Showing posts with label Tưởng Niệm. Show all posts
Showing posts with label Tưởng Niệm. Show all posts

Thursday, August 27, 2026

TƯỞNG NHỚ THẦY CHỦ NHIỆM TRƯỜNG PHỔ THÔNG CƠ SỞ XÃ NHƠN LÝ: NGUYỄN HỮU HẠNH



 

TƯỞNG NHỚ THẦY CHỦ NHIỆM TRƯỜNG PHỔ THÔNG CƠ SỞ XÃ NHƠN LÝ: NGUYỄN HỮU HẠNH

Thầy đã ra đi rồi sao?! Tin đến thật bất ngờ. Vừa xong buổi họp của Khối Giảng Huấn Trại Huấn Luyện Huyền Trang VI, tôi lướt qua điện thoại và đọc được tin nhắn của bạn học Đinh Văn Toàn: “Thông báo với các bạn: Thầy Hạnh — Thầy chủ nhiệm kính mến của chúng ta — đã mất! Thật là một mất mát rất lớn đối với chúng ta…”

Tôi lặng người. Và gần như ngay lập tức, ký ức đưa tôi trở về lần cuối cùng được gặp Thầy, vào những ngày trước Tết Nguyên Đán năm Bính Ngọ.

Hôm ấy cũng là một hữu duyên vì hẹn hò thăm các bạn học ở quán Cafe trong làng, và rồi có hỏi thăm về Thầy, bạn Huỳnh Thị Tuyết rất linh hoạt và gọi chồng, anh Mười, chở đi Quy Nhơn thăm Thầy, và  đến bạn gọi thêm một đám bạn nữa, thế là chúng tôi cùng xuống nhà Thầy thăm. Một cuộc hội ngộ khá ngẫu hứng, chẳng ai nghĩ rằng rồi đây lại trở thành một kỷ niệm quý giá đến thế.

Thầy vui lắm. Lúc đó, có hai vợ chồng bạn Tuyết, Toàn, Liên, Bắc, Ngà, Tranh, Thuỷ, Liên, Bé, Lệ, v.v… và vợ chồng chúng tôi. Thầy mang những tấm hình cũ ra, chậm rãi nhìn rồi chỉ từng khuôn mặt: đứa này ngày xưa thế này, đứa kia ngày ấy thế nọ… Những câu chuyện tưởng đã nằm yên mấy chục năm bỗng sống lại trong tiếng cười rộn rã của Thầy trò. Chúng tôi ngồi quanh Thầy, chụp với nhau vài tấm hình để “làm kỷ niệm”.

Lúc ấy, ai cũng chỉ nghĩ đơn giản rằng có thêm một tấm ảnh để nhớ về một ngày vui. Nào ngờ hôm nay, khi nghe tin Thầy mất, những tấm hình ấy bỗng trở thành một miền ký ức. Và tôi chợt hiểu: có những cuộc gặp ta cứ ngỡ rất bình thường, đến khi ngoảnh lại mới biết đó là lần cuối.

Nhìn lại hình ảnh những đứa học trò năm xưa quây quần bên Thầy, lòng bỗng nghẹn lại. Bao nhiêu năm đã trôi qua, mỗi người một phương trời, một cuộc đời; ai cũng đã có gia đình, công việc, những lo toan riêng, và mái tóc cũng bắt đầu mang dấu vết của thời gian. Vậy mà hôm ấy, khi ngồi bên Thầy, chúng tôi dường như lại trở thành những cô cậu học trò nhỏ bé của trường PTCS Xã Nhơn Lý thuở nào. Ngôi trường làng đơn sơ, xóm chài xứ Nẫu, nơi có gió mát, trăng thanh, nắng và cát ấy đã giữ hộ chúng tôi biết bao kỷ niệm của một thời mới lớn bên Trường Bồ Đề, Bãi Bấc, Bãi Nồm, Eo Gió...

Hôm thăm Thầy, không còn bảng đen, phấn trắng; không còn tiếng trống trường giục giã mỗi sớm mai. Chỉ còn căn nhà ấm áp của Thầy Cô, chén trà, mứt kẹo ngày Tết, chút bánh trái quê nhà và những câu chuyện cũ nối nhau trở về. Thầy ngồi đó, giữa những học trò của mình, vẫn bình dị và hiền hòa như ngày nào. Chúng tôi quây quần chung quanh Thầy, nói cười ríu rít, như thể mấy mươi năm xa cách chỉ vừa trôi qua trong một cái chớp mắt.

Có lẽ một trong những niềm vui đẹp nhất của đời người thầy không hẳn là học trò mình thành đạt đến đâu, mà là sau bao nhiêu năm tháng, những đứa học trò ấy vẫn nhớ đường về thăm Thầy, vẫn ngồi lại bên nhau và vẫn gọi tiếng “Thầy” bằng tất cả lòng kính thương.

Và tôi càng trân quý khi biết sau mỗi dịp Tết, các bạn, nhất là Tuyết, Thuỷ, Bắc và Ngà, vẫn cố gắng gìn giữ nghĩa tình ấy, thay mặt bạn bè về thăm và mừng tuổi Thầy. Một cử chỉ đẹp, sự trở về, sự có mặt và tấm lòng của học trò có lẽ chính là món quà xuân ấm áp nhất dành cho người thầy đã bước vào tuổi xế chiều. Riêng tôi, người học trò năm xưa rồi cũng có duyên trở thành một người thầy, càng đi lâu trên con đường giáo dục càng hiểu thêm công lao của những người thầy đã đi trước. Đứng trên bục giảng nhiều năm, tôi mới hiểu rằng có những điều người thầy trao cho học trò không thể nào đo bằng điểm số hay bằng những bài học trong sách vở. Đó có thể chỉ là một lời khuyên, một ánh mắt khích lệ, một lần nghiêm khắc vì thương, hay đơn giản là sự tận tụy âm thầm của một nhà giáo làng ‘quơ’ mộc mạc. Những điều tưởng nhỏ bé ấy đôi khi lại đi cùng một đứa học trò suốt cả cuộc đời. Vì vậy, dù bao nhiêu năm đã qua, khi ngồi trước Thầy, tôi vẫn thấy mình là cậu học trò nhỏ ngày nào.

Hôm nay, Thầy đã đi rồi. Mái trường cũ đã nhiều đổi thay. Học trò năm xưa đã tản đi khắp nơi. Tóc Thầy bạc theo năm tháng. Và rồi tất cả chúng ta, không một ai ngoại lệ, đều đi qua quy luật sinh, trụ, dị, diệt của kiếp nhân sinh. Thân tứ đại của Thầy rồi sẽ trở về với đất trời, nhưng những hạt giống mà Thầy đã gieo thì không vì thế mà mất đi. Trong cái nhìn duyên sinh của đạo Phật, Thầy vẫn đang tiếp tục hiện hữu trong những gì tốt đẹp mà học trò của Thầy đang sống và đang trao truyền.

Nghề giáo có lẽ đẹp nhất cũng chính ở chỗ ấy: người thầy không nhất thiết để lại cho đời những công trình hữu hình lớn lao, nhưng lại có thể để lại chính mình trong sự trưởng thành của những con người tiếp nối.

Xin thành kính tưởng nhớ về Thầy giáo Nguyễn Hữu Hạnh, người Thầy chủ nhiệm kính thương của chúng con dưới mái trường PTCS Xã Nhơn Lý năm nào, chia buồn cùng Cô và tang gia hiếu quyến.

Xin lưu lại vài tấm hình khi Thầy ngồi giữa những đứa học trò cũ như giữ một món quà cuối cùng. Mai này nhìn lại, chúng em sẽ nhớ rằng đã từng có một buổi tối đẹp như thế và hôm nay cùng chiêm nghiệm rằng giữa cuộc đời luôn thay đổi này, có lẽ điều còn lại lâu bền nhất chính là tình thương, lòng biết ơn và những hạt giống thiện lành mà ta đã kịp gieo vào cuộc đời nhau.

Nguyện cầu Thầy xả bỏ báo thân, nương nhờ hồng ân Tam Bảo, nhẹ bước về miền an tịnh.

Kính tiễn Thầy!

Một đời bụi phấn thôi bay,
Những gì Thầy dạy vẫn đầy trong tâm.
Người về theo bóng phù vân,
Tình Thầy ở lại lâng lâng cõi này

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

Bạch X. Phẻ
Tịch Cốc, Sacramento, thứ Năm ngày 27 tháng 8, 2026.

Hình cuối tự selfie cùng Thầy. 

IN REMEMBRANCE OF OUR HOMEROOM TEACHER NGUYỄN HỮU HẠNH

A Former Homeroom Teacher of Nhơn Lý Commune Junior High School

Has our beloved teacher truly gone? The news came so unexpectedly. I had just finished a meeting for Huyền Trang VI Leadership Training Camp when I glanced at my phone and read a message from my classmate Đinh Văn Toàn:

“Dear friends, I wish to inform you all: our beloved homeroom teacher, Mr. Hạnh — has passed away. This is truly a great loss for all of us…”

I sat in silence. Almost immediately, memory carried me back to the last time I was able to see him, in the days before the Lunar New Year of Bính Ngọ. That day, too, came about through a fortunate convergence of conditions. I had planned to meet some old classmates at a café in the village. Then, when we asked about our teacher, our friend Huỳnh Thị Tuyết acted quickly and called her husband, anh Mười, to drive us to Quy Nhơn to visit him. Then more friends were called, and just like that, a small group of us went together to his home.

It was a spontaneous reunion. None of us imagined that it would later become such a precious memory. Thầy Hạnh was very happy. That day, there were Tuyết and her husband, Toàn, Liên, Bắc, Ngà, Tranh, Thủy, Liên, Bé, Lệ, and others, along with my wife and me. He brought out old photographs, looked at them slowly, and pointed to each face: this student was like this back then, that one was like that in those days…

Stories that seemed to have rested quietly for decades suddenly came alive again in the joyful laughter of teacher and students. We sat around him and took a few photographs together, simply to keep as memories.

At that moment, everyone thought only that we would have a few more pictures to remember a happy day. Who could have known that today, upon hearing of his passing, those pictures would become a whole landscape of memory? And I suddenly understood: there are meetings we think are ordinary, until one day we look back and realize they were the last.

Looking again at the images of the students of long ago gathered around their teacher, my heart tightens. So many years have passed. Each of us has gone in a different direction, lived a different life. Each has a family, work, personal concerns, and hair that has begun to carry the traces of time.

And yet, on that day, sitting beside him, we seemed to become once again the little schoolboys and schoolgirls of Nhơn Lý Commune Lower Secondary School. That simple village school, in the fishing village of our beloved xứ Nẫu, with its cool winds, clear moonlight, sun, and sand, had held for us so many memories of our growing years near Bồ Đề School, Bãi Bấc, Bãi Nồm, Eo Gió…

On the day we visited him, there was no longer a blackboard or white chalk. There was no school drum calling us to class in the morning. There was only the warm home of our teacher and his wife, a cup of tea, New Year sweets, simple gifts from the homeland, and old stories returning one after another.

Teacher sat there among his former students, still simple and gentle as ever. We gathered around him, talking and laughing like children, as though all those decades of separation had passed in the blink of an eye.

Perhaps one of the most beautiful joys in a teacher’s life is not merely how successful the students become, but that after so many years, those students still remember the way back to visit him, still sit together by his side, and still call him “Teacher” with all their respect and affection.

I am especially grateful to know that after each Lunar New Year, our friends — especially Tuyết, Thuỷ, Bắc và Ngà — continued to preserve that bond of gratitude, visiting and offering New Year wishes to Teacher on behalf of the rest of us. Such a beautiful gesture: the act of returning, the gift of presence, and the heart of former students may be the warmest spring offering to a teacher in the twilight of life.

As for me, a student of those former days who later had the karmic blessing to become a teacher myself, the longer I have walked the path of education, the more deeply I understand the labor and love of those teachers who came before me.

After standing before students for many years, I have come to understand that there are gifts a teacher gives that cannot be measured by grades or by lessons written in textbooks. It may be a word of advice, an encouraging glance, a moment of strictness born from love, or simply the quiet devotion of a humble village teacher.

Things that appear small may sometimes accompany a student for an entire lifetime. That is why, no matter how many years have passed, whenever I sat before him, I still felt like the little student I once was.

Today, Teacher has gone. The old school has changed in many ways. The students of those years have scattered everywhere. His hair had turned white with the passing seasons. And all of us, without exception, move through the law of arising, abiding, changing, and passing away.

Teacher’s four-element body will return to earth and sky. But the seeds he planted will not disappear. In the Buddhist understanding of interbeing and dependent arising, Teacher continues to live in the good that his students are now living and passing on.

Perhaps the beauty of teaching lies precisely there: a teacher may not leave behind great visible monuments, yet he can leave himself within the growth and goodness of those who continue after him.

With deep reverence, we remember Teacher Nguyễn Hữu Hạnh, our beloved homeroom teacher under the roof of Nhơn Lý Commune Lower Secondary School in those long-ago years. We offer our heartfelt condolences to Cô and to the bereaved family.

We wish to keep these few photographs of Teacher sitting among his former students as a final gift of memory. In years to come, when we look back, we will remember that there was once such a beautiful evening. And today, we contemplate together that in this ever-changing life, perhaps what remains longest is love, gratitude, and the wholesome seeds we were able to plant in one another’s lives.

May Teacher release this conditioned body.
May he be embraced by the blessings of the Three Jewels.
May he walk gently into the realm of peace.

With reverence, we bid farewell to our teacher.

A lifetime of chalk dust now returns to light,
Yet seeds of wisdom bloom within our hearts.
You journey home beyond the clouds of birth and death,
While love and gratitude still breathe through this Saha world.

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.
Homage to Amitābha Buddha, the Guiding Teacher who receives beings into the Pure Land.

Bạch X. Phẻ
Tịch Cốc, Sacramento
Thursday, August 27, 2026




Friday, October 24, 2025

Tâm Thường Định: DOÃN QUỐC SỸ – Người Mở Cửa Trái Tim Cho Cõi Người | Doãn Quốc Sỹ — One Who Opened the Portal to the Human Heart

DOÃN QUỐC SỸ – Người Mở Cửa Trái Tim Cho Cõi Người 
Doãn Quốc Sỹ — One Who Opened the Portal to the Human Heart

Từ trái: Tâm Thường Định, nhà văn Trần Kiêm Đoàn, nhà văn Doãn Quốc Sỹ, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, nhà báo Doãn Quốc Hưng (Mùa thu, 2011 tại Tu Viện Lộc Uyển, Escondido, California).

DOÃN QUỐC SỸ – Người Mở Cửa Trái Tim Cho Cõi Người

“Mỗi chúng ta là một que diêm sống... Khi tắt đi, chút khói xanh để lại. Rồi chính chút khói xanh đó cũng tan loãng—như vết chân cát xóa.” — Doãn Quốc Sỹ, Vào Thiền (1970)

1. Kỷ niệm gặp Cụ giữa “Mở Cửa Trái Tim”

Tôi vẫn nhớ, tại khóa tu Mở Cửa Trái Tim vào tháng 9 năm 2011, lần đầu tiên chúng tôi được diện kiến Cụ Doãn Quốc Sỹ bằng xương bằng thịt, dù đã biết đến Cụ từ lâu qua những tác phẩm bất hủ như Vào Thiền*, Con Cá Mắc Cạn, và bộ trường thiên Khu Rừng Lau… Đó cũng là dịp tôi làm quen với anh bạn Doãn Quốc Hưng, con trai út của Cụ.

Buổi trưa hôm ấy, trong không khí ấm cúng tại Tu viện Lộc Uyển (Đại Ẩn Tự, Escondido, California), chúng tôi được hân hạnh dùng cơm riêng thân mật cùng Sư Ông Làng Mai – Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Sư cô Chân Không, Cụ Doãn Quốc Sỹ, nhà văn Trần Kiêm Đoàn, nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát, nhà báo Doãn Quốc Hưng, và những thân hữu trong khóa tu. Một ngày mùa thu êm đềm, gió nhẹ, trăng sáng, tiếng chuông chùa ngân nga:

Trăng mai vằng vặc sáng
Tiếng chuông chùa nhẹ buông
Thiền hành đôi gót nhẹ
Khóm trúc lay miệng cười...
(Chuông Chùa Lộc Uyển, Tâm Thường Định, 2011)

Trong buổi thiền hành của khoá tu “Mở Cửa Trái Tim” vào sáng sớm hôm ấy, Sư Ông Làng Mai bước nhẹ trên con đường phủ sương, đại chúng im lặng – hơn năm trăm người Việt cùng thở, cùng đi. Một sự im lặng trầm hùng mở ra cánh cửa chánh niệm.  Hôm đó, cũng có Cụ Doãn Quốc Sỹ và chúng tôi biết rằng Cụ Doãn cũng là người thân quen với Sư Ông Làng Mai từ nhiều thập niên trước.

Nhiều năm sau, khi đọc lại những truyện của Cụ viết được con cháu lưu giữ tại trang nhà Doãn Quốc Sỹ, https://doanquocsy.com, tôi lại thấy thấp thoáng dáng Sư Ông trong Cụ, và dáng Cụ trong Sư Ông — hai bậc hiền triết đã sống trọn đời bằng chánh niệm, chữ nghĩa, và lòng từ bi vô biên. Ở Cụ Doãn, chữ nghĩa không chỉ để nói hay để viết, mà để sống và dạy cho con cháu và tha nhân. Văn chương của Cụ không chỉ là nghệ thuật, mà là thiền hành giữa chợ đời, là “vào thiền” trong từng hơi thở giữa những biến động của lịch sử và khổ đau nhân thế.

2. Vạn Hạnh – Nơi thiền và văn hòa quyện

Có lần đến thăm Cụ, tôi được biết Cụ từng bị giam ở Phú Yên rồi trại Gia Trung (cách Pleiku 25km), cùng nhiều văn nghệ sĩ như Trần Dạ Từ, Thanh Thương Hoàng, Nguyễn Viết Khánh, Nguyễn Sỹ Tế… Anh Doãn Quốc Hưng còn kể những giai thoại đi thăm Bố và Thầy Tuệ Sỹ trong thời gian ấy tại trại giam A30 tại Phú Yên. 

Ôi, những nhân tài văn học Việt Nam, như những vì sao sáng, cũng nổi trôi theo vận nước. Khi nói đến Cụ Doãn Quốc Sỹ, không thể không nhắc đến Trường Đại học Vạn Hạnh hay Viện Cao Đẳng Phật Học Hải Đức Nha Trang, nơi kết tinh của thiền và văn chương: Minh Châu, Nhất Hạnh, Tuệ Sỹ, Trí Hải, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Phước An, Doãn Quốc Sỹ… Tất cả như những vì tinh tú của bầu trời tư tưởng Việt Nam. Và cho đến bây giờ, những bậc Thầy của tôi đang làm việc với như Hoà thượng Thích Nguyên Siêu, Hoà thượng Thích Quảng Ba cũng đã từng học với Cụ tại Viện Cao Đẳng Phật Học Hải Đức Nha Trang, nổi tiếng Việt Nam một thời. Nơi ấy, giới luật không chỉ để tiếp nhận và để hành trì, văn chương không chỉ để học, mà để tỉnh thức. Nơi đó, chữ nghĩa là pháp thoại, và triết học là thiền hành. Chính nơi đó là cảo thơm Việt Nam và chiếc nôi tri thức, nhân bản, và khai minh của nhiều thế hệ Tăng cũng như tục từ đó cho đến bây giờ. 

3. Mỹ học thiền trong văn chương Doãn Quốc Sỹ

Như Perrault của nước Pháp, Andersen của Đan Mạch, Toni Morrison của Mỹ, hay Tolstoy của Nga, Cụ Doãn Quốc Sỹ cũng dựng nên những cõi mộng giữa đời thực, nhưng với hơi thở Việt Nam và tâm từ bi Phật giáo. Cụ viết về cái đẹp không để ru ngủ, mà để đánh thức; viết về nỗi đau không để oán than, mà để chuyển hóa; kể chuyện cổ tích không dành cho trẻ con, mà cho những người đã từng khổ đau nhưng vẫn giữ lòng hiền thiện.

Nếu Perrault và Andersen thần thoại hóa đời thường để gieo mầm đức hạnh, Tolstoy đạo đức hóa tự sự bằng tiếng nói lương tri, hay Toni Morrison với những tác phẩm đầy lòng trắc ẩn khám phá các chủ đề về dân chủ, công lý xã hội và trải nghiệm của con người, thì Cụ Doãn Quốc Sỹ thiền hóa hiện thực Việt Nam: biến khổ đau thành chất liệu khai minh, biến bi kịch thành cơ hội tự chứng.

Ảnh hưởng của Cụ, vì vậy, vượt ra ngoài phạm vi văn giới — chạm vào giáo dục đạo đức và đời sống tỉnh thức.

4. Công án đời thường

Ở tuổi gần trăm, Cụ vẫn “hành thiền” trong từng bước đi, từng giấc ngủ, từng nụ cười. Con gái của Cụ, chị Doãn Tư Liên, kể rằng:

– “Bố, giờ bố còn ngồi thiền như thuở trong tù không?”
– “Không con. Lúc nào bố chẳng hành thiền. Đâu cần phải ngồi đâu.”

Câu trả lời ấy chính là một công án đời thường – lời của một thiền sư nhập thế giữa trần gian mà không hề vướng bụi.

Tôi nhớ Sư Ông Thích Nhất Hạnh từng dạy: Hãy đi như một dòng sông… để đến bờ bến giác.

Sau buổi cơm trưa hôm ấy, tôi còn nhớ Sư Ông Làng Mai đã tiễn Cụ ra ngoài, cả hai bước chậm rãi và thanh thoát, như hai dòng sông trong Đạo và trong Đời đang cùng chảy về biển lớn. Nay Cụ Doãn Quốc Sỹ đã an nhiên tự tại, thong dong, thanh thản ra đi—chảy trọn dòng sông ấy – một dòng sông thiền, chảy từ trang viết đến hơi thở cuối cùng của phút lâm chung. 

Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức.

Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.

5. Tiếng cười và lời đưa tiễn

Lần cuối đến thăm Cụ, dù thính giác đã yếu dần đi nhưng Cụ vẫn minh mẫn, đọc thuộc lòng bài thơ trào phúng của nhạc phụ mình – tức nhà thơ Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu):

Tú rửng mỡ cưỡi xe bình bịch
Máy nổ vang xình xịch chạy như bay
Bóp còi toe như quát tháo giương vây
Khách đường cái vội giãn ngay tăm tắp
Tú nhớ thuở còn đi xe đạp
Một thứ xe chậm chạp hiền lành
Trên đường đông dù chuông bấm liên thanh
Khách đủng đỉnh làm thinh không chịu tránh
Ồ ngán nhỉ ở trên cõi tục
Con người ta bất độc bất anh hùng.

Tiếng cười ấy vừa hóm hỉnh, vừa triết lý – như một bài pháp thiền về vô thường và ngã chấp. Cụ cười hiền như thể căn dặn lại đời: hãy sống nhẹ, sống thật, sống chậm và sống tỉnh thức.

Cụ Doãn Quốc Sỹ đã ra đi nhẹ nhàng, thanh thản, nhưng trái tim Cụ vẫn mở rộng như bầu trời mùa thu ở Tu Viện Lộc Uyển. Văn chương của Cụ là con đường Mở Cửa Trái Tim – nối liền quá khứ và tương lai, huyền thoại và hiện thực – đưa người đọc trở về với hơi thở, bản tâm hiền thiện, thanh tịnh và bao dung.

Chúng ta – những người còn rong chơi nơi cõi Ta Bà – có thể chưa đạt đến vô dư Niết Bàn, nhưng qua nụ cười sảng khoái của Cụ, qua chữ Cụ viết, qua hơi thở Cụ để lại, ta học được cách “vào thiền — thở đi thôi — để hiểu và thương.” Thôi thì xin tiễn Cụ với 3 câu lụt bát:

Người đi như áng mây trôi,
Thong dong cánh hạc qua đồi tử sinh.
Khói kinh phảng phất anh linh

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.
Cúi đầu tưởng niệm Cụ Doãn Quốc Sỹ – Nhà văn, nhà hiền triết, và người kể chuyện đạo và đời với lòng từ bi vô biên.

Xin thành kính chia buồn cùng anh Hưng, chị Liên, chị Khánh và đại gia đình họ Doãn.

Tâm Thường Định – Bạch Xuân Phẻ
Sacramento, California – Tháng 10, 2025

*Có lẽ Cụ Doãn Quốc Sỹ viết Vào Thiền không để dạy người, mà để chia sẻ hơi thở tự do, khuyến khích tuổi trẻ chập chững bước 'vào thiền'. Một tác phẩm ngắn gọn, tinh tế và nền tảng – tựa như Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức của Thiền sư Thích Nhất Hạnh.


Doãn Quốc Sỹ — One Who Opened the Portal to the Human Heart

“Each of us is a living matchstick. When the flame goes out, a wisp of blue smoke remains. Then even that smoke dissolves—like footprints erased in the sand.” — Doãn Quốc Sỹ, Entering Meditation (Vào Thiền), 1970 1. Encountering the Elder in "Portal to the Heart" Retreat

I vividly recall the Portal to the Heart retreat in the autumn of 2011, during which we first encountered Elder Doãn Quốc Sỹ in person, despite having previously known him through his enduring works: Entering Meditation, The Stranded Fish, and the extensive novel The Reed Forest. It was then that I became acquainted with his youngest son, Doãn Quốc Hưng.

At noon, in the serene tranquility of Deer Park Monastery (Đại Ẩn Tự, Escondido, California), we had the privilege of sharing a modest lunch with Zen Master (Thầy) Thích Nhất Hạnh, Sister Chân Không, Elder Doãn Quốc Sỹ, writer Trần Kiêm Đoàn, composer Nghiêm Phú Phát, journalist Doãn Quốc Hưng, and other close associates.

The autumn day was serene; the air light, the moon bright, and temple bells sang softly:

The dawn moon shines so clearly,
The temple bell releases lightly,
Each step of meditation gentle,
The bamboo grove smiles in silence.
(from “Temple Bell at Deer Park,” Tâm Thường Định, 2011)

In the early morning of the retreat, Thầy Thích Nhất Hạnh treaded gently on the fog-laden path, accompanied by almost five hundred Vietnamese practitioners who moved in dignified silence—breathing as a unified entity, walking as a singular heart. The quiet itself unveiled the authentic Portal to the Heart. That day, Elder Doãn Quốc Sỹ was there among us. We discovered that he had been a companion of Thầy for decades—a convergence of two radiant souls.

Years later, when revisiting the narratives archived by his family on doanquocsy.com, I discerned the subtle reflection of Thầy in Elder Doãn, and of Elder Doãn in Thầy—two sages who embodied awareness, eloquence, and limitless compassion. In Doãn Quốc Sỹ, words served not merely for communication or composition; they were integral to existence and instruction. His literature transcended ordinary artistry; it embodied a meditative journey, a dharma walk through the marketplace of existence, engaging in meditation with every breath, every line, and every human suffering.

2. Vạn Hạnh — The Convergence of Zen and Literature

During a visit to Elder Doãn, I discovered that he had been incarcerated at Phú Yên and subsequently at Gia Trung prison camp near Pleiku, alongside other fellow writers and poets: Trần Dạ Từ, Thanh Thương Hoàng, Nguyễn Viết Khánh, Nguyễn Sỹ Tế, among others. Brother Hưng, his son, also recounted experiences of visiting his father and the Venerable Tuệ Sỹ throughout the challenging years at Camp A30 in Phú Yên.

All brilliant intellects of Vietnamese literature—akin to stars traversing the flow of history. Discussing Doãn Quốc Sỹ evokes Vạn Hạnh University and the Hải Đức Buddhist Institute of Nha Trang, where Zen and literature amalgamated: Minh Châu, Nhất Hạnh, Tuệ Sỹ, Trí Hải, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Phước An, Doãn Quốc Sỹ… They represented constellations in the Vietnamese realm of mind. To this day, the esteemed masters I collaborate with—Most Venerable Thích Nguyên Siêu and Thích Quảng Ba—were formerly disciples of him at Hải Đức Buddhist Institute of Nha Trang, the renowned hub of Buddhist scholarship. There, principles were not merely accepted but internalized; literature was not solely examined but invigorated. In that context, language transformed into dharma discourse, while philosophy manifested as meditative practice. That location continues to be the epicenter of Vietnamese intelligentsia and spiritual humanism, nurturing both monks and laypeople over generations.

3. The Zen Aesthetics in the Works of Doãn Quốc Sỹ

Similar to Perrault of France, Andersen of Denmark, Toni Morrison of America, and Tolstoy of Russia, Elder Doãn Quốc Sỹ fashioned dreamscapes within the mundane, infused with the essence of Vietnam and the empathy of Buddhism. He articulated beauty not to soothe us, but to invigorate; sadness not to mourn, but to transmute; and fairy tales not for children, but for those who have endured tragedies yet still aspire to have a tender heart.

If Perrault and Andersen mythologized quotidian existence to instill virtue, if Tolstoy infused narrative with moral consciousness, and Toni Morrison penned with profound empathy for justice and the human condition, then Doãn Quốc Sỹ Zen-ified Vietnamese reality: transmuting suffering into enlightenment and tragedy into self-actualization. Consequently, his influence extends beyond literature; it impacts ethical education and the active practice of mindfulness.

4. A Koan in Daily Existence

At nearly one hundred years of age, Elder Doãn continued to embody meditation in every breath, every step, each smile. His daughter, Doãn Tư Liên, inquired: – “Father, do you continue to meditate as you did during your incarceration?”

He grinned and said, “No, my child. I engage in meditation constantly. Seating is not mandatory.”

The response is a dynamic koan—uttered by a Zen master who exists in the world yet remains untainted by it.

I remember Thầy Nhất Hạnh's words: "Walk like a river... flowing toward the shore of awakening."

Subsequent to the family-friendly luncheon, I recall Thầy delicately helping Elder Doãn outdoors. The two moved gently and gracefully—two rivers of Dharma and Life converging into the infinite sea. Elder Doãn Quốc Sỹ has traversed the entirety of that stream—a river of Zen, transitioning from text to breath, from confinement to emancipation, from corporeality to infinite expanse. During each visit, he exhibited cheerfulness, lucidity, and radiance. He frequently stated, “Teaching is my profession; writing is my calling.” For him, the mission of literature constituted a spiritual journey—writing as a form of meditation, language as the essence of the heart. His fiction embodies the mythology of existence itself, wherein a small girl selling matches, a tin soldier, or a prisoner confined behind bars all radiate the brilliance of awakened humanity.

In The Reed Forest, he stated: "The authentic method to safeguard the nation is to nurture its cultural forest." An enduring message—connecting Dharma with nation, culture with compassion.

5. The Amusement and the Departure

 On our last visit, though his hearing had severely deteriorated, Elder Doãn remained bright and serene.
He recited by heart a satirical poem by his father-in-law, the poet Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu):

Tú “playfully spirited” rides his sputtering bike,
Engine chugs and rumbles, racing like flight.
Horn blares sharp, like commands in a fight,
Passers scatter swiftly from his might.
He recalls the days of his humble ride,
A bicycle slow, yet gentle with pride.
In crowded streets, though bells chimed wide,
People walked on, unbothered beside.
Oh, how ironic this worldly sight—
Power makes heroes, not virtue or light.

Such hilarity—playful yet profound—was itself a dharma teaching on impermanence and ego. The Elder smiled softly, as if to remind us: live lightly, live truthfully, live slowly, live mindfully.

Elder Doãn Quốc Sỹ passed away quietly and calmly; nonetheless, his spirit endures as expansive as the fall sky over Deer Park Monastery. His literature serves as a conduit for the heart, connecting the past and future, myth and reality, guiding readers to mindfulness and an expansive inner consciousness. We, still traversing this Saha realm of life and death, may not attain Nirvāṇa without residue. Through his joyous grin, radiant words, and enduring breath, we discover the essence of meditation—merely breathe—to comprehend and to love.

The traveler drifts like a passing cloud,
A heron gliding over the hills of birth and death.
Sutra smoke drifts—his spirit near,
A fragrance of wisdom blessing the dawn of humankind.

Namo Amitābha Buddha — Homage to the Guiding Teacher of the Pure Land.

We bow in remembrance of Elder Doãn Quốc Sỹ—the writer, the sage, the storyteller of Dharma and Life whose compassion knows no bound.

My sincere sympathies and heartfelt condolences to my Dharma brothers and sisters: Doãn Quốc Hưng, Liên, Khánh, and the entire Doãn family. 

Tâm Thường Định – Bạch Xuân Phẻ
Sacramento, California – October 2025

* Elder Doãn Quốc Sỹ may have composed Entering Meditation not as a manual, but to convey the essence of liberation—encouraging the youth to embark on their initial journey into tranquility. A concise, intricate, and essential volume—similar to Thích Nhất Hạnh’s The Miracle of Mindfulness.