Showing posts with label Tưởng Niệm. Show all posts
Showing posts with label Tưởng Niệm. Show all posts

Tuesday, May 12, 2020

Giáo Sư Trần Ngọc Ninh: Tưởng Nhớ Một Người Thầy Trong Đạo, Tỳ Kheo Thích Minh Châu

Giáo sư Trần Ngọc Ninh, Thạc-sĩ* Y-khoa Đại-học Pháp,
nguyên Giáo-sư Văn-minh Đại-cương và Văn-hoá Việt-Nam
tại Đại-học Vạn-Hạnh (Sài Gòn), nguyên Tổng-trưởng Văn-hoá Xã-hội
và Đặc-trách Giáo-dục trong Chính-phủ VNCH;
nguyên Viện Trưởng Viện Việt-Học (California), 3/2003-2/2008.
_____________________________

Tôi được biết tin Tì Kheo Thích Minh Châu đã viên tịch ở Việt Nam ngày 1 tháng 9 năm 2012, thọ 93 tuổi.
Tin báo đến không trực tiếp hay qua dây nói, mà từ hai người báo tin mà tôi coi như em trong lòng, đã không muốn làm rộn tôi những tháng năm mai danh ẩn tích cuối đời. Nhưng trong thực tế, cái nghiệp dạy học của tôi không dứt được. Tôi ngưng sự giảng dạy y khoa và bỏ nước, bỏ tất cả cái sự nghiệp nghiên cứu và truyền thụ y học vô tận khi được lệnh phải hạ thấp cái học và cái biết của các y sĩ tương lai xuống mức độ bệnh kiết-lị, bệnh sán lãi (mà người ta gọi là y tế nhân dân). Tôi rũ bỏ hết, chỉ đội một cái nón lá trên đầu mà xuống thuyền vì tôi nghĩ rằng nếu tôi đi tu thì phải tới được Chánh Đẳng Chánh Giác dầu có phải qua vạn kiếp khổ, nhưng bảo rằng ngừng thì không, không và không. Sự biết lỏng là đầu mối của rất nhiều khổ đau.
Lúc ấy, tôi chỉ mới tu được có mười năm.
Mười năm trước là cái duyên gặp gỡ của tôi với Thượng Tọa Minh Châu.
Trước đó nữa, tôi chỉ được nghe nói rằng Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam ở chùa Ấn Quang, đường Sư Vạn Hạnh, Sài Gòn nơi mà anh tôi Trần Ngọc Lập, bút danh Trần Việt Sơn, có được mời tới giảng dạy, về pháp gì trong Đạo Phật tôi cũng không biết; rằng ở trường có hai vị Thượng Tọa đã đậu Tiến Sĩ Phật Học ở tu viện Nalanda Ấn Độlúc ấy đang là giáo sư. Một trong hai vị này và là người đầu tiên trong thời nay đã đi chiêm báitu học và thỉnh kinh từ Thiên-Trúc về Việt Nam, là Thượng Tọa Minh Châu.
Đạo Phật đã sinh ra ở Ấn Độchính thức là do Đức Cồ Đàm (Gotama) mà ta tôn thờ là Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni (Sakya Muni) nhưng ngài chỉ xưng danh là Tathagatha Đức Như Lai, là “Đã Đến“. Ngài là Đã Đến, là Như Lai, trước hết là vì trước Ngài, đã có hằng ha sa số Phật, mỗi Phật đã chỉ xuất hiện trong một chớp mắt ở một hạt bụi của vũ trụ (như trái đất), ở đó sự sống đã làm thành những sinh vật gọi chung là “Con Người” đã đạt được những khả năng đi vào đường Đạo mà thoát khỏi cái khổ phải bám vào những cơ cấu của vật chất để tưởng rằng mình có một cái “Tôi“, một bản thể, một Être, một Sein, một Being, một không-tưởng vô thườngĐức Phật gọi “Cõi người ta” là cõi Ta-Bà (Samsara) nó chỉ chứa sự sống cho tới khi nào mặt trời hết nguyên liệu để cho nổ liên tục những trái bom nhiệt hạch (Therma-nuclear bombs). Ở những Thế-giới khác, những Lokadhatu mà Ni I.B.Horner dịch là hệ thiên hà (galactic system) chứ không phải là hệ định tinh như hệ mặt trời (solar system), có thể trong một kiếp (kappa), một a tăng kì kiếp (asankheyya) một đại kiếp (Mahakaffa), tính bằng triệu, tỉ hay nghìn tỉ năm mặt trời của cõi Ta-bà, may mắn lắm thì có một Đấng Toàn Giác xuất hiện thành Phật và dạy người đời để bước vào Chánh-Đạo. Kinh Buddavamsa (Phật-Phả) nói rằng trong khoảng bảy vô lượng kiếp này đã có Đức Difankara (Nhiên Đăng) là Đức Phật thứ bốn; ngài đã thụ kí cho một thầy tu kín tên đời là Sumedha (Thiên Huệ) đã rời lều cỏ bay đến xỏa tóc và nằm phục dưới chân Phật để cầu có thể đốt cháy được hết các chấp kiến không cho mình ngộ được Bồ đề Toàn-giác.
Qua đi một trăm ngàn kiếp và vô lượng kiếp với hai mươi ba đời Phật, Đức Sumedha đã thành một Bồ-Tát (Bodhisatta) có tên đời là Narada và đã từ cõi trời Đâu-Xuất Tusita xuống cõi trần đầu thai làm người với cái tên là Gotama, thành đạođạt được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (Anuttara Samyaksambodhi, A-nậu-đa-la Tam-miệu (muội) Tam bồ đề). Nhưng Bồ Tát vẫn giữ nguyên cái thân phận con ngườibố thí tất cả cuộc đời còn lại của mình để dạy những ai muốn theo; hằng năm đi chân không từ Bắc Ấn xuống Nam Ấn rồi lại ngược lên trước mùa mưa gió, vào sâu trong các làng để khuyến giáo và khất thực trước khi ngồi thiền và giảng giáo lí cho các Tì Kheo và Tì Kheo Ni (nữ đệ tử) của Sangha (Tăng-già, Giáo Hội) mà ngài đã cho phép lập nên.
Đức Phật còn tự xưng là Như Lai; đã đến với các môn đồ vì một lí do nữa; là vì có những người đưa ra những nghi vấn về gốc nguồn, về thập thế, về sự tử sinh của Ngài, Phật là người hay là Pháp và có còn hay là mất khi thân hình đã tịch diệt? Như Lai đã đến thực và ngồi đó, nói đó, không phải hỏi đến cái đã qua và cái chưa tới trong cái Thời vô thủy vô chung không bao giờ hết Giáo Pháp. Thời của Phật Giáo là cái vô hình tướng do các sát-na (Ksama) nối tiếp nhau, có từ trước vụ Nổ Bùng lớn “Big Bang”, nên không gọi được là “thời gian” vì không có giới hạn như “không gian” (space) của vũ trụ hay “thế gian” (world) của người đời.
Tôi được gặp Thượng Tọa Thích Minh Châu lần đầu là trong một buổi lễ rất ngắn tại Bộ Quốc Gia Giáo Dục, đường Lê Thánh Tôn vào năm 1967. Tôi ghi lại theo cái trí nhớ đã đứt khúc trong tuổi già của tôi. Thượng Toạ, mặt tròn như trăng rằm, mình mặc một tấm áo cà sa vải vàng, đại diện cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Tôi đại diện cho Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa trong tư cách Tổng-Ủy-Viên Văn Hóa Xã Hội kiêm Ủy Viên Giáo Dục, cùng với Ông Ngô Trọng Anh, Ủy Viên Công Chánh của Chính Phủ. Chúng tôi kí cái hợp đồng cho Giáo Hội thuê cái cơ sở mới xây bởi Bộ Công Chánh trong một thời hạn là 99 năm có thể tiếp diễn, với cái giá tượng trưng là một đồng bạc. Cái Hợp đồng hôm ấy là bản khai sinh của viện và trường Đại Học Vạn Hạnh.
Thượng Tọa cho tôi biết là trường Vạn Hạnh đầu tiên sẽ chỉ có hai phân khoa, là Phật Học mà Khoa-Trưởng là do chính Thượng Tọa giữ trọng trách, và khoa kinh tế xã hội hay khoa học nhân văn, sẽ nhờ Giáo-sư Tôn Thất Thiện làm khoa trưởng. Những bước đầu sẽ rất là khó khăn, tôi đồng ý nhưng không dám có một lời đóng góp. Tuy đã có học về các Đại Học Âu-Châu từ thời Phục Hưng qua cách mệnh Pháp về những biến động của thời nay, lại đã trải qua công cuộc canh cải nền Giáo Dục Đại Học Y Khoa VN từ 1954 đến 1965. Khi chuyển từ ảnh hưởng Pháp trước Thế Chiến II sang Pháp luân của Hoa Kì sau Thế Chiến. Về tinh thần, triết lí, giáo pháp của Phật-giáo thì thực sự là khi ấy tôi mù tịt. Vả lại, lúc đó, tôi cũng còn đang điên đầu về sự xây dựng lại cái hạ tầng cơ sở của nền Giáo dục Quốc Gia và việc nâng cao sự học trong nước để có thể cộng tác và cạnh tranh (hai mặt song song) với Quốc tế. Công việc ở bệnh viện và ở trường Y Khoa Sài Gòn tôi cũng không thể rời bỏ được nhưng nhờ có sự giúp đỡ của các Bác sĩ cộng tác viên lại có thêm GS. P. Petit, một thầy cũ của tôi, từ Paris sang dạy đỡ, nên tôi chỉ về bệnh viện những ngày chủ nhật khi Bộ Giáo Dục đóng cửa.
Nhưng ba tháng sau khi rút ra khỏi được Bộ Giáo Dục và Tổng Bộ Văn Hóa Xã Hội, thì một buổi sáng nọ có người cầm một bức thư của Thượng Tọa Viện Trưởng Đại Học Vạn Hạnh đến, mời tôi lại viện, có việc muốn tham khảo. Ông muốn tôi làm một giáo sư của viện. Môn gì, ông bảo để tùy tôi chọn. Nhưng tôi chưa từng đọc một câu kinh, nghe một câu kệ và cũng không bao giờ tự mình vào trong cái chùa nào để lạy (lễ) Phật. Mà từ chối mãi không tiện, tôi đành phải nhận một giờ mỗi tuần với một đề tài mà tôi nghĩ rằng sẽ nói tự tâm vì không có sách, là “Khoa học với tôn giáo”, nhưng tôi sẽ chỉ nói về “Tôn giáo trước khoa học”. Nói cách khác, đây là vấn đề “Đạo Lí của khoa học”.
Chuyện dạy học của tôi ở Đại Học Vạn Hạnh là một Đại Học Phật Giáo còn có lắm chuyện éo le hay là oái ăm nữa. Tôi không sợ sự tùy tâm và không có sách, là vì từ tuổi nhỏ cho đến khi lớn, cha mẹ và các thầy không dạy mình cái gì thất đức; lúc đã thành người học y-khoa, lại thấy tận mắt sự tàn ác của những con người học lầm hay hiểu lầm những học thuyết và những khoa học văn minh, thì đã biết, tự biết. Mà “biết” là /bodh/ diễn thuật từ Sanskrit (Phạm Ngữ), căn của danh từ Buddha. Sự biết này không ở trong sách, không ở ngoài tâm. Khoa học của loài người đã lên cao lắm nhưng khoa học mà không có tâm là sự tàn phá của tinh thần.
Sau một năm dạy về khoa học và tôn giáo, tôi dạy về tôn giáo sơ khai và tôn giáo tiền sử, tức là một chương lớn của khoa học tôn giáo. Rồi tôi bị bệnh nặng, liệt giường gần hai tháng. Lúc hồi phục, phải dùng sách và viết bài, tôi dạy lịch sử Văn Minh (của loài người) rồi dạy Lịch Sử Văn Hóa Việt Nam khi tôi học về Ngữ-lí Việt-Ngữ (Linguistique Vietnamienne). Chẳng có một mảy may là Đạo Phật. Vì khi ấy tôi đã bước vào Đường mà Đức Phật đã chỉ để tới Mặt Trăng. Và vượt Mặt Trăng.
Tì Kheo Thích Minh Châu là người đã đẩy tôi lên con đường mà từ đó tôi không ra khỏi.
Hai tháng trước ngày Phật Đảnthượng tọa Viện Trưởng tìm tôi và thỉnh tôi diễn giảng về cốt tủy của Đạo Phật tại Đại Giảng Đường của Viện. Tôi được giải thích rằng đây là lễ Vesak, không phải là ngày Phật Đản sinh, mà là gồm ba ngày một gần nhau là ngày đản sinh, ngày thành đạo và ngày nhập Bát-Niết-Bàn ngày quan trọng nhất của Đạo.
Càng quan trọng thì lại càng không đến cái thứ tôi. Bao nhiêu người giỏi trong viện cũng như ngoài viện, tại sao không thỉnh lại gọi đến một anh mù kinh. Tôi không biết gì cả, cái vỏ không có, biết gì đến cái lõi mà nói. Thượng tọa bảo tôi vào thư viện của trường, có khi Phật độ, thấy được chăng.
Nói đến thư viện thì tôi động lòng hiếu kì, muốn thấy tận mắt xem thư viện có được bao nhiêu quyển, so với tứ thưngũ kinh của khổng mạnh và Nho-gia thì được mấy phần, còn đọ với thư viện Vatican thì chẳng cần nói cũng biết rằng chỉ là lửa đom đóm bên cạnh mặt trời. Tôi tìm đường vào thư viện, cửa mở không khóa. Ở trong, là một cái phòng lớn, đèn thắp sáng ngày đêm ở góc có một cái bàn nhỏ, có một cô dáng người mảnh mai, mình bận áo ni cô xám, đang ngồi đọc hay dịch kinh. Tôi bước lại, tự giới thiệu, và cô nói “Dạ, thưa tôi biết. Giáo sư cần gì, tôi là Trí Hải, thủ thư của thư viện.”
Tôi học ở Pháp và đã đến những thư viện lớn nhất của nhiều nước, ở nhiều tỉnh và biết rằng thủ thư của một thư viện thường là một học giả am tường rất nhiều điều trong các sách của thư viện. Tôi hỏi cô Trí Hải ở đâu tôi có thể tìm được những lời dạy quan trọng nhất trong Giáo pháp của Đức Phật mà không bị người đời sau trích dẫn hay dịch thuật sai đi. Cô Trí Hải cho tôi biết rằng Thượng Tọa Viện Trưởng đang dịch Kinh-tạng Pali, đã xong hai quyển đầu là Trường bộ kinh (Majjihima-Nikaya), và thư viện còn có những bản dịch Anh-văn, Đức-văn, Pháp-văn và nhiều ngôn ngữ khác (Hoa, Nhật, Hàn, Nga…) tôi là giáo sư thì có thể mượn sách về nhà để nghiên cứu, cô nói là “tụng niệm”. Đột nhiên tôi nghĩ rằng trong một Giáo-lí thì không có một điểm nhỏ nào không hệ trọng, nhưng có một điểm nhỏ trọng đại nhất là điều cuối cùng mà Đức Phật nói ra với các môn đồ trước lúc Người rời cõi trần. Tôi hỏi cô Trí Hải có biết Kinh hay Sách nào nói về những ngày tận cùng của Đức Phật không, thì cô nói ngay “Kinh Đại Bát-Niết-Bàn viết rất rõ“, và cô lấy ra cho tôi cuối Trường Bộ Kinh đầu với bản dịch Anh-văn và bản dịch Pháp-văn, để tôi đem về và đối chiếu.
Tôi tìm thấy rằng Đức Phật đã bảo các học trò “Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác.” Và Ngài còn nói thêm “Trong năm trăm Tỷ-kheo này, Tỷ-kheo thấp nhứt cũng đã chứng minh được quả Dự lưu, không còn đọa lạcchắc chắn sẽ hướng đến Chánh giác (Sambodhi)”.
Thực là những lời khuyến khích và an ủi mạnh mẽ và tươi mát nhất của Đấng Đại Từ Đại Bi cho tất cả các môn đồ đang buồn rầu và lo lắng vì bậc Đạo-sư tối cao sắp vĩnh viễn lìa trần mà bản thân mỗi người thì còn đang ngụp lặn trong bể khổ không bờ. Tôi lúc đó, nhìn khắp nước Việt Nam, chỉ thấy những người quê mùa vô tội đang bị lột trần để quay trên lửa đỏ, nhìn ra ngoài thế giới cũng chỉ thấy những người lo lắng và bất lực trước sự đe dọa của một cuộc chiến tận thế. Còn chính mình thì mới chỉ được một giọt nước rớt xuống từ một cành dương liễu mảnh mai. Những câu nói trên mà tôi thấy trong kinh Đại Bát Niết Bàn của Trường Bộ Kinh, tôi mới chỉ hiểu một cách mập mờ và dịch ra tiếng ta đời nay, đại khái là “Tâm Trí của mỗi người, một khi đã được mở ra với Chánh Pháp, thì đã là một với Chánh Pháp, và là ngọn đèn chỉ con đường sáng, cứ vững lòng, tất cả mọi người đề sẽ tới nơi.”
Thượng Tọa Viện Trưởng ngồi nghe tôi nói không thốt một câu. Nhưng rồi năm sau đến ngày Phật Đản, tôi lại có một lời yêu cầu nữa. Tôi đăng đàn và nói về Bát Chánh Đạocon đường tu tám lằn song song mà tôi ví với cỗ xe tám ngựa, nhưng cả tám con ngựa ấy đề chỉ là ta: Nhìn thế nào, phóng thế nào, chạy thế nào, cân bằng thế nào, thở thế nào, thu thân thế nào, chú tâm thế nào, quyết chí thế nào, phải theo đúng lời dạy. Thượng Tọa tiễn chân tôi chỉ nói rằng ít ai dám giảng Bát Chánh Đạo. Tôi nói rằng rôi chỉ mới học mà thôi.
Nhưng năm sau, cái đầu đề còn khó hơn nữa. Thượng Tọa muốn tôi nói về triết lí Cổ Ấn trong thời Đức Phật.
Buổi đầu tôi nói chuyện ở Viện Đại Học Vạn Hạnh, có chừng ba bốn chục người đến nghe, tất cả đều lễ phép, không ai bỏ ngang về. Buổi thứ nhì, được năm sáu mươi, với vài vị sư áo vàng. Buổi thứ ba, nói về triết học Cố Ấn tôi rợn tóc gáy vì Đại Giảng Đường chật ních vào khoảng bảy trăm người, với một đề tài rất khô khan khắc khổ mà tôi làm thành một giáo trình cẩn trọng để cho chính tôi.
Thượng Tọa Viện Trưởng kiên nhẫn ngồi nghe với các thính giả và phê bình rằng bải giảng của tôi giống như một bài giảng của một vị thầy của Đại Học Nalanda, nơi Thượng Tọa học. Điều này không có gì lạ cả, là vì tuy các sách triết Ấn của GS. Dan Guita và của triết gia Rhadakrisnan chỉ nói rất sơ sài về tư tưởng Ấn thời Đức Phật, nhưng kinh Brahmajala, dịch là Phạm Võng, là cái lưới trời mà chính Đức Phật nói cho Tăng già, đã nói hết cả. Triết học trói buộc con người vào sự khổ đau vĩnh cữu.
Bài diễn giảng cuối cùng cho ngày Vesak của tôi tại Đại Học Vạn Hạnh là về “Tư Tưởng Xã Hội của Đức Phật“. Khi nhận đề tài này, tôi ngơ ngẩn vì chưa hề nghe thấy một người nào hay đọc được trong một cuốn sách nào của Anh, Pháp, Đức, Ý, Nga về Đức Phật xã hội. Nhưng tôi được biết rằng sau khi đã bị tất các Đạo lớn từ chối, Tiến Sĩ Ambedkar đã được Phật-giáo, mới trở lại Ấn-độ, cho phép làm một buổi lễ lớn nhận một triệu người cùng đinh bị ruồng bỏ được quy y Phật, và chính ông cũng bỏ đạo cũ để thờ Đức Phật. Rằng Phó-thủ-tướng Anh và Chủ tịch Đảng Xã hội là Atla, sau khi đi dự Đại Hội của Đảng Xã Hội Miến (Myanmar, tức Burma), đã tuyên bố rằng có một đảng xã hội Á Châu đặt chủ thuyết trên lòng từ bi của Đức Phật và bỏ thuyết tranh đấu giai cấp, rằng chính sách kinh tế của Canada nói rằng chủ trương trung-đạo theo Giáo-pháp (Dharma) của Đức Thích Ca Mâu Ni. Thế nhưng để diễn giảng về tư tưởng Xã Hội của Đức Phật thì là một chuyện khác. Tôi lại về nhà và mỗi tối đọc cho hết năm bộ của Kinh-tạng để nhặt ra những lời dạy của Phật Tổ về những chế độ và tập quán trong xã hội Bà La Môn Giáo. Và tôi sáng mắt lên những ý tưởng tân tiến của Đấng Chánh Đẳng Chánh Giác hơn hai ngàn sáu trăm năm trước.
Bài giảng của tôi năm ấy đã được GS. Trần Văn Từ dịch ra Anh văn, rồi lại được Bà Celia Barclay, một nữ sĩ Anh dịch lại rồi lưu truyền trong Đạo Quaker là một Giáo phái Thiên Chúa Giáo rất uy tín ở Anh Quốc. Tôi cũng dùng bài này làm nền móng cho một cuốn sách nhỏ của tôi, tựa đề là “Đức Phật Giữa Chúng Ta.” Tôi nghĩ rằng thế giới hiện đại có thể được sáng hơn (enlightened) nếu được nghe lại những lời Phật dạy.
Trong những năm này, ngày đêm tôi học Phật và Đức Như Lai vẫn Như Lai với tôi ngoài những lúc tôi phải hành cái nghiệp trong y học và y khoa của tôi. Tôi không được học với Thầy Minh Châu một giờ một khắc nào, nhưng Thầy đã là người tiếp dẫn tôi đến chân Đức Phật, chỉ có năm bước đường và theo đúng lời dạy tối hậu của Người, “Tự mình là ngọn đèn cho chính mình, dùng Chánh Pháp làm chỗ nương tựa.”
Nhưng những ước mong của tôi chỉ là vọng ảo. Hiệp định Paris là kế hoạch chót để làm vỡ Thế giới Đỏ và gây một chiến cuộc mới giữa răng và môi, đồng thời lại thoát thân ra khỏi một vũng lầy chưa bao giờ bị.
Tôi còn gặp lại vị Thầy cũ trong Đạo khi phải ở lại vì những xiềng xích của định mệnh. Năm 1977, Đại Học Vạn Hạnh đã bị giải thể, một buổi sáng chủ nhật tôi đang ngồi đọc truyện giải buồn thì Thầy Minh Châu được chở đến nhà tôi trên một chiếc Honda. Thầy kể rằng Thầy đã về ở Thiền Viện Vạn Hạnh tại Phú Nhuận, mỗi ngày thức giấc từ 5 giờ sáng, xuống vườn đi vòng quanh chừng một tiếng đồng hồ rồi trở về tắm gội, ngồi thiền, xong thì ngồi dịch Kinh cho đến tối. Việc dịch Kinh đã thuần thục lắm, chữ nghĩa đã thông thuộc, nhiều khi đọc một câu tiếng Phạn (Pali-ngữ) thì tay đã viết ngay câu tiếng Việt.
Thầy đã dịch xong thêm một quyển Tiểu-Bộ-Kinh (Samyutta Nikaya) và muốn tôi đến giới thiệu tập kinh mới với các Phật TửLúc ấyhằng ngày tôi phải đối đầu với những người của chế độ mới để bảo vệ sự học của các sinh viên y khoa và giữ gìn sự an ninh của các bệnh nhân của Bệnh Viện nên từ chối và nhắc Thầy rằng Viện Đại Học còn có những giáo sư lớn như Cụ Nguyễn Đăng Thục và GS Vũ Văn Mẫu, xin Thầy thỉnh các vị. Tuần sau, Thầy Minh Châu lại đến cùng với Thầy Hộ-Giác, cho tôi biết rằng Ủy ban Nhân-dân Thành-phố sẽ đến dự buổi ra mắt Bộ Kinh, và hai giáo sư Nguyễn và Vũ đều không đến, nên nhất định tôi phải có mặt.
Tôi đã đến và giảng về Trung Đạo, cái Đạo Giữa của Đức Phật, từ chối những Đường cực đoan. Sau bài giảng, tôi về thẳng nhà và hai tháng sau, bỏ lại hết mọi phiền trọc, cắt đứt mọi kiết sử, vượt biển tới Cù Lao (Pulau) Besar để chờ ngày đầu thai ở một cõi sống khác. Thầy Minh Châu vẫn gửi các Kinh sách của Thầy viết và Kinh-Tạng dịch từ Pali, bản luận án Tiến Sĩ vể Trung Bộ-Kinh, cuốn tóm lược A-Tì-Đạt Ma (Abhidhamma), cuốn Tiểu sử Huyền Trang, cuốn Đốt Đuốc Lên Mà Đi… sách nào tôi cũng đọc hết, nhập tâm và quên đi.
Tôi tiếp tục đi trên con Đường đã dài hơn hai ngàn sáu trăm năm của Phật Pháp. Không còn Thầy, tôi vào Trung-Luận với Long Thọ (Nagarjuna), vào Duy Thức với Vô Trước (Asanga) và Thế Thân (Vasubandhu), vào Thiền Hoa-Nhật và Mật Tông, không quên các vị ngoại đạo là Lão tửTrang Tử, Patanjali, Sankara như Thượng Tọa Minh Châu đã muốn tôi làm, và luôn luôn thắp sáng ngọn đuốc tâm mà Đức Phật đã nhóm lên cho mỗi môn đồ khi ngài nhập Đại Bát Niết Bàn.
TRẦN NGỌC NINH, 9/2012
(Trích Tập “Thành Kính Tưởng Niệm Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Minh Châu (1918-2012)
______________________________________________
Ghi chú (*): Trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam, học vị “Thạc sĩ” là một học vị chuyên môn trên Tiến sĩ, dành cho những Tiến sĩ muốn làm giáo sư đại học (tiếng Phápprofesseurs agrégés des universités).

Monday, February 24, 2020

BẢN BI-HÙNG

Chân Dung Đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ (1928-2020)

BẢN BI-HÙNG
Kính tiễn Giác Linh Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ 


Ngài bậc xuất trần thượng sĩ
Vị Cao Tăng Thạc Đức của Phật Giáo Việt Nam, 
Bao từ bi trước ma chướng hung tàn
Đem trí tuệ diệt sân, si, tham, chấp
Ngài đơn độc dù thời gian phủ lấp
Đem tình thương chuyển hóa vô minh
Đem Kinh Luật Luận gieo rắc cho chúng sinh
Mang chí lớn của bậc xuất trần thượng sĩ
Bồ Tát Hạnh, Ngài ung dung Thoát Vòng Tục Lụy 
Đem Đại thừa tư tưởng dấn thân.
Cho quê hương, dân tộc và đạo pháp nhiệm mầu
Sư tử hống vang xa uy dũng
Ngài dõng dạc đòi quyền tự do sinh hoạt 
của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất 
Nay nhục thân đã trở về lòng đất
Đại Bi Tâm vẫn lưu lại ngàn đời!

Thầy đi cánh hạc ngang trời
Thong dong tự tại qua đồi tử sinh.



Nhất Tâm đảnh lễ kính tiễn Giác linh Đại Lão Hòa Thượng
trước Quảng sau Độ thùy từ chứng giám.


Monday, December 16, 2019

Lục bát cho bình minh mưa

In Memory of Htr. Nguyên Thảo - Collection Playlist


Thay lời tựa: Có những nỗi buồn/đau, riêng và chung. Bạn ơi, thôi thì, hãy dựa vào Phật pháp mà vươn lên vậy.

Lục bát cho bình minh mưa

Xin tâm một chút an bình
thảnh thơi xanh cỏ
mộ xinh em nằm
dưới đồi
nhịp đập trăm năm
chuông chùa vẳng - lặng
người thăm đã về
nỗi đau trần thế,
cơn mê
âm thầm, mỏi bước sơn khê
một mình
mỗi ngày-đêm, vọng tiếng kinh
mỗi giây, mỗi phút
nối tình âm dương
giọt rơi,
một nén tâm hương
lên mắt môi ấm
ướt vườn xuân qua
hạ về
nước mắt phôi pha
muối khô dòng lệ
mặn mà sắc duyên
chỉ là mưa phải không em?
hay là nước mắt cho miền nhân gian

Nguyễn Sung
13.July.2019

Saturday, November 30, 2019

Ngô Mạnh Thu, người lái đò trên Dòng Sông Trăng

Ngô Mạnh Thu, người lái đò trên Dòng Sông Trăng

Uyên Nguyên 

NGO MANH THU 1
Dòng Sông Trăng
Nhạc sĩ: Ngô Mạnh Thu
Trình bày: Thanh Lan
Trích từ Album Nhớ Vu Lan
Trình chơi Âm thanh

Còn đây lễ lạc con người
Vườn hoa gác cũ lệ đời đã xa
(Trịnh Công Sơn)
1969230_777713242275355_849148166270715314_n1.
Vạn pháp vô thường, nên danh chẳng thật có. Thân phận con người nổi trôi bọt bèo, hợp tan, biến hiện theo dòng sinh diệt, diệt sinh… Mỗi ngày qua, tôi cảm nghiệm sâu sắc hơn điều này và nhiều thêm nữa từ sự đột biến ngã quỵ, và đột ngột qua đời của người Anh thương quý Tâm Hòa Ngô Mạnh Thu.
Chỉ trong một khoảnh khắc thời gian thật ngắn ngủi, bằng sự ra đi của chính mình, người nhạc sĩ Ngô Mạnh Thu đã làm thành một tác phẩm lớn, một bản Thiền Ca, Đạo Ca và Tình Ca Quê Hương bằng những ca từ “sắc không vô hình tướng”, mà vẫn “thơm ngát ý nguyện cầu”… Tác phẩm như tia chớp sáng lòe xẹt ngang trên đỉnh phận con người, bất chợt, bắt mình phải dừng lại giây lát để một lần tự hỏi với chính mình: “là hư hay ảo?”.
Và trong thời khắc vỡ bùng tính giác ấy, biết đâu tất cả chúng ta sẽ có cơ hội tung mình trườn tới, vượt qua mọi trật tự tù ngục hạn hữu của không gian và thời gian, nghĩa là đúng vào cái lúc tia sáng lòe Ngô Mạnh Thu như ngọn thiền trượng vung cao rồi bất thần quật xuống, đánh dội thật mạnh làm đau điếng tận cùng tâm thức đang đóng đầy bụi mờ, thì cũng là lúc ta còn kịp nhận ra, rằng, mình cũng đang mang một “cõi hình phù du”, thì có cần hỏi thêm chi về chuyện “hư hay ảo”
2.
Từng ngày qua, là những ngày đã mất, điều mà tôi đã cảm nhận kia lại thêm phần thấm đậm qua câu chuyện do anh Tâm Trí Nguyễn Quang Vui kể lại chung quanh cái Pháp danh TÂM HÒA ở một buổi chiều tại ngôi nhà vốn từ lâu đã chẳng còn có ai là chủ, và ai là khách, bởi chủ nhân của nó – Anh Thu – là người thích quanh năm bầu bạn…
Hơn 40 năm trước, sau ngày di cư, hai Anh Thu và Vui đã có cơ duyên quen biết nhau khi theo học trường Nhạc tại Sài Gòn. Thuở ấy cuộc sống hai người thanh niên trai trẻ như đã hòa thành một thể, nhờ Anh Thu có một Bà Mẹ nhất mực thương đám trẻ con bơ vơ “cơm hàng cháo chợ” như thương chính con ruột của mình, để lúc nào cũng san sẻ hòa chung cho chúng một bát cơm đầy, một vóc rau xanh, một đĩa đậu rán trong mọi lúc đói lẫn khi no… Tuổi trẻ các anh lớn dậy hồn nhiên, sung mãn, ấp đầy nhiệt huyết hòa điệu với nhau trong một Tình Thương của Mẹ. Mà chắc cũng nhờ như vậy nên Anh Thu đã sẵn mang một giòng máu đậm tình nhân nghĩa, một tâm hồn hòa ái khi sải bước vào đời giữa lúc quê hương ngập tràn khói lửa chiến chinh, để cất tiếng gọi mời tình thương đồng loại, xóa dấu hận thù đang bao trùm khắp nơi nơi: “Dìu nhau cho nhau nhận rõ lòng nhau… Dìu nhau đưa nhau chạy trốn khổ đau… Dìu nhau qua cơn lo sợ… Xin dìu nhau bằng đôi mắt bao dung cười, và dìu nhau tìm qua hướng chói chang mặt trời. Xin dìu nhau qua khổ đau, xin dìu nhau trong dài lâu…”
Anh Vui đã gia nhập Gia đình Phật tử sớm hơn Anh Thu, vì thấy nhu cầu văn nghệ đang cần thêm người phụ trách, nên đã rủ Anh Thu cùng tham gia, nhưng bấy giờ Anh Thu chỉ nhận phần hướng dẫn văn nghệ cho gia đình làm chính.
NGO MANH THU 2Huynh trưởng Tâm Hòa Ngô Mạnh Thu (hàng ngồi, thứ hai từ trái) – Ảnh tư liệu gia đình
Dần dà vì nhu cầu thăng tiến bản thân và đoàn thể, để trở thành Huynh trưởng chính thức của Gia đình Phật tử thì một trong các yếu tố phải có mà tất cả đoàn viên cần làm là quy y Tam Bảo, như vậy mới thực thụ là Phật tử sống trong khuôn pháp giới đã quy nguyện. Cho nên vì thế mà anh Vui một lần nữa đã nài ép Anh Thu “phải quy y để có Pháp Danh, mới có thể trở thành Huynh Trưởng”. Và nhân khi có đợt quy y do Thầy Tâm Giác chủ trì, anh thúc giục Anh Thu, nhưng lúc này tuy còn rất là trẻ, Anh Thu đã tâm sự: “thật tu thì tự bản thân tu tập được rồi, đâu nhất thiết phải có pháp danh…”.Nhưng rồi anh Vui nằn nỉ mãi, tự động làm luôn giấy xin quy y cho Anh Thu. Và khi Thầy Tâm Giác thiết lễ ghi Phái, đã có lời nhận xét: “… vì thấy cái nét hòa ái, hiền từ thể hiện ngay trong mọi cung cách hành xử và khuôn mặt của anh, nên đặt Pháp danh là TÂM HÒA…”
Vậy là cái pháp danh TÂM HÒA đã có từ lúc đó, mà suốt cả cuộc đời của Anh Thu về sau này luôn thể hiện không một mảy may sai lệch. Trong mọi tình huống cuộc đời, Phật tử Ngô Mạnh Thu đã “lừng lững mà đi” giữa dòng thác lũ oan khiên của mọi thời thế diễn bày muôn trùng sự sai biệt bất đồng…
3.
Anaheim, buổi tối nơi con phố tình thâm, từ gian nhà nhỏ nhìn ra sân trước, hàng cây cọ tựa hồ đang “đứng lặng trầm tư” ngóng đợi một bóng hình thân quen từ đây sẽ không còn dịp quầy lại. Ánh đèn vàng hắt hiu từ một góc tường phả ra không đủ làm sáng hết căn phòng nhỏ, nhưng vẫn đủ làm nên một sự ấm cúng đang là điều rất cần thiết cho gia đình, và cả cho chúng tôi ở vào cái khoảnh khắc nặng nhọc đang tập nhẫn chịu một sự thay đổi đột ngột và lớn lao, sự ra đi vĩnh viễn của Anh Tâm Hòa Ngô Mạnh Thu.
Nhìn sâu trong đôi mắt của người đang kể chuyện – anh Tâm Trí Quang Vui – có điều gì như sóng xô từ một cõi trùng khơi kéo vào tận bãi sâu, quấn quít, lôi kéo nhau tạo thành âm ba của bản tình ca dạt dào, bãi bờ lưu luyến, rồi cũng có lúc phải cuốn rút xa xôi, trở ra miền vô tận. Câu chuyện có lúc như ánh lửa bập bùng giữa đêm sâu, có lúc như lửa… rưng rưng khóc!!!
Lửa thắp lên soi rạng ba nghìn phương thế giới “trầm lời biển dâu”, lửa khơi nguồn từ một thuở vang vang bản Trường Ca do Anh Thu sáng tác, anh Vui đã có phần góp công tổng phổ và phân phổ…
NGO MANH THU 5Trưởng Ngô Mạnh Thu chúc mừng Thọ 70 của Trưởng Tâm Chánh Phạm Thị Hoài Chân,
nay là Sư Cô Tịnh Ngọc (Ảnh tư liệu)
4.
Anaheim, tháng ngày in hằn nỗi nhớ… nơi chốn ngày xưa tôi hồ mơ nghe như quyện giữa mùi hương thoang thoảng tỏa ra từ bát nhang trên bàn thờ Phật, vang vang có tiếng dép lẹp xẹp, và bóng dáng Anh Thu hiện rõ sau mảng tường vôi trắng với nụ cười hân hoan như thể lúc nào cũng sẵn lòng chờ bạn đến chơi, rồi tiếng róc rách mỗi khi Anh nâng ấm rót trà thơm ra tách:
Mời nhau một chung trà thơm
Thơm từ tâm, thơm lừng hương Đạo
Thơm nghĩa bầu bạn, thơm tình anh em
Dòng sông Trăng sáng êm êmTâm Hòa vụt nở bên thềm Lăng Nghiêm…(Uyên Nguyên)
Bộ đồ nhật bình màu lam nhạt, hay nâu sòng là điều đã vĩnh viễn ghi khắc đậm sâu trong cõi ức tôi hình ảnh hiền hòa và chân chất thể hiện trong từng động tác của Anh, và cũng từ cái cung cách bình dị trong đời sống thường nhật ấy, tôi cảm nhận dung chất hài HÒA thoát ra từ TÂM Anh dẫu “sắc không vô hình tướng”, vậy mà đã đủ sức tỏa vào cái thế giới ba nghìn phương “trầm lời biển dâu” một sự bình yên “thơm ngát ý nguyện cầu”.
Mời nhau, ta mời nhau
Chung trà thơm, thơm lừng hương Đạo
Thơm tình Anh, thơm nghĩa ân sâu
Dòng Sông Trăng sáng bấy lâu
Quày Kim Cang đổ bên cầu nhân sinh.
(Uyên Nguyên)
Mỗi ngày qua, là những ngày đã mất, biết tìm đâu giữa không khí ngột ngạt của địa cầu lao ngục một chút tự do đích thực, “như con chim trong lồng thèm bầu trời bên kia màn lưới, như con én trong chậu mơ sống lại biển rộng sông dài. Là con người trên trái đất, ai không yêu tự do… Tự do ơi…”…
Hôm nay, Anh Ngô Mạnh Thu đã vươn cánh bay về miền tự do đích thực, và ở đó tiếng vỗ cánh vẫn đồng vọng âm ba một bản tình ca Quê hương thiết tha, báo hiệu sự bắt đầu của một vụ mùa thanh bình: “tôi đã thấy từ đồng hoang lúa ngô đã xanh tốt trổ bông. Tôi đã thấy từ bờ tre tiếng ai cười nói vang trên ruộng đồng. Tôi đã thấy từ dòng sông tiếng mái chèo khua nước thật đông. Tôi đã thấy người nhìn nhau… Tôi đã thấy từng bàn tay run run mừng đón nhau trên đường về… Tôi đã thấy ngọn triều lên xóa tan đi dấu nhăn trên cát mềm… Tôi đã thấy đường sạch trơn đưa tôi về tháng năm dịu hiền…”…
5.
Anaheim, những ngày tháng không quên, tôi ngồi đây bên cạnh người bạn già của Anh Thu – Tâm Trí Nguyễn Quang Vui – để nghe Lửa, “Lửa lên! Lửa lên! Lửa ơi… Lửa mang nguồn sống vô biên về… Lửa lên!… Lửa ơi!…”.Lửa tỏa bùng, Lửa thâm trầm, Lửa hòa nhập trong cung điệu người kể và thấm biến vào lòng người nghe… Lửa rưng rưng khóc!!!
Thì ra, lúc sống cho đến ngày ra đi, bản thân của người Huynh trưởng khả kính Tâm Hòa Ngô Mạnh Thu đã là một bản trường ca bất tuyệt, như chính là ngọn lửa kia một thời cháy bỏng, chan hòa, nhập vào hồn người. Lửa phát tỏa nghìn tia ấm cho cõi đời thôi băng giá… Rồi mai, sẽ còn nguyên vẹn đây một ngọn lửa sáng rực, như ánh đuốc soi đường cho bao thế hệ các em của Anh tiếp bước, như lời nguyện Anh đã nhắn nhủ: “Chúng con xin nguyện theo bước Thầy, như ngày nào tim hồng Quảng Đức, đã nêu cao nguồn đạo Từ Bi, bao nhiêu năm nay còn sáng soi. Chúng con xin nguyện theo bước Thầy, Tâm Bồ Đề vẫn hằng kiên cố, quyết hy sinh vì đạo Từ Bi, đem yêu thương xóa mờ oán thù… Trong tăm tối Hương Sen tỏa ngát, trong u sầu Hoan hỷ tràn dâng, trong nguy khó nêu cao Đại Dũng, không phân vân không chút ngập ngừng…”…
Giờ đây, trong mọi thế cách khác nhau, mỗi chúng ta với tình thương và lòng trọng nể Anh Tâm Hòa Ngô Mạnh Thu, đã dành tặng cho anh nhiều cái tên, nhiều tước vị, và một vị trí… Đứng trước hoàn cảnh đó, bao giờ và vẫn bao giờ, với Anh Tâm Hòa Ngô Mạnh Thu, cũng chỉ có một lời nói tưởng chừng rất bâng quơ: “Thì cứ để đó”, bởi Anh Thu muôn đời vẫn là Anh Thu chứ không thể là ai khác biệt. Anh Thu không nhận tên, và cũng không nhận mọi tước vị, dù điều đó rất xứng đáng. Nhưng cũng không có nghĩa là Anh hờ hững với mọi tấm lòng thương kính trông cậy nơi Anh… nên Anh chỉ nhận việc, để một đời miệt mài với cái công việc rất bình thường của NGƯỜI LÁI ĐÒ TRÊN DÒNG SÔNG TRĂNG
6.
Anh Thu ơi,
Hôm nay ngày tiễn Anh, em hồ mơ thấy một Dòng Sông năm cũ, một ánh Trăng xưa vằng vặc đêm sâu đã chan hòa với Lửa, và người lái đò Ngô Mạnh Thu đã khua mái chèo xuôi về Giác Ngạn. Anh với Sông, với Trăng, với Lửa đã hóa thành một, còn lại em nơi này nâng chung trà kính tiễn:
Mời Anh chung trà cuối
Ngày tiễn nhau về đâu?
Hương lừng thơm chín suối
Chén cạn một mùa vui
Dòng Sông Trăng ngày đó
Sông với trăng đâu còn
Người lái đò xa khuất
Một vòng Không Như Không
(Uyên Nguyên)
Thương tiếc tiễn Anh Ngô Mạnh Thu, Pháp danh TÂM HÒA…
Mùa Vu Lan Phật lịch 2548
Garden Grove, California, USA.
25 tháng 8 năm 2004
  • Ca khúc Dòng Sông Trăng, phổ thơ Tuệ Nga