Showing posts with label Nguyên Lương. Show all posts
Showing posts with label Nguyên Lương. Show all posts

Sunday, June 28, 2015

TRANH THƠ-NHẠC Thanh An thực-hiện

Xin được trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc TRANH THƠ-NHẠC, 
 do Thanh An phối-hợp trên Trang nhà Làng Huệ

 "Tranh mang mầu sắc Quê-Hương. Nhạc Dân-Tộc đặc-sắc do các nhạc sĩ trình-tấu tuyệt-vời . Thơ rất ngắn nhưng tình lại rất  dài". NHLD
Lời dẫn:  
        Ðúng là những bài thơ ngắn  nhưng chở nặng tình người, tình đời và tình yêu. Trong suốt những vần thơ của nhiều tác gỉa ta đều thấy chung một điều là họ làm thơ không phải để phô diễn hay chuyên chở điều gì cao siêu, xa lạ. Họ chỉ muốn ta dừng chân, thở nhẹ, lắng nghe và nhìn lại cuộc đời quanh ta. Ở đây ta không chỉ đọc thơ, nghe thơ và còn được nhìn thơ nữa. Ta có cảm giác như nắm được hơi thở, chụp được ánh mắt, ru theo lời nhạc và nhiều hơn cả là tâm hồn rung lên như cành hoa lắc lay trước gió rộn ràng.
        Ðâu đây ta vẳng nghe tiếng sáo, tiếng đàn tranh quyện vào nhau những âm thanh quen thuộc từ thuở nằm nôi, nhưng cứ tưởng như đang vọng về từ cõi nào xa lơ xa lắc. Thơ, nhạc và tranh họa quê hương đã lồng vào nhau. Không cần phải khi đọc một bài thơ rồi ngồi tưởng tượng tiếng sáo diều hay nhớ đến khói lam chiều trên mái nhà tranh quê cũ. Cũng không phải giải nghĩa ra nhà thơ muốn nói về điều gì. Không khúc mắc nhưng cũng không qúa dễ dãi trong thi từ, những bài thơ ngắn, nối với nhau, như những tảng mây quyện quần, bay bay theo tiếng gió.
        Tiếng gió, tiếng lòng, hay tiếng nhạc...như tiếng ai đang gọi ta từ bên kia bờ vô thức.
         Kỷ niệm cùng với tâm tình sống mãi với thời gian trong những bài thơ có tranh và nhạc hoạ.
Ðẹp, hay và lạ lắm!
Nguyên Lương

Click here:

Thursday, April 2, 2015

Giới thiệu - Én Liệng Truông Mây của Vũ Thanh by Nguyên Lương


Kính gởi đến qúi thân hữu,
      Chương trình ra mắt tập trường thiên tiểu thuyết lịch sử của tác giả Vũ Thanh sẽ được tổ chức vào ngày 11 tháng 4 tại tư gia Nguyên Lương-Vân Các. Thư này Hoài Việt xin thông báo đến qúi vị ở xa không đến dự được. Một số ca khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Vũ Thanh sẽ được trình bày bởi anh em văn nghệ sĩ Hoài Việt trong buổi tiệc. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Lãng Du sẽ thay mặt Hoài Việt giới thiệu về tác giả, và một phần bài viết dưới đây sẽ được chính tác giả trình bày khi giới thiệu tác phẩm. 
Kính nhờ qúi nhà báo, những vị có phương tiện phát thanh, truyền hình cho đăng và phổ biến bài viết này rộng rãi để đưa tập sách gía trị đến người đọc và những thức giả quan tâm đến lịch sử nước nhà.
Nay kính, 
Thay mặt nhóm Hoài Việt
Nguyên Lương
Hân hạnh giới thiệu đến độc giả khắp nơi bộ trường thiên tiểu thuyết dã sử:

Én Liệng Truông Mây
tác giả Vũ Thanh

            Tham khảo hơn 20 tài liệu, viết ròng rã trong 20 tháng, mùa Xuân năm 2014 nhà văn, nhạc sĩ Vũ Thanh đã cho ra mắt một tuyệt tác phẩm đồ sộ Én Liệng Truông Mây gồm 4 tập, dài gần 2000 trang sách. Bốn tập Én Liệng Truông Mây đã được xuất bản mới chỉ là phần một trong bộ trường thiên tiểu thuyết lịch sử nhan đề Tây Sơn Tam Kiệt gồm ba phần: Én Liệng Truông Mây, Nhất Thống Sơn Hà, Gia Định Tam Hùng. Viết về một thời đại nhiễu nhương của một cung Vua Lê, hai phủ Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn, thời nước Ðại Việt bị chia cắt Đàng Trong, Đàng Ngoài mà trong chính sử đã có rất nhiều thiếu sót hay cố tình che dấu, thật không dễ chút nào. Vũ Thanh đã phải vất vả, lặn lội đi tìm những chi tiết lâu nay chỉ được dân gian truyền miệng hay từ những tài liệu chưa từng được đưa ra ánh sáng để hoàn thành cốt chuyện cho thật khả tín và hấp dẫn người đọc. Những huyền thoại lịch sử của hơn 30 năm từ lúc khởi nghĩa đến thống nhất đất nước của triều đại Tây Sơn oanh liệt, đã bị vua quan nhà Nguyễn Gia Long che dấu, bôi nhọ hay cố tình bóp méo, bỏ quên, nay được nhà văn Vũ Thanh viết lại và làm sáng tỏ hơn dưới hình thức của một trường thiên tiểu thuyết. Cùng một phong cách viết của những bộ truyện tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng của Trung Hoa như Hán Sở Tranh Hùng (Mộng Bình Sơn dịch) hay Thủy Hử (tác gỉa Thị Nại Am, Kim Thánh Thán dịch), tác giả đã dựa vào một số nhân vật lịch sử có thật và những biến động của thời cuộc, hư cấu thêm vào những câu chuyện theo truyền thuyết của dân gian, để đưa người đọc trở về với lịch sử hình thành xứ Ðàng Trong của Chúa Nguyễn. Tuy nhiên, Vũ Thanh đã không chỉ tiểu thuyết hoá câu chuyện lịch sử thời đó, mà bàng bạc trong 2000 trang sách, tác giả đã vẽ lại một xã hội rất linh động của thời dân tộc ta mở nước tiến vào phía Nam. Triết lý sống, phong cách, và tinh thần khai phóng của con người Ðại Việt thời chúa Nguyễn đã được phát họa rất đầy đủ cho ta thấy nhờ đâu mà dân ta đã tóm thâu hết phần phía Nam của nước Việt ngày nay từ tay người Chiêm Thành, người Miên mà không tốn một giọt máu. Và nhờ đâu mà những người Hoa gốc Minh Hương, đã đến và khai khẩn vùng Lục tỉnh trước chúng ta, đành phải chịu thuần phục làm bầy tôi và dâng đất cho chúa Nguyễn.

            Theo chính sử thì năm 1600, tướng Nguyễn Hoàng vì lo sợ ông anh rể là Trịnh Kiểm sát hại nên đã xin Vua Lê đem quân vào đóng ở Thuận Hoá, nói là tình nguyện đi làm tướng trấn biên cương giữ an ninh mặt phía Nam chống lại quân Chiêm Thành quấy nhiễu. Rời xa Thăng Long, Nguyễn Hoàng đã âm thầm xây dựng Ðàng Trong thành một thế lực độc lập, vững mạnh, từ từ mở rộng đất nước từ sông Gianh trở vào tận miền Nam với mục đích là phò nhà Lê nhưng thực chất là đối đầu với thế lực chúa Trịnh Ðàng Ngoài. Sau 50 năm đầu chia đôi đất nước, chiến tranh huynh đệ tương tàn, khốc liệt hai bên bờ sông Gianh, cuối cùng cả hai chúa Trịnh, Nguyễn đã chấp nhận đất ai người đó ở. Hơn 120 năm sống trong hòa bình, 9 đời chúa Nguyễn đã có công mở mang bờ cõi, giao tiếp buôn bán với phương Tây, tạo dựng một Ðàng Trong thịnh vượng vững vàng. Ðến đời chúa Võ Vương do nhu nhược, ham chơi, đã bị quyền thần Trương Phúc Loan lấn áp, thao túng, lũng đoạn triều đình, vơ vét của dân làm của riêng bằng sưu cao thuế nặng làm cho dân tình lầm than, ai  oán. Thuận theo lòng người, năm 1771 anh em nhà Tây Sơn nổi lên khởi nghĩa từ Qui Nhơn và 2 năm sau chiếm được thành. Năm 1774 chúa Trịnh nhân cơ hội thấy Ðàng Trong suy yếu đem quân vượt sông Gianh đánh vào Nam và chiếm được thành Phú Xuân. Quân Tây Sơn giả vờ thuần phục chúa Trịnh, dồn hết sức lực tấn công Chúa Nguyễn. Năm 1777 hai chúa Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Dương lần lượt bị Tây Sơn bắt giết. Nguyễn Ánh kế vì lên ngôi vương nhưng bị Tây Sơn đánh đuổi chạy qua trốn ở Xiêm La. Cuối cùng, năm 1786 chúa Trịnh Ðàng Ngoài cũng bị Tây Sơn tiêu diệt, chấm dức tình trạng chia đôi đất nước và thống nhất sơn hà. Tính từ khi chúa Trịnh Tráng đem quân đánh chúa Nguyễn Phúc Nguyên năm 1625, đến khi nhà Tây Sơn dẹp được cả chúa Nguyễn lẫn chúa Trịnh vừa đúng 160 năm chia cắt trong ngoài.

Tại sao Vũ Thanh phải viết Én Liệng Truông Mây

            Lịch sử loài người luôn lập lại: "nơi nào có áp bức, nơi đó có đấu tranh". Trong suốt bề dày của lịch sử Ðại Việt, bất cứ triều đại nào làm mất lòng dân là thời đó có loạn biến, khởi nghĩa. Sống trong cảnh lầm than, cơ cực lại bị hiếp đáp, bóc lột, nhũng nhiễu, nhiều sĩ phu áo vải đã tập hợp nông dân chỉ với gậy gộc, tầm vông đã dám nổi lên chống lại triều đình trung ương. Nhiều cuộc khởi nghĩa bị dẹp tan, thủ lãnh bị phanh thây, nhưng ý muốn đổi đời, cứu người, thay đổi xã hội đã hun đúc bao anh hùng lớp lớp đứng lên làm lịch sử. Thời hậu bán thế kỷ 18, ở Ðàng Trong, Quốc Phó Trương Phúc Loan và bè lũ cậy quyền áp bức phủ Chúa, hà hiếp và bóc lột dân lành là cơ hội tốt cho nông dân nổi dậy. Nhiều phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân chống triều đình Chúa Nguyễn nổ ra liên tục, trong đó tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa ở Truông Mây do Chàng Lía lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa chợt phát, vội tàn, nên trong chính sử, thời sử cũng như hậu sử không có ghi chép nhiều về cuộc binh biến này. Nhưng riêng với người dân Ðàng Trong, nhất là người dân xứ Qui Nhơn, Bình Ðịnh, nơi thủ lĩnh có tên là Chàng Lía đã hợp cùng anh em nổi dậy ở Truông Mây, Hoài Nhơn, thì câu chuyện về cuộc khởi nghĩa này vẫn được truyền tụng trong mãi mãi dân gian.

            Là người con được sinh ra từ vùng đất võ Bình Ðịnh, Vũ Thanh đã đem hết tâm huyết, tìm tòi, nghiên cứu viết lại những dữ kiện, làm rõ những bí ẩn, giải thích những khúc mắc của giai đoạn lịch sử hào hùng nơi quê hương mình. Sách sử của các triều đại thường được các sử gia viết với mục đích kể công, đánh bóng thành qủa của vua quan thời đại mình. Những gì thiếu tính tích cực thường bị các sử gia thời đó dấu nhẹm hay bóp méo. Hãy nhìn một triều đại Tây Sơn oai hùng, rạng rỡ, vững mạnh đã làm cho nước Xiêm La ở phía Nam bạt vía, tiêu  hồn, và nhà Thanh ở phía Bắc nể nang, kiêng dè mà vua tôi nhà Nguyễn Gia Long đã chỉ ghi lại trong sách sử như một bọn thảo khấu loạn thần, một đám "ngụy" không hơn không kém, thì với cuộc khởi nghĩa của Chàng Lía bị coi là bọn giặc cỏ, không cần nhắc tới, không có gì lạ. Nhà biên khảo Quách Tấn, người gốc Qui Nhơn, trong Non Nước Bình Ðịnh cũng chỉ nhắc đến câu chuyện Chàng Lía đã khởi nghĩa và thất bại trong vài trang sách, dựa vào hai câu ca dao truyền miệng trong dân gian:
"Chiều chiều én liệng truông mây
Cảm thương chú Lía bị vây trong thành"

            Với Vũ Thanh, câu chuyện Chàng Lía không phải đơn giản chỉ có thế. Muốn hiểu biết sâu xa về nguyên nhân cuộc khởi nghĩa đưa đến thành công vang dội của anh em nhà Tây Sơn bắt đầu từ năm 1771 chống lại Phú Xuân, trước hết phải biết rõ về cuộc khởi nghĩa và nguyên nhân thất bại của anh em Truông Mây trước đó vài năm. Theo tác giả, Chàng Lía và Nguyễn Nhạc ở đất Tây Sơn sinh ra cùng thời, chơi với nhau cùng những người bạn thơ ấu trong làng. Dù là bạn nhưng hai con người có hai nguồn gốc, tư tưởng, sở học, gia thế, hoài bão rất khác nhau nên kết cuộc thành, bại cũng khác nhau. Trong bộ  trường thiên tiểu thuyết lịch sử Tây Sơn Tam Kiệt, tác gỉa đã dành đến 4 tập sách dày viết về tình trạng xã hội, dân tình, thế thái và những điều kiện lịch sử chín mùi để sau này Tây Sơn dựng cờ khởi nghĩa được thành công. Nói cách khác, muốn biết nhờ đâu mà nhà Tây Sơn đã khởi nghĩa thành công thì phải biết đến nguyên nhân dẫn đến thất bại của cuộc khởi nghĩa Truông Mây.
            Vì mồ côi cha, phải cùng mẹ lưu lạc, sống trong nghèo đói, bị xã hội khinh rẻ, chà đạp nên Lía nuôi lòng thù ghét bọn nhà giàu, trọc phú và quan quyền. Lía nổi loạn cùng với anh em với một mục đích là cướp của nhà giàu chia cho dân nghèo, như một Robinhood của đất Ðại Việt. Tác giả đã phân tích cặn kẽ về tâm lý nhân vật, cá tính của những thủ lãnh, cũng như tất cả những chiến thuật, chiến lược mà Truông Mây đã sử dụng để chống lại triều đình, vốn đã suy yếu và mục rữa từ bên trong bởi bọn tham quan ô lại. Với thời cơ thuận lợi đó, Truông Mây đã nâng cao chí hướng, từ cướp của nhà giàu phát cho nhà nghèo, họ đã muốn đánh đổ cả triều đình mục nát để lập lại một xã hội mới, giúp người dân nghèo có được một cuộc sống ấm no. Nhưng những anh hùng, hiệp sĩ của Truông Mây đã thất bại. Vì theo tác giả thì: "anh hùng thì nhiều nhưng chơn chúa chỉ có một". Cho nên điều kiện xã hội tuy đã chín muồi để thay đổi nhưng nó vẫn phải cần một vì chơn chúa xuất hiện. Và theo cái động lực vô thức của lịch sử cùng sự phát triển xã hội, Nguyễn Nhạc, người anh cả của ba anh em Tây Sơn đã xuất hiện như một vì chơn chúa để tiếp nối tinh thần Truông Mây, dẫn đến Nhất Thống Sơn Hà.

Thông điệp của Vũ Thanh trong Én Liệng Truông Mây

            Mục đích của tác giả khi viết Én Liệng Truông Mây không đơn thuần chỉ để "mua vui cũng được một vài trống canh". Bàng bạc trong gần 2 ngàn trang sách Vũ Thanh nói đến thảm cảnh bôi mặt đá nhau của con dân nước Việt có thể sẽ đưa đất nước đến hoạ diệt vong. Trong 4 tập sách tác giả luôn nhắc nhớ đến tính đoàn kết, một yếu tố tối cần thiết để đất nước trường tồn và duy trì tinh thần bất khuất của dân tộc Ðại Việt.

            Ðể biện minh cho dũng khí của đám nghĩa binh Truông Mây nổi loạn, Vũ Thanh đã viết theo lời trần tình, biện minh của Chàng Lía cho công cuộc nổi dậy: "...Mọi người sinh ra đều có quyền được bình đẳng. Từ vật chất đến tinh thần. Sự nghèo khó của một vài cá nhân đơn lẻ còn có thể qui cho số mệnh, nhưng cả một tập thể to lớn nghèo khổ, chỉ có một số ít người quyền hành giàu có, thì đó là sự bất công chứ không còn là số mạng nữa. Sự bất công ấy được tạo ra bỡi một số ít kẻ đang nắm quyền hành trong tay..." (tr. 54, tập 4). Cái triết lý sống và dấn thân đó của sĩ phu, với thời đại nào cũng đúng, không chỉ riêng thời Trương Phúc Loan tiếm quyền chúa Nguyễn. Thượng bất chánh, hạ tất loạn, người dân chống lại hôn quân và sẵn sàng nổi loạn vì muốn đòi lại cái quyền được sống an lạc, thảnh thơi, không bị nhũng nhiễu, hà hiếp. Viết về những hiệp sĩ trong tập thể Truông Mây, tác giả nhấn mạnh: "...Cái đạo lý của giới anh em Truông Mây là trừ ác hành thiện, cứu khốn phò nguy, bênh vực người nghèo khó. Họ bất cần Vua hay Chúa, nếu Vua Chúa chỉ là bọn tàn bạo làm hại muôn dân như triều đình Phú Xuân và Thăng Long..." (tr. 35, tập 4). Một triều đại muốn cho dân thuận theo thì người đứng đầu phải là một minh quân, nói dân nghe, làm dân theo, và ngược lại.

            Trong câu chuyện Chàng Lía, tác giả không nhằm khai thác và lý giải tại sao người Việt chia rẽ chém giết nhau, mà đã dùng đó làm cái cớ kêu gọi người dân Nam phải đoàn kết, để cùng nhau chiến đấu chống ách thống trị phân quyền của hai phủ Chúa, có thể đưa đến họa diệt vong đến từ phương Bắc. Diệt vong không phải chỉ xảy ra khi mất chủ quyền, lãnh thổ mà đã xảy ra khi người dân quên mất văn hóa và cội nguồn của mình. Vì không biết mình là ai, cần phải làm gì để được trường tồn. Viết lại lịch sử trong thời buổi trong ngoài phân tranh, nêu những quan hệ mật thiết giữa vua quan Ðàng Trong với Thanh triều hơn là triều đình Vua Lê, Chúa Trịnh Ðàng Ngoài, tác giả đã nhắc nhở cho con dân nước Việt nhớ rằng: dầu ở Đàng Trong hay Đàng Ngoài vẫn là con dân một nước Ðại Việt, và chuyện chia cắt, phân tranh chỉ là giai đoạn.
            Trước hiểm họa lấn chiếm từ một nước lớn luôn rình rập, buộc nước nhỏ phải mở mang bờ cõi cho đủ lớn mạnh để gồng mình chống lại ngoại xâm. Người dân Việt thời ấy từ miền Bắc di cư vào miền Trung, rồi từ miền Trung vô miền Nam, khai phá mở đường, biến  những vùng đất bị hoang hóa do người Miên bỏ đi thành những cánh đồng lúa màu mỡ nuôi sống một Ðàng Trong từ sông Gianh trở vào. Một giai đoạn di dân vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc mà từng đoàn người, đa số là những tội nhân bị đày ải, những người hành khất không nhà, dân nghèo khổ không ruộng cày...theo thuyền buôn thuận gió bấc vào tận Giản Phố, Gia Ðịnh, Trấn Biên...rồi mở đường, mở cõi, đến tận mũi Cà Mau . Họ đã sống hòa thuận như anh em một nhà, chung lưng với người dân Miên, dân Chiêm và cả người Hoa đã đến miền Nam trước và cùng nhau biến những vùng đất mặn phù sa thành những cánh đồng bát ngát. Nơi vùng đất mới lập, thiếu phép tắc, kỷ cương, luật lệ, đã không thiếu những cuộc tranh giành quyền lợi đẫm máu của những nhóm người. Nhưng với tinh thần khai phóng, rộng mở và dĩ hoà vi qúy, dân di cư Ðại Việt đã hóa giải được hết những khác biệt về văn hóa, phong tục với các nhóm dân khác và tất cả đều quay về tuân phục triều đình trung ương Ðàng Trong.

            Nhìn lại lịch sử ta thấy trong cái rủi có cái may, sau suy vong tất đến thời hưng thịnh. Giả sử nếu đầu thế kỷ thứ 17 không có chuyện tướng Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên) xin vào miền Trung lánh nạn, để rồi nhân cơ hội nước Chiêm Thành tự diệt và nước Cao Miên có nội loạn thì biên giới nước Ðại Việt cùng lắm cũng chỉ tới Qui Nhơn nơi vua Lê Thánh Tông đã đánh chiếm được thành Chà Bàn năm 1471 và đưa di dân từ miền Bắc vào đây khai khẩn. Nhu cầu mở cõi vào tận miền Nam để đủ mạnh chống lại vương triều Ðàng Ngoài là công trình mở rộng đất nước vĩ đại nhất của lịch sử dân Việt. Công lao mở nước của 9 đời Chúa ở Ðàng Trong, đến đời Nguyễn Phúc Thuần (Chúa Ðịnh), đã bị ô uế. Một tên Quốc Phó Trương Phúc Loan tham quyền đã làm mất lòng dân, tạo cơ hội nổi loạn của nhóm nghĩa sĩ Truông Mây Chàng Lía để mở màn cho anh em Tây Sơn khởi nghĩa liền sau đó và thống nhất sơn hà.
 
            Chàng Lía là hình ảnh của một sĩ phu phải hành động khi quốc gia suy vong. Lía là hiện thân của người nông dân thất học, nghèo hèn, nhưng làm đúng việc mà nhân dân mong đợi nên khi đứng lên đã nói dân nghe, làm dân theo. Lía không có tham vọng làm vua, Lía chỉ muốn giúp đám dân nghèo bằng một tấm lòng hiệp nghĩa, một tình thương to lớn của một người hiệp sĩ, của một kẻ đồng bệnh tương lân. Cho nên, dù sau này Truông Mây đã có một người quân sư tài ba như Trần Lâm, cuộc khởi nghĩa cuối cùng cũng đành thất bại chỉ vì lòng thương người của vị chủ tướng Lía, khi họ vừa chiến đấu chống triều đình, vừa phải chia xẻ lương thực nuôi đám dân nghèo tụ tập đến nương nhờ, những người dân mà lẽ ra triều đình phải có bổn phận nuôi nấng họ. Truông Mây không thành công, nhưng đã cho những anh hùng thời đại ấy biết nỗi khát khao muốn vùng lên của người dân, và công việc lật đổ một bạo quyền đã mục rữa, mất lòng dân, rất cần thiết và có thể thực hiện được. Thời đại nào cũng có người tài. Ðất nước càng loạn lạc, người tài xuất hiện càng nhiều. Ðất nước thái bình, người dân sống an lành, sĩ phu ra làm quan để vỗ về và chăm lo cho bá tánh. Hình ảnh những người hiệp sĩ trong Én Liệng Truông Mây là hình ảnh của những sĩ phu thời đại, ý thức được vai trò cần phải nhập thế, đi làm cách mạng. Những sĩ phu văn võ song toàn, bên những mỹ nhân sắc đẹp nghiêng thành, thế mà họ vẫn không bị sắc dục cám dỗ, coi nhẹ tình cảm gái trai, hy sinh cuộc sống riêng tư mà mưu cầu đại cuộc.
            Với một đất nước nước nhỏ bé trong tình trạng phân tranh, những anh hùng liệt nữ thời đó đã sớm ý thức: muốn cho tổ quốc trường tồn, trước hết là phải làm sạch xã hội. Bọn tham quan là cặn bã, ung nhọt cần phải bị tiêu diệt, để chấn hưng kinh tế, giúp quốc thái dân an, mới mong có được một nội lực hùng mạnh hầu giữ vững cõi bờ. Khi lòng dân đã qui về một mối, Vua của nước Ðại Việt không còn phải qùy lụy xin làm và được ban cho chức An Nam Quốc Vương từ nước lớn ban quyền, như bố thí, mà phải là một vị Hoàng Ðế toàn quyền, oai dũng, không còn phải lệ thuộc vào ai. Từ thời lập quốc, cho đến cận sử, duy nhất chỉ có thời nhà Tây Sơn, sau khi thống nhất sơn hà đã xưng Ðế (Trung Ương Hoàng Đế Nguyễn Nhạc) mà không cần sự ưng thuận hay chấp chiếu của triều đình phương Bắc. Ðó là một thời oanh liệt vẻ vang nhất của dân tộc, người dân Ðại Việt đã ngẩng cao đầu không biết sợ ngoại bang. Muốn được như thế, không phải chỉ có người cầm quyền tài giỏi mà toàn dân phải cùng chung sức, quyết tâm và đoàn kết một lòng. Rủi thay, những thời hoàng kim như thế rất hiếm, và nếu có cũng không dài, trong lịch sử hình thành nước Ðại Việt.

Một tiểu thuyết lịch sử cần phải đọc

   Người ham mê đọc sách kiếm hiệp sẽ tìm thấy trùng trùng trong Én Liệng Truông Mây những cảnh so tài, tranh phân tuyệt kỹ, giữa những cao thủ võ lâm. Những đường roi, bài quyền, khinh công, phi tiêu ... của những hiệp sĩ nước Việt khi đụng độ với những tay anh chị cát cứ trong vùng đất mới. Trên đường thiên lý từ miền Trung vào Nam, những sĩ phu thời đó phải đấu tranh liên tục và chống chọi thường xuyên với tàn dư quân Chiêm Thành còn sót, những lãnh chúa người Hoa trong nhóm phản Thanh phục Minh lánh nạn, và tham vọng lấy lại vùng đất đã mất của người Cao Miên. Những trận đấu quyền so tài cao thấp trên khán đài, những lần tập kích bọn buôn lậu, thảo khấu, quan quyền... được tác giả, với một bút pháp tài tình, diễn tả từng chi tiết như đưa ta về thời mở cõi và như người khán giả được chứng kiến tận mắt.
            Ðơn cử một cảnh "biểu diễn" võ thuật sau đây được tác gỉa mô tả giữa một bên là tráng sĩ người Việt, một bên là cao thủ người Hoa: " ...Trần Nguyên Hảo rút thanh Ô Long Ðao ra khỏi vỏ. Một tiếng ngân trầm vang lên mang theo một luồng hơi lạnh xoáy buốt màng nhĩ. Thanh đao đen tuyền một màu từ cán đến lưỡi, trông rất nặng nhưng có vẻ không sắc bén lắm, dù thế thanh đao vẫn toát lên một sự cương mãnh uy nghi. Ông rung mạnh tay đao ra chiêu tấn công tên đại ca Lãnh Diện Truy Hồn. Tên cầm đầu thấy đường đao dũng mãnh của Nguyên Hảo vội vàng thoái lui một bước né tránh rồi vung kiếm phản công..". (tr. 18, tập 1).

            Không chỉ nói chuyện đánh kiếm so tài cao thấp đời nay, tác giả đã đưa người đọc về với qúa khứ huy hoàng xa xưa với những tài sản trí tuệ bị bỏ quên, nay nhân dịp nhắc nhớ đến lịch sử của một dân tộc Bách Việt oai hùng:
"...Kỹ thuật luyện kiếm đúc gươm của dòng Bách Việt đã đạt đến trình độ rất cao như Âu Dã Tử nước Việt, Cao Lỗ nước Âu Lạc chẳng hạn. Về sau người Hán thống trị Trung Nguyên và các nước nhỏ lân bang nên đã sở hữu luôn kho tàng trí tuệ đó. Họ đã cố xóa đi hoặc bưng bít, cấm đoán các dân tộc nhỏ nhắc nhở về cội nguồn tinh hoa trí tuệ của tổ tiên mình. Cho nên lâu dần chúng ta cứ ngỡ rằng những tài năng và tài sản qúi báu kia là của người Hán..." (tr. 60, tập 2).

            Những cảnh trai tài gái sắc cùng ngắm trăng trên sông nước hữu tình cũng được thi vị hoá làm cho câu chuyện chiến tranh thù hận và chết chóc giảm bớt đi cường độ. Khi tả cảnh chia ly giữa đôi trai tài gái sắc, Vũ Thanh đã khéo léo lồng vào đó một hình ảnh dứt khoác của anh hùng Trần Lâm quyết quên mình vì thù nhà, nợ nước và một bên là tấm lòng trung trinh dâng hiến trọn vẹn cho người mình yêu một cách âm thầm của cô tiểu thư tuyệt sắc Tiểu Hồng:
"...Trăng đã nhú lên, họ ngồi im lặng ngắm trăng, không nói thêm một lời nào nữa. Cho đến lúc mặt trăng tròn vành vạnh treo cao trên đỉnh núi, họ thả ngựa chầm chậm trở về. Hôm sau, Trần Lâm gĩa từ mọi người ra đi, Tiểu Hồng bày một cuộc rượu nhỏ tiễn đưa. Ðêm đó qua màn nước mắt, dưới ánh bạch lạp nơi cô phòng, Tiểu Hồng đã gói gọn cảnh chia li ấy bằng mấy dòng thơ:
Run tay chuốc chén đăng trình
Cõi lòng nhi nữ mông mênh giọt sầu
Người đi cố bước đi mau
Người về trắng những canh thâu nhớ người
Ðường tình nay đã chia đôi
Gặp nhau chi để ngậm ngùi mất nhau..
(tr. 328, tập 3).

            Dầu đã quyết chí lên đường dấn thân trong thời đại nhiễu nhương, những hiệp sĩ thời Truông Mây khởi nghĩa không chỉ đi tìm cái sống trong cái chết, họ vẫn ung dung với bầu rượu túi thơ, đúng nghĩa với cái thú tiêu dao thi tửu, mỗi khi có dịp. Ðọc một đoạn sau đây để xem tài Vũ Thanh tả cảnh uống rượu của một dũng sĩ qua sông và ông lão lái đò trên bến My Lăng, trên dòng sông Côn thơ mộng: "Trần Lâm nâng chung rượu lên môi, một cảm giác mát lạnh truyền qua những ngón tay, một mùi hương vừa thoảng vừa nồng bốc lên mũi thật khoan khoái. Chàng nhấm môi một chút, vị nồng nàn, lăn tăn tê nơi đầu lưỡi. Uống trọn chung hơi ấm đã theo chất rượu chạy dần xuống bao tử sau đó lan tỏa khắp châu thân. Chàng "khà" lên một tiếng và đặt chung xuống bàn..." (tr. 354, tập 3).
  
            Ðể lý giải một phần sự thất bại của nghĩa sĩ Truông Mây, tác giả mượn lời của thầy giáo Hiến, thầy dạy học cho Nguyễn Huệ, một bộ não của phong trào Tây Sơn sau này, nói với Nguyễn Nhạc như để nhắc nhở: "...Làm hiệp sĩ khác với làm chiến sĩ cách mạng. Làm chiến sĩ cách mạng thì thắng lợi là trên hết, đôi khi phải đạp lên trên mọi thứ để đi tới đích. Còn hiệp sĩ thì thấy việc nghĩa dẫu chết cũng không từ. Chính cái tinh thần ấy đã đẩy Truông Mây vào thế kẹt hiện nay là phải vừa chuẩn bị đánh giặc vừa nuôi một đàn con đông, trong khi nhà lại chật và nghèo. Họ vì lòng nghĩa hiệp mà đứng ra gánh vác miếng ăn cho hàng vạn người nghèo sắp chết đói, đây là một nghĩa cử cao đẹp, nhưng chính nghĩa cử ấy sẽ đẩy họ vào chỗ chết..." (tr.. 239, tập 4).

            Về phần của thủ lãnh Truông Mây, sau khi bị quân binh triều đình đánh bại, đồng bọn bị thảm sát, chỉ còn: "Lía cõng Trần Lâm băng mình trong đêm khuya, lòng hoảng loạn tơi bời. Mới ngày nào, thành Truông Mây còn sừng sững, rực rỡ tinh kỳ, anh em đông đủ, hào khí ngất trời mà nay chỉ sau một đêm đã tan nát, vùi chôn dưới đống tro tàn. Hơn bốn ngàn nghĩa sĩ giờ chỉ còn lại một mình chàng và Trần Lâm đang im lìm trên lưng chưa biết sống chết ra sao. Bao nhiêu hình ảnh tang thương, chết chóc, cứ quay cuồng trong đầu, những cái chết thê thảm của anh em nghĩa binh, xác của người vợ mà chàng thương yêu hết mực bị giẫm nát..." (tr. 442, tập 4).

            Chàng Lía chết, Truông Mây tan rã, nhưng đó chỉ mới là sự chấm dứt của một biến cố trong trang sử Việt để chuẩn bị mở một trang sử khác mãnh liệt hơn, oai hùng hơn. Chàng Lía mất đi đã hơn 240 năm qua, nhưng âm vang và ảnh hưởng của cuộc khởi nghĩa của những anh hùng Truông Mây, trong tâm trí người dân đất Bình Ðịnh đến nay vẫn chưa phai nhạt. Vũ Thanh đã dựng lại cho ta thấy những thảm cảnh lịch sử, những sai lầm của các triều đại, những  nỗi đớn đau và chịu đựng của người dân cùng khổ thời đó để chỉ mong một điều là thời nay con dân Việt sẽ học được bài học, để vết nhơ của lịch sử không còn tái diễn.

            Với những ai có lòng thương dân, yêu nước, hãy đọc những lời chàng hiệp sĩ Trần Lâm đã khóc và thề với vong linh người thân: "... Cha mẹ và em hãy yên lòng nhắm mắt, con sẽ dùng thanh kiếm này để tiêu diệt lũ sâu dân mọt nước, đem lại thanh bình, cơm no áo ấm cho muôn dân. Con đã vĩnh viễn mất đi gia đình nhỏ thì nhất định sẽ xây dựng cho bằng được một gia đình lớn. Ðó là quốc gia, là dân tộc này..." (tr. 12, tập 4).

            Vũ Thanh đã đem tâm huyết, trí tuệ và trải lòng mình trên những con chữ, chuyên chở tâm tình, mơ ước cũng như hoài vọng, rằng: muốn luận về tương lai ta phải biết và thuộc lịch sử của qúa khứ. Những bài học lịch sử luôn đáng gía, chỉ vì không học hết để biết, hay học rồi quên, nên nhiều lãnh tụ đã thất bại chua cay. Là người đọc, bổn phận chúng ta là tiếp tay với tác giả để phổ biến tác phẩm này càng rộng, càng nhiều, càng xa, càng tốt. Ðó là một nghĩa cử không khó lắm để làm.

            Tác giả Vũ Thanh tâm sự: "Dã sử mang tính trí tuệ giống như một lối mòn, đi nhiều, đi hoài, lối mòn đó sẽ thành quan lộ dẫn tới lịch sử". Người Tàu gần đây rất thành công khi đã hoàn thành những bộ phim hấp dẫn lôi cuốn, thu hút người xem. Họ cho dựng lại những câu chuyện lịch sử, đa số là hư cấu, tuyên truyền về một nước Trung Hoa thật vĩ đại, hào hùng để quảng bá hình ảnh một nước Trung Hoa đã lớn mạnh như thế từ mấy ngàn năm trước. Phương tiện giải trí tưởng vô thưởng vô phạt này đã giúp cho người Tàu đánh bóng hình ảnh, cùng lúc biện minh cho công việc bành trướng lãnh thổ, lấn chiếm lân bang của Bắc Kinh gần đây như là việc phải làm của một nước lớn mạnh trong vùng đối với những nước nhỏ yếu kém như thời xa xưa đã làm. Qua phương tiện truyền thông, và bị ảnh hưởng bởi phim ảnh, đa số người Việt vô tình đã hiểu lịch sử Tàu còn rõ hơn lịch sử nước nhà. Đó là nỗi đau nhược tiểu! Cho nên  những đóng góp của tác giả Vũ Thanh trong tác phẩm Én Liệng Truông Mây đã thổi một luồng gió mới vào nền văn học dã sử nước nhà, giúp đẩy lùi ảnh hưởng văn hóa mang tính truyền bá ngoại lai.

 Dân Việt phải thuộc sử Việt nếu không muốn bị vong bản, mất gốc, đưa đến mất nước.

Ðó là cũng là những hành động vì đại cuộc, quốc gia, và dân tộc này vậy.

Nguyên Lương
Horsham, tháng 4, 2015

Monday, July 7, 2014

NGỌN GIÓ TỪ LƯƠNG


NGỌN GIÓ TỪ LƯƠNG       
           Mừng anh 60 tuổi

Năm mười tuổi theo cha xuống ruộng
Ra đồng cày một nắng hai sương
Đất nước nghèo gia cảnh xót thương
Trưa nắng gắt còng lưng nhổ cỏ

Rơi nước mắt, tuổi thân, chợt tỏ
Và ước mơ học hoá giúp đời
Rồi vượt biển, học hành tới nơi
Làm khoa học kiêm luôn giám đốc

Người thành nhân, sống đầy phúc lộc
Giúp nhà nông có một không hai
Óc sáng tạo, chế Thifluzamide
Loài sâu độc cũng đều mai một

Vừa diệt cỏ, bón phân lúa tốt
Hơn ba mươi đặc quyền (patents) chế tạo
Tuổi năm mươi lấp lánh vì sao
Nay sáu mươi nhiệt huyết thuở nào

Luôn cống hiến bằng tim và óc
Làm đẹp vườn, thơ, phê bình văn học
Từ Lương người lọc lõi nhân tâm
Sống và yêu Vân Các trong ngần

Đời hư ảo Từ Lương ngược gió!


Monday, May 12, 2014

Tâm Tình Của Một Người Con

Book cover is designed by Uyên Nguyên

THAY LỜI BẠT
Tâm Tình Của Một Người Con

Hai chúng tôi sinh ta từ hai vùng quê nghèo khổ nhất của Quận Tuy Phước, Tỉnh Bình Định, miền Trung. Phẻ lớn lên ở vùng biển, cực Đông, xã Phước Lý. Tôi sinh ra ở vùng núi, cực Tây, xã Phước Thành. Tuổi hai chúng tôi cách nhau gần 2 con giáp, lưu lạc và tình cờ gặp nhau ở xứ người. Cả hai đều có những điểm chung: theo đạo Phật, học khoa học, thích thơ văn thi phú, thích giao du với bằng hữu, và nhất là rất quan tâm đến tình hình và nên giáo dục ở quê nhà. Phẻ làm nghề giáo, cái nghề mà tôi đã chọn nhưng không theo được từ những năm còn ở Việt Nam. Tôi làm việc nghiên cứu khoa học. May mắn nhờ có nhiều cơ hội ở xứ người, cả hai được đi trọn con đường học vấn, thì giờ rảnh chúng tôi nói chuyện thơ văn. Phẻ viết rất khỏe, viết văn, làm thơ, nghị luận cả tiếng Việt, tiếng Anh. Tôi thì lười hơn, chỉ thích đọc thơ văn bằng hữu. Đấy là lý do tôi xin phép Phẻ để được viết những lời tâm tình này cho tuyển tâp Tưởng Niệm và Tri Ân, với một mục đích duy nhất: tôi muốn khen em một lời.

Tôi không khen em ở văn tài, vì trong toàn tuyển tập, không thấy bóng dáng của những câu chữ bóng bẩy, sử dụng những điển tích khó hiểu hay nói bóng gió để đánh đố người đọc. Phẻ lại càng cố gắng không viết theo đúng một thể loại nào, thích gì viết nấy, nghĩ sao viết vậy, viết như hơi thở, như bước đi, như đang tâm tình, như đang kể chuyện. Phẻ kể chuyện nhà, chuyện nước. Em quan tâm đến những người tù lương tâm, những người dân cùng khổ, những cảnh sai trái bất công, tương lai mịt mù bao trùm thế hệ trẻ quê nhà, và trong văn phong đậm chất thật thà, không trau chuốt đấy, Phẻ đã làm cho người đọc rơi nước mắt. Phẻ viết không phải để khoe, hay để che. Em bộc bạch viết như để thay cho lời nói.

Tôi cũng không khen em ở cách hư cấu câu chuyện để mua vui, vì em kể chuyện thật, câu chuyện nhà, những câu chuyện lần đầu em đưa lên trang sách cho mọi người xem: gia đình em là thế đấy, con người em là thế đấy, bạn bè em là thế đấy... tất cả là một tấm lòng giải bày thật trong sáng mà không cần đánh bóng.

Em không là nhà văn, lại không là một thi sĩ. Viết với em là kể chuyện bằng con chữ, gởi gắm những tâm tình cô đọng, trong sâu thẳm Phẻ muốn nói, nhưng không nói được bằng lời, hay ghi lại những lời nói ấy để cho người ở xa không nghe mà biết, không nhìn mà thấy, không chứng kiến mà hiểu hết, vì em không dấu điều gì.

Qua tuyển tập Tưởng Niệm và Tri Ân này, tôi muốn khen em: Em đã làm đúng bổn phận của một người con: con của đất nước, con của gia đình và con của Nhà Phật. Em đã đóng trọn vai người sĩ phu thời đại qua tâm tình và mơ ước. Bút thay cho đao kiếm, câu văn thay cho súng đạn, em kêu gọi bao dung lượng thứ, em đòi công lý bình đẳng cho mọi người. Em muốn dùng lời dạy của Phật Tổ để cảm hóa con người, con người đang đắm chìm trong bể khổ của tham, sân, si và ngụp lặn trong thế giới ta bà, hỗn mang đầy tội lỗi. Với lý tưởng thanh cao, trong sáng, Phẻ luôn tìm những giải pháp đẹp nhất cho mọi tình huống, mọi vấn đề. Vấn đề nào, khó khăn mấy, nếu ta có lòng, có tâm, có tài là đều có thể giải quyết được hết một cách tốt đẹp.

Phẻ trân qúi tình bằng hữu, những cái duyên gặp gỡ ngoài đời hay trong thơ văn. Phẻ đến với mọi người bằng tấm lòng bao dung, rộng mở. Luôn tìm tòi, khám phá để trau dồi học hỏi cho dù em đã là một thầy giáo giỏi. Em vẫn tiếp tục học cho dù việc học ở trường đã đi đến đích. Học với Phẻ không phải chỉ để biết cái mới mà học để bổ túc cho cái cũ, để nhìn thấu vào chân trời xa dù chân trời mọi ngày ta vẫn nhìn thấy. Học để nhìn người, để thấy mình rõ hơn. Học, chỉ vì Phẻ ham học, ham đọc, vì đời là ngôi trường không bao giờ đóng cữa, thế thôi!

Chân trời ấy tưởng đã khép lại khi cậu bé ham học năm 12 tuổi không được cắp sách đến trường phổ thông cơ sở địa phương. Rồi may mắn đến với gia đình, năm 15 tuổi, Phẻ cùng gia đình được đến vùng đất tự do, và con chim đã vỗ cánh đại bàng, tung bay, bay vút lên cao. Nếu năm ấy không được ra đi, không biết giờ này nơi vùng biển nghèo khó đó, người thanh niên 38 tuổi đang làm gì nhỉ? Chắc ngày qua ngày, nhìn những cánh buồm lướt sóng, những chiếc ghe máy đánh cá ngược xuôi, Phẻ có nằm mơ cũng không dám nghĩ đến giảng đường đại học, những trung tâm nghiên cứu... ở bên kia bờ Thái Bình Dương, vùng đất hứa cho những người có chí, chịu khó, đem hết nổ lực, lợi dụng hết những cơ hội để đi đến đích và được thành danh. Phẻ dành hết những thành qủa đó cho gia đình, cho công ơn của Mẹ, Cha, của gia đình vợ và người đàn bà đã sát cánh bên cạnh qua bao khó nhọc để em đạt được những mơ ước đời người.

Trong tuyển tập, người đọc sẽ thấy bàng bạt trong đó là chắc lọc những tâm tình đậm sâu mà tác gỉa dành cho người thân thuộc của mình. Trong hơn 150 trang sách, mỗi trang chứa không biết bao nhiêu lời thấm đẫm tình yêu thương, ơn sâu, nghĩa nặng. Viết như gợi nhớ cho  chính mình, không cho phép mình quên, cho bằng hữu hiểu con người mình, và gởi lại cho hai đứa con trai biết về cội nguồn, người thân, quê hương và bằng  hữu. Qua những câu văn, câu thơ ta dễ dàng nhận thấy Phẻ là một người con có hiếu, một người chồng có nghĩa, một người cha có tình, và hơn hết là một công dân có trách nhiệm. Với đất nước cưu mang mình, Phẻ dành những lời tri ân cao cả và nguyện đem hết sở tài làm sở dụng để đóng góp phần mình. Với đất nước nơi sinh ra, Phẻ luôn trăn trở suy tư về hiện tại bất trắc và tương lai mờ mịt.  Phẻ đau nỗi đau của hàng triệu người Việt tha phương, ngày ngày mỏi mắt trông về trời Tây nơi có hàng triệu người dân cùng khổ, cố ngoi lên nhưng đã mất hết hy vọng ở ngày mai. Phẻ nghĩ đến những em học sinh nơi quê nhà, cũng như mình năm xưa, không được cắp sách đến trường.

Viết để trước là để Tưởng Niệm, sau là Tri Ân, và như để đánh dấu một cột mốc trong đời mình. Năm nay ông Nghè Phẻ vừa hoàn thành xong học vị cao qúi nhất, cũng là năm kỷ niệm "10 năm yêu em" với người bạn đời. Nhân dịp này, vợ chồng Anh Chị chúc Chú Em tiếp tục đi đến đích con đường đã vạch, cùng với vợ và hai con. Những lời tâm tình trên đây coi như món qùa tinh thần Anh dành tặng cho Phẻ, một người bạn, một người Em, một thân hữu và hơn hết là người đồng hương Bình Định. Trước khi ngừng ở đây anh xin được gởi tặng Em mấy câu thơ anh đã viết trong bài "Con Đường Các Anh Về"  trong cuốn bút ký "Con Đường Trước Mặt" xuất bản 20 năm về trước:

"... Đêm Huế buồn cỏ cây ngậm ngùi, thổn thức
Chiều Qui Nhơn biển gợi sóng ai về
Anh bước đi, đi lại con đường quê
Cứ đi mãi sẽ có ngày anh đến đích..."

Thân qúi,

Nguyên Lương

Horsham, PA, ngày 30 tháng 4 năm 2014