành trầm hương khi viết về tổ tiên. Tâm hồn anh hóa thành mật ngọt khi viết cho người Mẹ hiền nơi cố quận. Trái tim anh gần gủi như ca dao trong lòng người viễn xứ. Đọc thơ Trần Trung Đạo người ta cảm nhận được tính đạo của dân tộc Việt.
Trần Trung Đạo có lần làm bạn với cây đa bên chùa Viên Giác. Cái cây tưởng như vô tri đó không bỏ anh lúc anh khổ cực. Sau nầy văn chương anh mọc thành cây cổ thụ che bóng mát cho những kẻ khốn cùng. Thơ anh bỗng là tiếng rên của bà mẹ đang sắp hàng chờ bán máu ở nhà thương Chợ Rẫy, là tiếng khóc của em bé thiếu sửa trên vỉa hè Đà Nẵng, là tiếng thét hãi hùng của người con gái trong vịnh Thái Lan, là tiếng đòi tự do của người thanh niên tại trại tù Đông Nam Á.
Anh viết cho kẻ sống và kẻ chết. Sự thua thiệt của những người bất hạnh vẫn là nỗi đau khổ ám ảnh anh dù đó là của một bà mẹ điên không đủ tiền mua thuốc cho con, củ anh bộ đội tàn phế không dám về thăm gia đình, của người lính già vừa chết đêm qua không người vuốt mắt.
Trần Trung Đạo bâng khuâng dưới cõi trời Tây. Nơi đây người ta tha thiết với tự do và bác ái. Nhưng em Hoàng Thị Thu Cúc vẫn chết tại trại Sikiew, Thái Lan vì có kẻ cho rằng em không đáng hưởng quyền họ nâng niu, bảo vệ. Trần Trung Đạo nghẹn ngào đưa hương hồn người con gái trẻ trở về cố xứ.
Con chim mhỏ chiều nay không hát nữa
Trại Cấm buồn tia nắng cũng vàng hơn
Đôi mắt khép cuộc đời em đóng cửa
Đường về Nam phảng phất một linh hồn.
(Vĩnh biệt em Thu Cúc)

Nơi đất nước có nhiều điều mới lạ. Người ta có quỹ bảo vệ thiên nhiên, có tiền che chỡ súc vật. Họ hiểu được tiếng chim nhưng không nghe được tiếng người. Trần Trung Đạo lại khóc cho những kẻ bị lãng quên:
Me em đâu ? – Ngủ ngoài biển cả
Em của em đâu ?
– Sóng cuốn đi rồi
Chị của em đâu ?
– Nghe chị thét trên mui
Ba của em đâu ?
Em lắc đầu không nói.
(Em bé Việt Nam và viên sỏi)

Chim có tổ, chồn cáo có hang nhưng người Việt không có một chỗ an thân. Trần Trung Đạo đã không ngần ngại hiến dâng cái sỡ hữu cuối cùng của cuộc đời anh qua lời ước nguyện:
Cho tôi chết làm người dân nước Việt
Linh hồn tôi phơ phất giữa trời Nam
Xác thân tôi trôi dạt bến sông Hàn
Làm phân bón cho quê nghèo khốn khỗ.

(Cho tôi xin)
Thơ của Trần Trung Đạo là nỗi thao thức của một người Việt Nam. Tác phẩm của anh là tờ hịch kêu gọi tình bác ái cho nhân loại nên sẽ sẽ tồn tại lâu dài với thời gian.