Showing posts with label Tuệ Sỹ. Show all posts
Showing posts with label Tuệ Sỹ. Show all posts

Saturday, September 12, 2026

NHỮNG CUỘC HẸN CHƯA THÀNH: Nhớ chị Đào Nguyên Dạ Thảo và một nhân duyên đẹp với Thầy Tuệ Sỹ

Bản PR mà chị Dạ Thảo nhờ Uyên Nguyên Trần Minh Triết làm để quảng bá

NHỮNG CUỘC HẸN CHƯA THÀNH: Nhớ chị Đào Nguyên Dạ Thảo và một nhân duyên đẹp với Thầy Tuệ Sỹ

Bạn Quảng Pháp/Uyên Nguyên nhắn tin cho hay chị Đào Nguyên Dạ Thảo, một họa sĩ tài ba mới có 61 tuổi, vừa rời cõi tạm. Tôi sững người, ngạc nhiên đến mức không thể tin đó là sự thật. Tôi vội gọi anh Bùi Chí Trung, lúc ấy đang ở Nhật, để hỏi thêm. Mãi một lúc sau, cơn bàng hoàng mới dịu xuống, nhường chỗ cho những kỷ niệm lần lượt trở về.

Tôi nhớ những lần chị làm sách cho Thầy Tuệ Sỹ. Hai chị em từng cố gắng quảng bá, phát hành, kêu gọi độc giả mua sách để đọc, rồi đôi khi lại mua thêm để tặng người khác. Mỗi lần chúng tôi tổ chức chương trình Có Mặt Cho Nhau, giới thiệu sách và các công trình văn hóa Phật giáo, chị gần như luôn là người gửi sách tặng chương trình. Có lần tại Tu Viện Đại Bi, chị không thể đến tham dự nhưng vẫn gửi Thiên Lý Độc Hành và Ngục Trung Mị Ngữ để trưng bày và trao tặng.

Giờ đây, nhìn lại hai cuốn sách ấy của Thầy Tuệ Sỹ và đọc lại những dòng tin nhắn cũ giữa chị và tôi, tôi chợt nhận ra: có những câu chữ khi được viết ra chỉ là một lời hẹn rất bình thường. Nhưng đến một ngày, khi người viết không còn nữa, những câu chữ ấy bỗng mang một sức nặng khác.

Tháng Tư năm 2025, chị Dạ Thảo nhắn cho tôi về dự định tổ chức một book festival, một cuộc gặp gỡ xoay quanh sách, văn hóa và những công trình nghệ thuật liên hệ đến Thầy Tuệ Sỹ. Chị cũng thực hiện cuốn Bồ Tát Quan Âm – Tín Ngưỡng và 50 Tượng Tuyển ở Nhật Bản của Giáo sư Bùi Chí Trung, rồi gửi cho tôi xem một mẫu sách và nhắn rất tự nhiên: “Đây là version bìa cứng.”

Một trong cái text cuối cùng với chị.

Chúng tôi bắt đầu bàn bạc và đã nghĩ đến một cuộc gặp. Nhưng rồi mẹ nuôi của chị ở Houston bất ngờ bị đột quỵ. Chị phải trở về chăm sóc bà. Căn phòng đã đặt tại Westminster Hall cũng phải hủy. Chị nhắn xin lỗi và nói một câu mà hôm nay đọc lại, tôi bỗng thấy lòng mình lặng xuống: “Mình sẽ có nhiều thời gian hơn để chuẩn bị nhé.” Mình sẽ có nhiều thời gian hơn…

Lúc ấy, ai cũng tin như vậy. Nhưng rồi cuộc hẹn ấy không bao giờ thực hiện được. Và đó cũng không phải là cuộc hẹn duy nhất. Có lần chị nhắc đến Đà Lạt, nơi chị ấp ủ một dự án hội họa, cũng là nơi chị dự định trở về sống những năm tháng hưu trí. Chị từng mời chúng tôi, giáo sư Bùi Chí Trung và tôi cùng chị trở về Đà Lạt, nơi chị đã sinh ra và lớn lên.

Chúng tôi đã hình dung một chuyến đi thật đẹp: gặp nhau ở Đamri hay giữa cao nguyên, thành phố mộng mơ Đà Lạt, thăm không gian nghệ thuật chị đang ấp ủ, nói chuyện về sách, hội họa, văn chương, rồi cùng đi lại những nơi còn lưu dấu chân Thầy Tuệ Sỹ.

Cuộc trở về ấy, trong dự tính của chúng tôi, không đơn thuần là một chuyến du ngoạn. Đó còn là một chuyến đi tìm lại dấu chân của Thầy. Nhưng cuộc hẹn Đà Lạt ấy rồi cũng chưa thành. Bây giờ nghĩ lại mới thấy đời người có biết bao nhiêu cuộc hẹn được gửi vào hai chữ “mai sau.” Ta thường nghĩ vẫn còn một mùa xuân khác, một chuyến đi khác, một ngày thuận tiện hơn. Nhưng vô thường không đi theo lịch trình của chúng ta. Chính vì vậy, những cuộc hẹn chưa thành ấy hôm nay không chỉ để lại tiếc nuối. Chúng trở thành một lời nhắc nhở về sự có mặt.

Nhân duyên của chị Dạ Thảo với Thầy Tuệ Sỹ là một nhân duyên đặc biệt. Có lần chị kể, qua nhà thơ Nguyễn Đức Sơn, chị được gặp Thầy tại Thị Ngạn Am, trong khuôn viên chùa Già Lam, vào năm 2001. (Xin được mở ngoặc là chị rất thân với Gia đình cố nhà thơ Nguyễn Đức Sơn và luôn giúp đỡ gia đình cố nhân sĩ này, cũng như đã bỏ tiền bạc và công sức xuất bản cuốn “Thơ và Đá” Thơ NGUYỄN ĐỨC SƠN do Văn Học Press xuất bản, 12/2019 với người viết tựa là Thầy Tuệ Sỹ gồm Ba ngôn ngữ: Việt - Anh - Nhật. Dịch sang tiếng Anh: Nguyễn Phước Nguyên. Dịch sang tiếng Nhật: Giáo sư Bùi Chí Trung và do chị làm biên tập. Nói chung chị là con người rất nhanh nhẹn, rộng lượng, từ bi và bác ái). Trong ký ức của chị, Thầy Tuệ Sỹ là một vị học giả uyên bác, thi sĩ tài hoa và bậc cao tăng thạc đức được nhiều người kính ngưỡng lại hiện ra hết sức bình dị: bộ đồ lam, đôi chân trần, ngồi trên chiếu, ngủ ngồi và tự tay rót trà mời khách. Chị thường nói đùa “chị là người ngoại đạo”, nhưng chị đến với Thầy bằng con đường văn học và nghệ thuật, rồi từ đó dành cho Thầy một niềm quý kính sâu xa. Chị đã nhìn thấy một Thầy Tuệ Sỹ rất gần với đời thường, bao dung và giản dị.

Thầy đang ký sách của Nguyễn Đức Sơn

Một vị Thầy có thể nói chuyện văn chương, kể chuyện những chuyến xe lửa từ Vạn Giã về Nha Trang, quan sát từng con người bình thường trên toa tàu, rồi từ đó hình thành ý tưởng cho truyện Chuyến Tàu Tốc Hành — trong đó cả địa cầu như một đoàn tàu đang lao đi, còn con người vẫn mải mê với những vui buồn, tranh chấp, thương yêu và tính toán của mình mà không biết phía trước là gì.

Chị cũng từng ngồi nghe Thầy kể về những năm tháng lao tù. Khi không có giấy bút, Thầy làm thơ rồi ghi nhớ từng câu trong tâm. Có lúc, Thầy dùng vật cứng viết chữ Hán lên tường hoặc nền nhà để người khác khó đọc được. Sau khi ra khỏi tù, từ ký ức ấy, những bài thơ được ghi lại và trở thành Ngục Trung Mị Ngữ. Có lẽ vì đã nhìn thấy cả hai phương diện ấy, một Tuệ Sỹ uyên áo trong tư tưởng nhưng vô cùng giản dị trong đời sống nên khi tham gia trình bày mỹ thuật và ấn hành những thi phẩm cuối đời của Thầy, chị Dạ Thảo không chỉ làm công việc của một họa sĩ. Chị còn giúp chuyển tải đến bạn đọc những hình ảnh rất đời thường, giản dị và thú vị về Thầy. Có lần Thầy cũng viết chữ “Thảo” tặng chị. Có thể nói, chị đã góp phần đưa một phần di sản văn học và nghệ thuật của Thầy đến gần hơn với bạn đọc trong và ngoài nước.

Cùng với Giáo sư Bùi Chí Trung và những người hữu duyên, chị đã góp công sức vào những ấn phẩm như Ngục Trung Mị Ngữ, Thiên Lý Độc Hành và những công trình liên hệ đến Thầy. Nhìn những cuốn sách ấy hôm nay, tôi hiểu rằng làm sách về Tuệ Sỹ không thể chỉ là chuyện chọn phông chữ, bố cục, hình ảnh hay màu sắc. Đó còn là một cách phụng sự văn hóa.

Mỗi trang sách là một phương tiện đưa tư tưởng, thi ca và khí phách của một con người đi xa hơn giới hạn của chính đời người ấy. Ở đó, tôi nghĩ đến ý nghĩa của Phật giáo dấn thân, dù chị vẫn thường khiêm tốn nhận mình là người “ngoại đạo”. Dấn thân không nhất thiết phải bắt đầu bằng những việc lớn lao. Có khi, dấn thân chỉ là làm thật đẹp một trang sách. Giữ lại một bản thảo hay chăm chút vẻ một bức ảnh. Tổ chức một buổi giới thiệu sách hay dịch một bài thơ hay. Gìn giữ một ký ức đẹp hay trao truyền một di sản tinh thần cho thế hệ sau.

Nếu Chánh pháp chỉ được đặt trang trọng trên bàn thờ mà không đi vào đời sống, thì ánh sáng của Chánh pháp vẫn chưa được tiếp nối trọn vẹn. Thầy Tuệ Sỹ đã sống một đời như thế. Thầy đi qua tù đày mà không đánh mất tự do nội tâm; đi qua những biến động dữ dội của lịch sử mà vẫn giữ được phẩm cách của người trí thức và giới hạnh của người xuất gia. Học thuật của Thầy không tách khỏi vận mệnh con người. Thi ca của Thầy cũng không trốn chạy khổ đau. Bởi vậy, gìn giữ di sản Thầy Tuệ Sỹ để lại không nên chỉ dừng ở sự tưởng niệm. Đó còn là sự tiếp nối. Tiếp nối tinh thần “duy tuệ thị nghiệp”, lấy giáo dục và văn hóa làm phương tiện. Tiếp nối tinh thần độc lập trong tư duy. Tiếp nối lòng từ bi trước khổ đau của con người. Tiếp nối trách nhiệm của người trí thức đối với văn hóa, giáo dục và xã hội. Và tiếp nối khả năng đứng giữa cuộc đời mà không để những biến động của cuộc đời làm mất đi tự do bên trong. Theo nghĩa ấy, những cuốn sách mà chị Dạ Thảo góp phần thực hiện cũng chính là một hình thức dấn thân. Và tôi tin rằng anh Bùi Chí Trung cũng sẽ tiếp tục con đường ấy. 

Trong cái nhìn Phật giáo, tất cả rồi cũng qua bốn giai đoạn thành-trụ-hoại-không. Thầy đã đi. Bây giờ chị Dạ Thảo cũng đã đi. Chúng ta rồi cũng sẽ ra đi. Giờ này còn lại trên bàn tôi là Ngục Trung Mị Ngữ, Thiên Lý Độc Hành, và những trang sách mà biết bao bàn tay đã âm thầm góp sức. Bỗng nhiên, sách trở thành kỷ niệm, thành hoài vọng, thành những ưu tư và những tiếp nối. Ở đó có bóng dáng Thầy. Có tâm huyết của chị. Có công sức của Giáo sư Bùi Chí Trung và những người cùng chung chí nguyện. Có cả một book festival làm chung chưa thành. Và có một Đà Lạt chưa kịp trở về.

Tôi vẫn từng hình dung một ngày nào đó, chúng tôi sẽ gặp nhau trên cao nguyên ấy: chị Dạ Thảo, anh Bùi Chí Trung, bạn thân của Thầy Tuệ Sỹ, và tôi đang hầu Thầy; cùng uống một chén trà, xem những bức tranh chị đang thực hiện, nói về những cuốn sách còn dang dở, rồi đi tìm một chút Chân – Thiện – Mỹ giữa sương lạnh Đà Lạt.

Thầy Tuệ Sỹ, Chị Đào Nguyên Dạ Thảo và anh Bùi Chí Trung gặp nhau ở Chùa Đức Lâm, Nagoya tháng Giêng, 2020 

 

Nhưng bây giờ, Thầy đã an nhiên thị tịch. Người hẹn cũng đã đi rồi. Có lẽ cuộc hành trình ấy, nếu một ngày được thực hiện, sẽ mang một ý nghĩa khác. Không còn là đi để gặp chị, mà là đi để làm điều gì có ích cho nhau và cho tha nhân. Phật giáo nói về vô thường không phải để con người bi quan trước sự chia lìa. Ngược lại, chính vì vô thường mà từng phút giây hiện hữu mới trở nên quý giá. Một cuộc gặp cần được trân trọng khi còn có thể gặp. Một lời thương cần được nói khi người kia còn có thể nghe. Một việc thiện cần được làm khi nhân duyên đang có mặt. Và một ước nguyện đẹp, nếu có thể thực hiện hôm nay, đừng mãi gửi về ngày mai.

Vì thế, điều còn lại sau sự ra đi của chị Dạ Thảo không nên chỉ là nỗi buồn. Đó có thể là một lời gởi gắm. Những dự án còn dang dở, những cuốn sách, những bức tranh, những câu chuyện về Thầy, và cả lời hẹn Đà Lạt chưa thành — tất cả nhắc những người ở lại rằng: Di sản chỉ thật sự sống khi có người tiếp tục mang nó đi vào cuộc đời.

Cảm ơn chị Dạ Thảo về một nhân duyên đẹp. Cảm ơn chị đã dùng đôi mắt của người nghệ sĩ để nhìn Thầy, dùng đôi tay của người làm mỹ thuật để gìn giữ những trang sách của Thầy, và dùng tình cảm của một người hữu duyên với Phật pháp để lưu lại cho chúng tôi những ký ức thật gần gũi, thật người về Thầy Tuệ Sỹ.

Cuộc hẹn triển lãm sách ở Westminster còn thiếu duyên. Cuộc hẹn dạo chơi ở DaoNguyen Art Village ở Đà Lạt cũng chưa thành. Nhưng có lẽ, trong tinh thần duyên khởi, một cuộc hẹn không thành không có nghĩa là một tâm nguyện đã mất. Người này đặt xuống, người khác tiếp nhận. Một bàn tay buông ra, một bàn tay khác tiếp nối. Một đời người khép lại, nhưng hạnh nguyện vẫn có thể tiếp tục đi.

Thầy đã thiên lý độc hành. Chị cũng vừa bước sang một nẻo thiên lý khác. Còn anh Trung và chúng tôi, những người ở lại trong những cuộc hẹn hò dang dở ấy, xin tiếp tục cuộc hành trình bằng những việc mình có thể, để văn hóa được gìn giữ, để Chánh pháp tiếp tục đi vào cuộc đời, và để những hạt giống đẹp mà người đi trước đã gieo không bị trôi vào lãng quên.

Mai này, nếu có dịp trở lại Đà Lạt, có lẽ chúng tôi vẫn sẽ thực hiện một buổi Có Mặt Cho Nhau để nhớ về chị. Chỉ khác rằng, giữa chén trà, sương núi và những đóa hoa Đà Lạt sẽ thiếu bóng dáng và đôi mắt sâu hun hút của Thầy, sẽ thiếu một người hiền lành có nụ cười tươi như hoa của chị. Nhưng biết đâu, trong một cánh thông lay, một áng mây ngang núi, hay một khoảng lặng giữa câu chuyện, chúng tôi lại nhận ra: Người đi không hẳn đã mất. Khi hạnh nguyện còn được tiếp nối, người vẫn đang cùng chúng ta thong dong khắp mọi nẻo đường.

Xin thành kính chia buồn cùng gia đình chị và bé Dali. Ngưỡng nguyện hương linh chị Đào Nguyên Dạ Thảo xả bỏ báo thân, tùy duyên thiện nghiệp, thênh thang trên nẻo về.

Nguyện những tâm nguyện về văn hóa và nghệ thuật mà chị còn để lại sẽ tiếp tục được những người hữu duyên nâng niu, gìn giữ và tiếp nối. Và nguyện cho bé Dali luôn được nâng đỡ bởi tình thương, lớn lên thành người như điều chị từng mong nguyện. Rest In Peace, Chị. Xin tiễn nhau đây.

Hẹn xưa chưa tròn
Đào Nguyên Dạ Thảo
Thong dong qua đồi.

Our old promise unfulfilled
Đào Nguyên Dạ Thảo
Wanders freely beyond the hill

Nam mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

Bạch Xuân Phẻ



Wednesday, May 27, 2026

Huệ Đan: Gaṅgā, Mùa Trăng Cổ Độ

Từ buổi nhân gian còn ngửa mặt dò theo tinh tú, nghe tiếng gió ngân qua tầng không vô tận mà tự hỏi mình từ đâu đến giữa cõi phù sinh này, lịch sử loài người đã như một trường thiên cổ điệu viết bằng nước mắt và khát vọng thoát ly khổ ách. Những nền văn minh từng rực sáng bên dòng Nile, Euphrates, Hoàng Hà, Hằng Hà (Gaṅgā)… rồi cũng chỉ còn lại dấu thành đổ nát, tượng đá khuyết đầu và bóng đế quốc chìm sâu dưới lớp bụi vàng thời gian. Triều đại nối triều đại như mây nổi cuối trời, chiến công rồi cũng hóa thành tiếng vang lặng giữa bãi cổ thành phong hóa. Chỉ có nỗi ưu tư về sinh tử của con người vẫn còn thao thức mãi, như ánh sao cô tịch chưa từng tắt trên vòm trời lịch sử.

Ấn Độ cổ đại vào thế kỷ thứ VI trước Tây lịch không những là miền đất của thần thoại, kinh Vệ-đà và những khúc tụng ca dâng lên chư thiên, đó còn là nơi những câu hỏi lớn nhất về hiện hữu được nung nấu đến tận cùng trong ngọn lửa thao thức của con người. Giữa những đàn tế rực khói hương, những hệ thống giai cấp nghiệt ngã như định mệnh, những triết đoàn tranh biện miên man bên bờ Hằng thủy, nhân gian dường như vẫn chưa tìm thấy con đường nào đủ sức xoa dịu nỗi bất an trước sự già, bệnh, chết và chia lìa.

Chính trong bối cảnh ấy, một người trẻ đã lặng lẽ bước ra khỏi hoàng thành Ca Tỳ La Vệ vào một đêm trăng lạnh. Sau lưng Ngài là vương vị, cung điện, quyền lực và cả những yêu thương sâu kín nhất của đời người. Bấy giờ phía trước chỉ còn bóng tối của rừng già, tiếng gió cô tịch và câu hỏi cháy bỏng về căn nguyên khổ đau. Cuộc ra đi ấy không phải là hành vi trốn chạy thế gian, đó là bước chân đầu tiên của một đại nguyện muốn đi thẳng vào trung tâm bi kịch nhân loại để tìm một con đường giải thoát cho muôn loài.

Từ đó, dưới những cội rừng Ấn Độ, bên dòng Ni Liên Thiền tịch lặng, một hành trình chưa từng có trong lịch sử tâm linh nhân loại đã bắt đầu. Hành trình của một con người dám từ bỏ mọi huyễn ảnh quyền lực để đối diện trực tiếp với tử sinh, vô thường và chính bóng tối sâu thẳm nhất trong tâm thức.

Từ đó, hành trình của Siddhartha Gautama không riêng chỉ là lịch sử của một tôn giáo. Đó là cuộc vượt thoát vĩ đại nhất của tinh thần nhân loại. Bởi lần đầu tiên trong lịch sử, con người không còn quỳ xuống để cầu xin định mệnh đổi thay, cũng không tìm sự cứu rỗi nơi quyền năng của thần linh mà dám quay vào chính nội tâm mình để soi thấu căn nguyên của khổ đau và con đường giải thoát.

Dưới cội bồ-đề bên dòng Ni Liên Thiền, đêm ấy không chỉ có một con người giác ngộ. Đó còn là khoảnh khắc nhân loại tìm thấy một chân trời khác cho chính mình, nơi trí tuệ có thể thắng vượt vô minh, từ bi có thể hóa giải thù hận. Đó là nơi con người, dù nhỏ bé giữa vũ trụ vô cùng, vẫn có khả năng tự thắp lên ngọn đèn cho chính mình giữa đêm dài sinh tử.

Từ ánh đạo ấy, những đế quốc rồi sẽ suy tàn, những biên giới rồi sẽ đổi thay, nhưng tiếng gọi tỉnh thức của Đức Phật vẫn còn vang vọng qua hơn hai mươi lăm thế kỷ như tiếng chuông ngân giữa sương khuya nhân loại. Không phải tiếng gọi của quyền lực hay chinh phục, nhưng là lời nhắc nhở âm thầm rằng khổ đau có thể được hiểu thấu, con người có thể bước ra khỏi bóng tối của bản thân.

Bấy giờ, khi đọc bài thơ Tiểu Khúc Phật Đản của Thầy Tuệ Sỹ, người đọc thường có cảm giác như đang nghe lại tiếng vọng rất xa của những đêm trăng bên bờ Ni Liên Thiền, nơi một thái tử trẻ tuổi nhìn dòng nước trôi mà nhận ra sự vô thường của vạn hữu. Không gian trong thơ không còn là một địa điểm cụ thể hay một thời điểm lịch sử nhất định. Tất cả đã trở thành cõi tâm linh hun hút của nhân loại từ ngàn xưa đến hôm nay.

Dòng Gaṅgā vẫn âm thầm trôi giữa trời đất cổ sơ như đã từng trôi qua biết bao triều đại hưng vong của nhân loại. Những bóng thành quách, những huyết thống đế vương, những khát vọng dựng xây thiên cổ rồi cũng chỉ còn là làn bụi mỏng bay qua đầu ngọn gió thời gian. Một phía là quyền lực thế gian. Một phía là bước chân đi vào cõi vô cùng tịch mặc. Cuối cùng, tất cả đều cúi đầu trước già nua, sinh diệt và bóng tối của vô thường.

Giữa trời tuyết và ánh trăng cổ độ, bóng người đi tìm đạo hiện ra cô tịch như chính nỗi cô đơn muôn thuở của nhân loại trước vực sâu sinh tử. Đó không phải bóng dáng của một đấng thần linh đứng ngoài cuộc đời mà là bước chân của một con người đã dám đi đến tận cùng khổ đau để tìm một con đường vượt thoát cho tha nhân. Từ đêm rời hoàng thành ấy, nhân loại không những chứng kiến sự xuất hiện của một bậc giác giả. Nhân loại còn thấy được khả thể giải thoát nơi chính mình.

Cũng từ một đêm khuya của vương cung, giữa ánh trăng khuyết lạnh và tiếng trẻ thơ vọng nhẹ bên thềm ngọc, cuộc chia lìa lớn nhất của lịch sử tâm linh nhân loại đã lặng lẽ bắt đầu. Đó không phải sự đoạn tuyệt với tình thương. Trái lại, chính vì thương yêu quá sâu nên mới dám bước đi. Vì nhìn thấy mọi vẻ đẹp của nhân gian rồi cũng bị cuốn vào dòng già nua, bệnh tật và mất mát, lòng đại bi mới khởi lên như một lời nguyện âm thầm cứu độ cõi đời.

Từ đó, lịch sử nhân loại vẫn tiếp tục quay cuồng trong chiến tranh, đế quốc, hận thù và những giấc mộng quyền lực không cùng. Con người đi rất xa trong văn minh vật chất nhưng nhiều khi vẫn chưa bước ra khỏi nỗi sợ hãi nguyên sơ của chính mình. Những biên giới được dựng lên rồi sụp đổ. Những ý thức hệ từng tưởng bất khả chiến bại rồi cũng trở thành tro bụi. Chỉ có khổ đau của con người là vẫn còn nguyên vẹn từ thuở cổ sơ cho đến hôm nay.

Cho nên, điều còn lại trong hành trình ấy không phải là huy hoàng của một tôn giáo hay chiến thắng của một học thuyết. Điều còn lại là nhận thức thấu suốt về thân phận con người, nơi mọi hợp tan đều là lẽ tự nhiên của hiện hữu, nơi mọi chấp thủ cuối cùng cũng dẫn về ưu phiền, nơi con người chỉ có thể thật sự bước ra khỏi bóng tối khi biết quay về soi chiếu tự thân.

Khổ đau là khối tình chung,
Ai nâng cõi Thế qua bùn tử sinh?*

Đó không còn là lời tra vấn dành riêng cho một thời đại, một dân tộc hay riêng một ai nữa. Là tiếng vọng âm thầm đi xuyên qua toàn bộ lịch sử nhân loại, từ bãi chiến trường cổ xưa cho đến những cô đơn sâu kín nhất của chúng ta hôm nay. Và cũng chính nơi này, giữa dòng sinh diệt vô cùng, tiếng chuông tỉnh thức của Đức Phật vẫn còn ngân mãi tựa vầng trăng xưa lung linh trên dòng Gaṅgā cổ độ.

Phật lịch 2570 – Vô Trú Xứ Am
26.05.2026

HUỆ ĐAN

_____________________

* Tiểu Khúc Phật Đản – thơ Tuệ Sỹ:

Sông Hằng một dải trôi mau;
Vận đời đôi ngã bạc đầu Vương gia.

Tuyết sơn phất ngọn trăng già,
Bóng Người thăm thẳm vượt qua chín tầng.

Cho hay Bồ tát hậu thân,
Chày kình chưa chuyển tiếng vần đã xa.

Sườn non một bóng Đạo già
Trầm tư năm tháng bên bờ tử sinh.

Nhìn Sao mà ngỏ sự tình:
Ai người Đại Giác cho minh quy y?

Năm chầy đá ngủ lòng khe;
Lưng trời cánh hạc đi về hoàng hôn.

Trăng gầy nửa mảnh soi thềm,
U ơ tiếng Trẻ, êm đềm Vương cung.

Sao trời thưa nhặt mông lung;
Mấy ai thấu rõ cho cùng nghiệp duyên.

Khói mơ quấn quýt hương nguyền,
Hợp tan là lẽ ưu phiền đấy thôi.

Vườn Hồng khóa nẻo phỉnh phờ,
Cùng trong cõi Mộng chia bờ khổ đau.

Thời gian vỗ cánh ngang đầu;
Sinh, già, bịnh, chết, tránh đâu vận cùng.

Khổ đau là khối tình chung,
Ai nâng cõi Thế qua bùn tử sinh?

Monday, November 24, 2025

TRI ÂN THẦY TRONG LỄ ĐẠI TƯỜNG

Giới Thiệu Bài Viết Của Tâm Thường Định — Bạch Xuân Phẻ
trong tập sách Ngoài Hư Không Có Dấu Chim Bay.

Huynh trưởng Tâm Thường Định (Bạch Xuân Phẻ) — nhà giáo dục, thi sĩ, và giảng sư Chánh niệm, người học trò nhỏ bé có duyên được đọc và làm việc từ xa cùng Thầy Tuệ Sỹ. Qua bài “Tri Ân Thầy Trong Lễ Đại Tường”, tác giả chia sẻ:
Niềm kính ngưỡng sâu sắc đối với bậc minh sư, tầm nhìn giáo dục khai phóng Thầy để lại, và lời phát nguyện tiếp nối giấc mơ về một nền giáo dục Phật giáo Việt Nam hiện đại, nhân bản và thấm nhuần từ-bi-trí-tuệ.

Bài “Tri Ân Thầy Trong Lễ Đại Tường” của Thiện Nhạn Tâm Thường Định có những điểm chính như sau:
Tri ân một bậc Long Tượng Phật giáo Việt Nam. Tác giả kính lễ Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ như biểu tượng của trí tuệ, từ bi, đại hùng và văn hóa khai phóng. Thầy là minh sư của bốn chúng, là người hiến trọn đời cho đạo pháp, dân tộc và nhân loại.

Thầy – bài kệ sống. Qua những năm tù đày, Thầy vẫn an nhiên—không oán hờn, không than thở. Thân giáo, khẩu giáo, ý giáo của Thầy đều là “pháp âm sống”.

Giấc mơ giáo dục của Thầy. Thầy ấp ủ thành lập một Đại học Phật giáo Việt Nam tại hải ngoại. Con đường Thầy phác họa: bắt đầu từ một Viện Phật học → xây dựng nhân sự, tài lực → tiến đến xây dựng 1 Đại học trong 10 năm. Thầy tin Âu Châu (nhất là Đức quốc) là nơi thuận duyên nhất để khởi sự.

Tiếp nối hạnh nguyện Thầy. Tâm Thường Định nhắc đến nỗ lực của nhiều Tăng Ni, cư sĩ tại Âu, Mỹ, Úc… và những vị Tăng Ni một thời Thầy dạy bảo và nuôi dưỡng. Đặc biệt là sự ra đời của Học Viện Chúng Hương Online, như dòng mạch tiếp nối lý tưởng của Thầy.

Thông điệp cuối. Giáo dục Phật giáo Thầy mong muốn không phải “khuôn sáo”, mà là khai phóng tư duy, kết nối Đông – Tây, nuôi dưỡng tự do, trí tuệ và trái tim nhân hậu. Tác giả nguyện tiếp nối con đường Thầy: “Lấy Chánh pháp làm đường đi, Từ bi làm lẽ sống, Trí tuệ làm hơi thở.”
Xin trân trọng đọc bài của cư sỹ Tâm Thường Định.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. 🙏

BBT 




TRI ÂN THẦY
TRONG LỄ ĐẠI TƯỜNG
Một nén tâm hương tưởng niệm vị Thầy Tuệ (Sỹ), bậc Long Tượng của Phật giáo Việt Nam

Thiên Nhạn

Trong không gian tĩnh lặng của một buổi sớm mùa thu tại thủ phủ Sacramento. Trời đã se lạnh, gió mùa vừa sang và những cơn mưa cũng đang bắt đầu nặng hạt, con chắp tay hướng về phương trời xa, nơi pháp thân Thầy vẫn tỏa rạng giữa hư vô. Bao nhiêu lời muốn nói, rồi bỗng hóa thành im lặng, vì làm sao dùng được lời phàm để nói hết công đức, trí tuệ và từ bi của một bậc Thạc đức như Thầy, người mà bốn chúng gọi là bậc minh sư, bậc long tượng Phật Giáo Việt Nam – Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ – người đã hiến trọn đời mình cho đạo pháp, dân tộc và nhân loại.

Thầy là biểu tượng của trí tuệ không khuất phục, của từ bi vô lượng, của văn hóa khai phóng và giáo dục vị tha. Dáng Thầy gầy, giọng nói nhỏ nhẹ, nhưng ý chí và tầm nhìn của Thầy vững như núi Tu Di giữa pháp hội trần gian. Từ thân giáo, khẩu giáo cho đến ý giáo, Thầy đã gieo hạt giống Bồ-đề trong bao thế hệ, từ chốn thiền môn đến học đường, từ kinh sách Phật học đến văn chương nhân thế.

Hạnh nguyện Bồ Tát của Thầy mà trong đó có sự nuôi dưỡng, giảng dạy hay dịch thuật, mà là thức tỉnh con người trong từng lời kinh, từng hơi thở, từng ý niệm hay từng hành động lợi sinh. Thầy dạy rằng văn hóa và giáo dục là con đường dài của sự chuyển hóa, còn chính trị hay quyền lực chỉ là gió thoảng, mây bay. Thầy lấy đại bi làm nguyện, đại trí làm phương tiện, đại hùng làm hành động — ba cột trụ của một đời Bồ-tát hành đạo giữa nhân gian.

Như nhiều người đã biết, với bao năm tháng lao tù, Thầy vẫn ung dung. Trước bất công, Thầy không oán hờn. Trong khổ đau, Thầy không than thở. Trong im lặng, Thầy vẫn dạy đời bằng chính trí tuệ và thân giáo của mình. Cả cuộc đời Thầy là một bài kệ sống. Quả đúng như vậy, mỗi hơi thở, mỗi nụ cười, mỗi dòng thơ, mỗi bản dịch, đều là một pháp âm. Thầy đúng là vị Thầy của bốn chúng và của nhiều thế hệ.  Thầy chính là người khơi sáng niềm tin và dũng lực cho Tăng Ni, Phật tử và tuổi trẻ Việt Nam. Với Thầy, tuổi trẻ là tương lai của đạo pháp và dân tộc, là hạt giống cần được tưới tẩm bằng sự hiểu biết, tình thương và tinh thần khai phóng. Thầy thường dạy chúng con, “Lấy văn hóa và giáo dục làm hành trang cho cuộc đời mình.” Lời dạy ấy, như giọt sương đầu ngày, trong veo, thấm nhuận vào con nhẹ nhàng và sâu thẳm. Với nhiều vị Tăng sĩ hay Phật tử Việt Nam, đó là ngọn hải đăng soi đường trên hành trình phụng sự: vừa dấn thân, vừa tỉnh thức; vừa học hỏi, hành trì, noi theo, và tiếp nối.

Nhân đây, xin được kể lại một ước mơ và ý nguyện sâu xa của Thầy, để tất cả chúng ta cùng nhau nỗ lực tiếp nối. Đó là giấc mơ về một Trường Đại học Phật giáo Việt Nam tại Hải ngoại — một ước nguyện mà Thầy đã ấp ủ từ lâu, với tâm nguyện muốn thấy ánh sáng của Chánh pháp lan tỏa khắp nơi, để thế hệ con cháu mai sau còn có nơi nương tựa vào văn hóa, trí tuệ và đạo hạnh của Phật Giáo Việt.

Trong những lần được hầu chuyện cùng Thầy, người viết vẫn nhớ mãi giọng nói nhỏ nhẹ, hiền từ mà kiên định của Thầy khi nói về giấc mơ ấy. Một giấc mơ không mang dáng dấp của quyền lực hay danh vọng, mà thuần túy là hạnh nguyện độ sinh và hoằng dương Chánh pháp. Thầy hỏi: “Nếu có điều kiện, chúng ta có thể thành lập một trường đại học cho Phật giáo Việt Nam tại xứ người thì nên xây dựng ở đâu?”

Chúng tôi khi ấy chỉ biết thưa theo cái hiểu biết của mình. Thầy nghe xong, trầm ngâm nói một cách hiền hậu: “Vậy thì, ta có thể khởi sự ở Âu Châu. Ở đó có Hòa thượng Thích Như Điển, có nhiều đệ tử uyên bác — cả Tăng, Ni, và cư sĩ — đang dấn thân trong ngành giáo dục. Ở đó, có môi trường tốt, có nhân duyên thuận lợi.”

Thầy nói xong và vẽ tiếp một con đường. Thầy bảo: Trước hết, chúng ta hãy thử một Viện Phật Học, như một chi nhánh đầu tiên. Từ đó, sẽ vun bồi nhân sự, tài lực, và nền tảng để tiến tới Đại học. Làm chậm nhưng bền, làm ít nhưng thật và phải hoàn tất trong 5 năm để bắt đầu thành lập trường Đại học trong 10 năm.

Chúng tôi khi ấy liền thưa lại rằng: Ở Hải ngoại, có nhiều vị Hòa thượng luôn hết lòng hỗ trợ Thầy như HT. Thích Như Điển, HT. Thích Nguyên Siêu, HT. Thích Bổn Đạt, cùng những bậc Thầy trẻ đã và đang du học hay hành đạo ở hải ngoại, như Thầy Tâm Nhãn, Sư Cô Khánh Năng (Hạnh Thân), Sư Cô Diệu Nguyệt, v.v… Lại còn có những cư sĩ trung kiên, hết lòng vì Phật sự và vì Thầy, như anh Nguyên Đạo, anh Tâm Huy, anh Tâm Quang, anh Thị Nghĩa, cùng nhiều Phật tử tại Âu, Mỹ, Úc luôn nguyện làm cánh tay nối dài cho Giáo hội.

Thầy nghe xong, hoan hỷ vô cùng. Thầy hoan hỷ và chúng tôi thầm nghĩ nếu có nhân duyên như vậy, thì ắt việc này có thể thành tựu. Thế rồi Thầy kết luận, một trong những nơi thích hợp nhất, có thể là Học Phật Viện Viên Giác ở Đức quốc. Ở đó, có HT. Thích Như Điển, và nhiều vị học trò chí thiết, có tâm và có tầm. Thầy tin rằng, nếu nhân duyên thù thắng, nơi ấy sẽ là mầm non đầu tiên của giấc mơ Đại học Phật giáo Việt Nam nơi xứ người. 

Điều làm chúng tôi cảm động hơn cả là hiện nay tại Hải Ngoại có Sư Cô Thích Nữ Hạnh Thân, Sư Cô Diệu Nguyệt (Sucandra – Alena Gripass), chị Mai Lê (Con gái của Cô Nhã Ca), đã cùng nhau thành lập Học Viện Chúng Hương Online (Xin xem trang nhà ở đây, https://chunghuonginstitute.org/) để tiếp nối các công việc Phật sự của Thầy, như những mạch nước trong chảy tiếp từ nguồn tâm Đại Bi, Đại Trí của Thầy. Thầy vẫn thường dạy: Chúng ta không chỉ giữ đạo cho riêng mình, mà phải gieo lại hạt giống Chánh pháp muôn phương. Giấc mơ của Thầy, do đó, không chỉ là dựng một nơi chốn bằng gạch ngói, mà là xây dựng một ngôi nhà tâm linh của trí tuệ và từ bi — nơi hội tụ tinh hoa văn hóa Việt, minh triết Phật giáo và tinh thần giáo dục nhân bản của nhân loại. 

Giấc mơ và hạnh nguyện của Thầy – cũng là lời gửi gắm cho chúng ta hôm nay. Dù học viện hay trường đại học ấy chưa mọc lên giữa trời Âu hay đất Mỹ, nhưng hạt giống của nó đã được Thầy gieo sẵn trong tâm của mỗi người học trò. Chỉ cần chúng ta cùng chung tay, nuôi dưỡng bằng tâm thành, bằng đạo hạnh, và bằng trí tuệ — thì một ngày nào đó, một trường Đại học Phật giáo Việt Nam tại Hải ngoại sẽ thành hình như một đóa sen giữa trời Tây, tỏa hương cho đời và nối dài ánh sáng từ bi của Đạo Phật Việt Nam trên khắp năm châu. Thầy muốn nơi đó là chỗ để người xuất gia hay tại gia, trẻ hay già, Đông hay Tây – cùng chia sẻ một lý tưởng: “Học để giác ngộ và phụng sự.”

Ước vọng của Thầy cũng chính là trách nhiệm của kẻ hậu lai. Chúng con, những kẻ hậu học đang cúi đầu nhận lấy lời nhắn nhủ ấy như một tâm ấn truyền đăng. Dẫu biết con đường này nhiều chông gai, nhưng mỗi bước đi là một đoá sen nở, mỗi bàn tay góp lại là một viên gạch dựng nên Đại học Từ Bi – Trí Tuệ. Chúng con tin rằng, ngọn lửa Tuệ Sỹ đã và đang lan toả như hạnh nguyện 'hư không hữu tận, ngã nguyện vô cùng' của Thầy. Từ Dambri đến Hannover, từ Washington D.C. đến Paris, từ Huế đến Sydney, từ Saigon đến Vancouver – bất cứ nơi nào có người Việt còn hướng về Phật pháp, nơi ấy có thể là mảnh đất tâm cho Phật giáo Việt Nam đang nảy mầm.

Với tầm nhìn khai phóng và nhân bản của Thầy, Giáo dục Phật giáo không chỉ đào tạo Tăng tài, mà còn phải đào tạo những con người có tâm hồn tự do, có trí tuệ khai mở và trái tim nhân hậu. Viện Phật Học hay trường Đại học ấy – trong giấc mơ của Thầy sẽ là nơi không bị ràng buộc người học vào khuôn khổ giáo điều, mà là nơi khai phóng tư duy, thắp sáng trí tuệ, dung hòa Đông Tây, kết nối cổ kim, nơi Tăng Ni sinh, học viên, sinh viên không chỉ học hỏi Kinh, Luật, Luận, mà còn chuyên tâm vào khoa học, triết học, giáo dục, nghệ thuật, ngôn ngữ, và nhân quyền – tất cả đều soi chiếu bằng ánh sáng Từ Bi và Trí Tuệ của Đạo Phật. 

Di sản của Thầy đã nằm trong hơn nửa thế kỷ trước tác, giảng dạy và dịch thuật và đang ở trong tâm hồn nhân bản và tinh thần khai mở mà Thầy đã truyền trao. Công trình phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam là một sự nghiệp giáo dục và tâm linh vĩ đại – nối liền quá khứ với tương lai, truyền thống với hiện đại, Đông phương với Tây phương. Những lời Thầy dạy, những lá thư, những bản thảo, những dòng thơ như “quán trọ” giữa cuộc đời, là nơi ta dừng lại để soi chiếu tâm mình, để thấy vô thường mà không sợ hãi, để sống giữa đời mà không đánh mất chân tâm.

Thầy ơi,
Tháng Mười Một lại về, mưa vẫn rơi như những giọt tâm tư. Thuyền từ Giáo hội còn neo bến, nhưng bóng Thầy đã khuất giữa trời Không. Tuy nhiên, ngọn đuốc và ánh sáng mà Thầy đã thắp lên vẫn lan toả trong từng nụ cười lam áo, trong từng lời giảng, trong từng trang kinh được mở. Chúng con xin kính tri ân Thầy. 

Chúng con xin nguyện tiếp nối hạnh nguyện độ sinh của Thầy,
Lấy Chánh pháp làm đường đi,
Lấy Từ bi làm lẽ sống,
Lấy Trí tuệ làm hơi thở của từng ngày.

Xin nguyện hồi hướng những công đức lành
đến pháp thân thanh tịnh của Thầy –
bậc Cao Tăng Thạc đức, Nhà giáo dục lớn,
người đã soi sáng tâm hồn Việt giữa vô minh nhân thế.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Sacramento, Bạch Vân Am, 2025
Thiên Nhạn
(Tâm Thường Định)

Friday, October 31, 2025

Bạch Xuân Phẻ: Bóng hạc giữa trường xưa gợi nhớ Thầy!



Về mái trường xưa - UC Davis Photos: BXP

Bóng hạc giữa trường xưa gợi nhớ Thầy!

Dưới ánh nắng ban mai tại sân trường UC Davis, nơi chúng tôi đã từng đeo đuổi hậu đại học vào cuối thập niên 90's—tản bộ một mình, dăm ba phút dừng lại, hít vào thở ra thật sâu và nhẹ. Lòng chợt dâng trào bao cảm xúc — vừa thân quen, vừa xa lạ. Bạn cũ, người xưa không còn gặp lại, lòng bâng khuâng. Giữa thảm cỏ xanh rì gần toà nhà Hoá học một thời, một cánh hạc thanh thoát cũng đang thong dong bước chậm, như một mảnh ghép nhiệm màu của ký ức.

Tôi bước chậm lại, nhìn cánh hạc điềm nhiên sải bước. Trong khoảnh khắc ấy, tâm tôi trở về với lời thơ Thầy Tuệ Sỹ, ngân nga như tiếng chuông thuở nào:

“Như cò trắng giữa đồng xanh bất tận,
Ta yêu người vì khoảnh khắc chiêm bao.” (Một Thoáng Chiêm Bao)

Và rồi, một mảnh mộng mơ xa xăm lại vọng về:

“Anh ôm giấc mộng đi hoang,
Biết đâu mà kiếm trăng ngàn cho em.” (Giấc mơ Trường Sơn)

UC Davis — vùng đất của tuổi trẻ, giờ đây như một cánh đồng ký ức. Hàng cây, con đường, tòa nhà thấp cao vẫn ở đó, lặng lẽ thở cùng đất trời. Chỉ có mọi vật đều đổi thay theo năm tháng.

Nhưng bóng hạc hôm nay, trong giây phút này, chính là lời nhắc nhở: sự hiện hữu, dù mong manh, cũng đã đủ trọn vẹn. Chỉ cần một hơi thở chánh niệm, tâm hồn thanh tao đầy ắp bình an.

Và con lại nhớ Thầy.

"Chuyện đã kể rồi hồng hoang lững thững
Vẫy tay chào nối gót chẳng buồn trông" (Ngồi Giữa Bãi Tha Ma)

Chemistry Hall, UC Davis
September 27th, 2025

Bạch Xuân Phẻ

Friday, January 5, 2024

Chính Giáo Phân Ly - Separation of Church and State

Thầy Tuệ Sỹ ở Nhật - ảnh  BCT chia sẻ

Lời dẫn:
Có lần hầu chuyện cùng Thầy khi còn sinh tiền, HT. Thích Tuệ Sỹ nhấn mạnh sự khác biện giữa GHPGVNTN và GHPGVN cũng như sự cần thiết của PGVN phải là “Chính giáo phân ly” / “Separation of Church and State”! Hãy tìm hiểu thêm câu trả lời của AI như sau.

What is the "separation of church and state" all about, and what makes it so beautiful?

ChatGPT
The "separation of church and state" is a fundamental principle that underscores the importance of keeping religious institutions separate from governmental institutions. While the phrase itself does not appear in the U.S. Constitution, it has been widely interpreted as a key component of the First Amendment, which states, "Congress shall make no law respecting an establishment of religion, or prohibiting the free exercise thereof." The beauty of the separation of church and state lies in several key aspects:

Religious Freedom: The principle ensures that individuals have the freedom to practice their religion without interference or coercion from the government. This freedom extends to all religions and allows people to follow their own beliefs or choose not to follow any religion at all.

Prevention of Religious Tyranny: Separating church and state helps prevent the establishment of a state-sponsored religion and the potential for religious tyranny. It guards against the use of governmental power to impose specific religious beliefs on the entire population, protecting the rights of individuals to practice their chosen faith or no faith at all.

Equality and Inclusivity: The separation of church and state promotes equality by treating individuals of all religious backgrounds equally before the law. It ensures that no particular religious group receives special privileges or faces discrimination based on their beliefs, fostering a more inclusive and tolerant society.

Secular Governance: The principle encourages a form of governance based on secular and rational considerations rather than religious doctrine. This ensures that laws and policies are developed for the common good and are not driven by the tenets of any specific religion. It helps maintain a government that represents the diverse interests of a pluralistic society.

Prevention of Religious Conflict: By keeping religious matters separate from political affairs, the principle contributes to social harmony by minimizing the potential for religious conflicts. It allows people with different religious beliefs to coexist peacefully, as the government does not take sides or endorse specific religious viewpoints.

Preservation of Democracy: The separation of church and state is closely tied to the preservation of democratic values. It helps establish a political system where elected officials make decisions based on the needs and preferences of the people, rather than being swayed by religious considerations that may not be universally shared.

In summary, the beauty of the separation of church and state lies in its protection of religious freedom, prevention of religious tyranny, promotion of equality and inclusivity, encouragement of secular governance, prevention of religious conflicts, and preservation of democratic values. It creates a framework that respects individual beliefs while fostering a society where diverse religious perspectives can coexist harmoniously.

Ý nghĩa của sự "Chính Giáo Phân Ly - Separation of Church and State"  là gì và điều gì làm cho nó trở nên hấp dẫn đến vậy?

Trò chuyện với GPT (từ Google dịch)

Một nguyên tắc cơ bản, "Chính Giáo Phân Ly - Separation of Church and State" / Sự tách biệt giữa tôn giáo và nhà nước", nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tách các tổ chức tôn giáo ra khỏi các tổ chức chính phủ. Mặc dù cụm từ này không có trong Hiến pháp Hoa Kỳ, nhưng nó được coi là một phần quan trọng của Tu chính án thứ nhất, nói: "Quốc hội sẽ không đưa ra luật nào tôn trọng việc thành lập tôn giáo hoặc cấm tự do thực hiện tôn giáo." Một số yếu tố chính tạo nên sự khác biệt giữa nhà thờ và nhà nước:

Tự do tôn giáo: Nguyên tắc đảm bảo rằng mọi người có quyền tự do thực hành tôn giáo của họ mà không bị chính phủ ảnh hưởng hoặc buộc họ làm điều đó. Quyền tự do này áp dụng cho tất cả các tôn giáo, cho phép mọi người theo tín ngưỡng của riêng mình hoặc chọn không theo bất kỳ tôn giáo nào cả.

Ngăn chặn sự chuyên chế tôn giáo: Việc tách biệt nhà thờ và nhà nước giúp ngăn chặn việc thành lập một tôn giáo được bảo trợ bởi nhà nước và khả năng xảy ra sự chuyên chế tôn giáo. Nó bảo vệ chống lại việc sử dụng quyền lực của chính phủ để áp đặt niềm tin tôn giáo cụ thể lên mọi người, bảo vệ quyền của mọi người theo đúng đức tin của họ hoặc không theo đuổi bất kỳ đức tin nào.

Bình đẳng và Hòa nhập: Sự tách biệt giữa nhà thờ và chính phủ thúc đẩy sự bình đẳng bằng cách đối xử bình đẳng trước pháp luật với mọi người thuộc mọi tôn giáo. Nó thúc đẩy sự khoan dung và hòa nhập trong xã hội bằng cách đảm bảo rằng không có nhóm tôn giáo nào nhận được đặc quyền hoặc phải đối mặt với sự phân biệt đối xử dựa trên niềm tin của họ.

Quản trị thế tục: Nguyên tắc này khuyến khích quản trị dựa trên hợp lý và thế tục hơn là học thuyết tôn giáo. Điều này đảm bảo rằng chính sách và luật pháp được tạo ra vì lợi ích chung chứ không phụ thuộc vào các nguyên tắc của tôn giáo nào. Nó hỗ trợ việc duy trì một chính phủ đại diện cho sự đa dạng của xã hội đa nguyên.

Ngăn ngừa xung đột tôn giáo: Nguyên tắc này giúp tạo ra sự hòa hợp xã hội bằng cách tách biệt các vấn đề tôn giáo khỏi các vấn đề chính trị. Điều này giảm thiểu khả năng xảy ra xung đột tôn giáo. Vì chính phủ không đứng về phía nào hoặc tán thành các quan điểm tôn giáo cụ thể, nó cho phép những người có niềm tin tôn giáo khác nhau cùng tồn tại hòa bình.

Bảo tồn Dân chủ: Việc duy trì các giá trị dân chủ phụ thuộc vào việc duy trì sự khác biệt giữa chính phủ và giáo hội. Nó giúp thiết lập một hệ thống chính trị nơi các quan chức được bầu đưa ra quyết định dựa trên nhu cầu của người dân thay vì bị ảnh hưởng bởi những cân nhắc tôn giáo có thể không phù hợp.

Tóm lại, lợi ích của sự tách biệt giữa nhà thờ và nhà nước là nó bảo vệ tự do tôn giáo, ngăn chặn sự chuyên chế tôn giáo, khuyến khích bình đẳng và bao gồm, ngăn chặn xung đột tôn giáo và khuyến khích quản lý thế tục. Nó tạo ra một khuôn khổ tôn trọng niềm tin cá nhân đồng thời thúc đẩy một xã hội nơi các quan điểm tôn giáo khác nhau có thể hợp tác.

Sunday, November 26, 2023

5 Bài thơ song ngữ của Thầy Tuệ Sỹ - Translated by Phe Bach

 

Ảnh: Tâm Nhiên

MỘT THOÁNG CHIÊM BAO


Người mắt biếc ngây thơ ngày hội lớn
Khóe môi cười nắng quái cũng gầy hao
Như cò trắng giữa đồng xanh bất tận
Ta yêu người vì khoảnh khắc chiêm bao.
(Rừng Vạn Giã 1976)


FLEETING GLIMPSE OF A DREAM

Your deep, innocent eyes on that day of gala
And your graceful, smiling lips dim the dazzling rays of the sun
Incarnating the virginal heron in the midst of the endless verdant prairie
In the fleeting glimpse of a dream, I’m in love with thee.
(Vạn Giã Forest, 1976)


QUÁN TRỌ CỦA NGÀN SAO

Mắt em quán trọ của ngàn sao
Ngọt ngất hoang sơ ánh rượu đào
Pha loãng nắng tà dâng cát bụi
Ấm lòng khách lữ bước lao đao.

Mắt huyền thăm thẳm mượt đêm nhung
Mưa hạt long lanh rọi nến hồng
Sương lạnh đưa người xanh khói biển
Bình minh quán trọ nắng rưng rưng.
Trại giam Phan Đăng Lưu,
Sài gòn 79


HOLDER OF THOUSANDS OF STARS

Your deep, innocent eyes are the holder of thousands of stars
So sweet it dissolves in the wild peach wine
Diluting in the sun’s ray, blending in the dust
It is heartwarming for travelers with tottering steps.

Those legendary eyes are deep in the dark, silky night
The glittering raindrops shine like golden candles
Cold mist escorted frontier, saddened ocean mist
In the dawn of this realm of life, the sun shed its tears.

Phan Dang Luu Prison,
Saigon 79


BÌNH MINH

Tiếng trẻ khóc ngân vang lời vĩnh cửu
Từ nguyên sơ sông máu thắm đồng xanh
Tôi là cỏ trôi theo dòng thiên cổ
Nghe lời ru nhớ mãi buổi bình minh.

Buổi vô thủy hồn tôi từ đáy mộ
Uống sương khuya tìm sinh lộ viễn trình
Khi nắng sớm hôn nồng lên nụ nhỏ
Tôi yêu ai, trời rực ánh bình minh.

Đôi cò trắng yêu nhau còn bỡ ngỡ
Sao mặt trời thù ghét tóc nàng xinh?
Tôi lên núi tìm nỗi buồn đâu đó
Sao tuổi thơ không khóc buổi bình minh?


DAWN

The sound of a crying baby resounds words of eternity
In primal times, rivers of blood bathe the green fields
I am the grass swept along the current of antiquity
Listening to the lullaby that reminds always the time of dawn.

At the un-beginning my soul arises from the depths of the grave
Imbibing the wee hours' dew in search for a long-journeyed life path
When the aurora sun places its kiss onto the budding petals
No matter whomever I love, dawn breaks out blazingly.

A pair of virginal herons in love still crestfallen
Why must the sun displace hatred to the innocent, beautiful-haired?
Up the mountain, I go find the sadness here and there
Why don’t the youth cry for the morning dawn?


TÔI VẪN ĐỢI

Tôi vẫn đợi những đêm dài khắc khoải
Màu xanh xao trong tiếng khóc ven rừng
Trong bóng tối hận thù, tha thiết mãi
Một vì sao bên khóe miệng rưng rưng.

Tôi vẫn đợi những đêm đen lặng gió
Màu đen tuyền ánh mắt tự ngàn xưa
Nhìn hun hút cho dài thêm lịch sử
Dài con sông tràn máu lệ quê cha.

Tôi vẫn đợi suốt đời quên sóng vỗ
Quên những người xuôi ngược Thái Bình Dương
Người ở lại giữa lòng tay bạo chúa
Cọng lau gầy trĩu nặng ánh tà dương .

Rồi trước mắt ngục tù thân bé bỏng
Ngón tay nào gõ nhịp xuống tường rêu
Rồi nhắm mắt ta đi vào cõi mộng
Như sương mai, như ánh chớp, mây chiều.

Sài gòn 78


I AM STILL WAITING

In the deep, long silent nights with agony, I am still waiting
The pale color, crying on the edge of the forest
In the darkness of hatred, forever earnest
A star shedding salty tears on the mouth’s corner

In the dark night with calm wind, I am still waiting
The mystical, black eyes—
the soul of eyes from the ancient past
Looking deeply for history to prolong its course
Endless rivers of blood spilled on the fatherland

In this lifetime, forgetting the wave’s crashes, I am still waiting
Forgetting those palindromic motions of the Pacific Ocean
Those who stay behind are in the hands of the tyrant
The thin reeds are heavier—the sunset ray

And immediately, the little body resides in the prison
Whose fingers are tapping into the mossed wall
Then, closing his eyes---into the realm of dreams
As morning dew, as lightning, as afternoon clouds.

Saigon 78


TỐNG BIỆT HÀNH


Một bước đường thôi nhưng núi cao
Trời ơi mây trắng đọng phương nào
Đò ngang neo bến đầy sương sớm
Cạn hết ân tình, nước lạnh sao?

Một bước đường xa, xa biển khơi
Mấy trùng sương mỏng nhuộm tơ trời
Thuyền chưa ra bến bình minh đỏ
Nhưng mấy nghìn năm tống biệt rồi

Cho hết đêm hè trông bóng ma
Tàn thu khói mộng trắng Ngân hà
Trời không ngưng gió chờ sương đọng
Nhưng mấy nghìn sau ố nhạt nhòa

Cho hết mùa thu biệt lữ hành
Rừng thu mưa máu dạt lều tranh
Ta so phấn nhụy trên màu úa
Trên phím dương cầm, hay máu xanh
(Nha Trang 1977)


A FAREWELL

Only a step on the road but the mountains are high
Oh, my Gosh! Which direction will the white clouds stall?
The ferry is moored at the dock cloaked in the morning dew
Love ceases as water becomes so cold

A step onto the far-away road, far from the immense ocean
Layers of thin clouds are dying the sky silk
The unmoored ferryboat is eyeing the red dawn
But already bade farewell thousands of years ago

To pass the summer night looking at spectral shadows
In the fading fall of smoke dreams that whiten the Milky Way
Heaven doesn’t stop the wind, waiting for the dew to curdle
But thousands of years later to become dirty and blurry

By the end of Autumn, one no longer sees signs of the traveler
Autumn forest bloody rain devastates the thatch cottage 
I play the pistil on faded color
Of the piano keyboard, or the blue color of blood.



Poem by Thích Tuệ Sỹ / Thơ Tuệ Sỹ
Translated by / Bạch X. Phẻ dịch
Edited by Professor Nguyễn Văn Thái hiệu đính