Showing posts with label Trần Kiêm Đoàn. Show all posts
Showing posts with label Trần Kiêm Đoàn. Show all posts

Monday, March 4, 2019

THIỀN CHÁNH NIỆM ĐẠO PHẬT VIỆT NAM Ở PHƯƠNG TÂY


THIỀN CHÁNH NIỆM ĐẠO PHẬT
 VIỆT NAM Ở PHƯƠNG TÂY

Phật giáo phương Đông, đặc biệt là Phật giáo Việt Nam, trong gần nửa thế kỷ qua đã mang lại cho con người và xã hội phương Tây một món quà tinh thần đáng quý: Thiền Chánh Niệm (mindfulness meditation).

Chùa Tam Bảo

Sau hai cuộc chiến tranh thế giới và cuộc Chiến tranh Việt Nam, con người đã thấm thía với hoàn cảnh loạn động vể cả thể chất lẫn tinh thần. Chiến tranh liên miên đã đưa nhân loại vào núi xương, biển máu. Với bản tâm náo động, con người hoảng hốt chối bỏ cả chính mình để tự nguyện hay bắt buộc lăn mình vào cuộc chiến. Khi tiếng súng đã im bặt, người ta vẫn còn bị quán tính chi phối, điên đảo nhìn nhau. Nhu cầu “tịnh hoá” trở thành một khát vọng tinh thần để giữ sự cân bằng cho trí óc và lương tri.

Với “bóng đè” chiến tranh còn nặng nề trong ký ức và tâm hồn, con người cần nhu cầu an lạc mà bản chất tĩnh lặng của đạo Phật hiện ra như một đáp án, một con đường hoá giải lý tưởng cho vấn đề.

Hiện nay, sau gần năm mươi năm sống xa quê, những chùa viện Phật giáo của  người Việt Nam sống khắp nơi trên thế giới đạt đến con số nghìn; trong đó, tập trung đông nhất là tại Hoa Kỳ mà đặc biệt là những vùng đông dân cư người Việt.

Tuy nhiên, đã nhiều thập niên đi qua mà số chùa có các Phật tử, thành viên và tham dự viên người bản xứ và nước ngoài đến sinh hoạt thường xuyên chiếm tỷ số còn quá ít. Các chùa Việt Nam thường có số người ngoại quốc đến sinh hoạt lẻ tẻ chừng năm bảy người. Nhưng chùa Việt có số lượng người Mỹ đến sinh hoạt hằng trăm thì tôi mới chỉ thấy được duy nhất lần đầu ở chùa Tam Bảo.

Trong chuyến đi dài ngày “Viếng chùa mùa Xuân”, tôi có dịp đến viếng và tham gia sinh hoạt tại chùa Tam Bảo ở Baton Rouge, tiểu bang Louisiana, Hoa Kỳ. Tối nay, thứ Sáu (1-3-2019) có lớp Thiền Chánh Niệm của chùa dành riêng cho người Mỹ. Được biết là lớp thiền tập nầy được mở ra và sinh hoạt liên tục đã hơn mười năm nay.
 
Lớp Thiền chiều thứ Sáu chùa Tam Bảo

Lớp Thiền Chánh Niệm được tổ chức hằng tuần vào tối thứ sáu lúc 7:30pm và chấm dứt lúc 9:00pm. Tối nay, tôi đã trực tiếp tham dự với gần 80 người khác. Các tham dự viên trong độ tuổi từ 20 đến 60, hầu hết là người Mỹ da trắng. Các học viên được sắp xếp ngồi ngay ngắn trên bồ đoàn ở tư thế bán già. Sau lễ Phật nhẹ nhàng niệm danh hiệp Phật Bổn sư Thích Ca và Bồ tát Quán Thế Âm, thầy trụ trì Thích Đạo Quảng hướng dẫn pháp thoại về đề tài: “Làm thế nào để biến kẻ thù thành bạn” (How to Turn Enemies into Friends) hay làm thế nào để sống có ít kẻ thù và có nhiều bạn hữu.

Thật ra, với những đề tài như thế này thì không có gì mới mẻ
trong xã hội phương Đông cũng như phương Tây. Cái mới ở đây là nhìn qua nhãn quan Phật giáo. Thầy Đạo Quảng có sự khéo léo của một hành giả hơn là diễn giả khi thầy không bị dính mắc vào ngôn ngữ đầy thuật ngữ chuyên khoa của một giáo sư đang giảng dạy môn Tâm Lý Trị Liệu Nhân Văn Hiện Sinh (Existential Humanistic Psychotherapy).

Hôm nay thầy là một “thôn tăng” nói chuyện bình dân bằng ngôn từ trong sáng, dễ hiểu với một tập thể đủ mọi trình độ trong hiện thực đời thường. Sự lãnh hội nội dung đề tài tu học của người tham dự được thể hiện rõ nét qua những lời phát biểu của họ ngay sau bài giảng của Thầy.

Sau buổi sinh hoạt Thiền Chánh Niệm, tôi có dịp hỏi chuyện và trao đổi ý kiến với một số người Mỹ ở nhiều độ tuổi khác nhau từ trong khoá học. Tuy mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau nhưng những điểm chung khiến họ gặp nhau ở nơi này vì họ đều có nhu cầu của một đời sống tâm linh và sự khao khát học những cái mới. Phần đông đều có những vấn đề về đời sống như gia đình xung đột, vợ chồng bất hòa, con cái ra ngoài lề xã hội... nên khi họ được biết đến đạo Phật như là một đạo của Từ bi, Trí tuệ và An lạc thì họ tìm đến để mong có một sự học hỏi, chia sẻ và hoá giải với người thân, với hoàn cảnh và trong tâm hồn của họ.

Không khí nghiêm túc mà cởi mở và vui tươi, phong cách ứng xử nhẹ nhàng mà đầy hỗ trợ, tương kính... trong suốt buổi sinh hoạt hôm nay là những dấu hiệu cụ thể của một buổi tu học thành công.

Sáng nay, tôi có dịp phỏng vấn thầy Đạo Quảng về những yếu tố nào đã khiến cho người ngoại quốc tin tưởng vào các lớp học tọa thiền của chùa viện Phật giáo Việt Nam như trường hợp chùa Tam Bảo, thầy đã có ý kiến rằng:

- Khung cảnh trang nghiêm và thanh tịnh của chùa thường gây sự chú ý và quan tâm đầu tiên của khách thập phương đặc biệt là người ngoại quốc. Chùa Tam Bảo nằm trong khung cảnh thiên nhiên xanh mát của rừng sồi Live Oak Tree trên một diện tích trước sau gần tám mẫu là một lợi điểm về quang cảnh.

- Hình thức thờ phụng trang nghiêm mà đơn giản sẽ không gây cảm giác “phản cảm” cho những người thuộc về các tôn giáo khác mà đặc biệt là người Mỹ phần lớn đều theo đạo Tin Lành, đạo Công Giáo. Thật vậy, trên bàn thờ cũng như ngoài khuôn viên chùa Tam Bảo chỉ có một tượng Đức bổn sư Thích ca và tượng Quán Thế âm bằng thạch cao trắng. Ngoài ra không có những tượng đài khác màu mè như thường thấy ở chùa viện nhiều nơi khác.

- Nhưng quan trọng nhất vẫn là vai trò của người thầy hướng dẫn. Thầy Đạo Quảng là một tiến sĩ ngành Tâm Lý học hiện đang giảng dạy ở đại học Xavier University of Louisiana. Ngoài ra, Thầy cũng là một chuyên viên tham vấn của các trung tâm cai nghiện ở địa phương và dành nhiều thì giờ tham gia các công tác từ thiện xã hội với nhiều cộng đồng dân tộc khác nhau nên có sự quen biết tương đối khá rộng rãi.

Thật ra, khuynh hướng của đạo Phật khẳng định rằng không có một sự thành hình hay thành tựu nào là do một hay vài nguyên nhân đơn lẻ tạo nên cả mà luôn luôn có một sự tổng hợp nhiều điều kiện thường được gọi là “duyên” để tác tạo nên.

Nhân chuyến viếng thăm chùa Tam Bảo người viết xin được ghi lại một vài nét mà mình trực tiếp chứng kiến - mắt thấy tai nghe - với ước mong rằng những chùa viện Phật giáo Việt Nam sẽ là những trung tâm thu hút người ngoại quốc càng đông càng tốt.  Đó là hiện tượng sinh động và điều kiện “ắt có” trên đường giới thiệu văn hoá Phật giáo và hoằng dương chánh pháp.

Chùa Tam Bảo 3-3-2019
Trần Kiêm Đoàn

Friday, July 27, 2018

QUÝ HỮU SẼ NGHĨ GÌ, LÀM GÌ NẾU KHI CHỈ CÒN TRĂM NGÀY ĐỂ SỐNG ?!

QUÝ HỮU SẼ NGHĨ GÌ, LÀM GÌ


NẾU KHI CHỈ CÒN TRĂM NGÀY ĐỂ SỐNG ?!
Photo: Anh Bán
Hôm nay, chúng tôi hẹn nhau đi ăn cơm chay vì đang là ngày 14 Âm lịch. Nhưng cuối cùng, chúng tôi không vào các nhà hàng bán đồ chay trong vùng hay đi đâu xa mà cùng mang đồ ăn, trái cây đến thăm một người anh em huynh trưởng Gia đình Phật tử Việt Nam tại Hoa Kỳ đang lâm trọng bệnh: Huynh trưởng Quảng Quý Huỳnh Kim Lân (HKL). Tôi và anh Bạch Xuân Khỏe đến thăm anh Quảng Quý Huỳnh Kim Lân khi nghe tin bệnh tình anh đã đến giai đoạn cuối, khó lòng qua khỏi.
Trời Sacramento đang nóng 110°F (43°C) và chúng tôi đến đây lúc 2:00 giờ chiều là giờ nóng cao điểm nhất trong ngày.
Không sao! Ngoài trời có thể mát mẻ nhưng nếu có những ưu tư, buồn phiền, phẫn nộ bên trong thì sẽ làm cho người ta nóng lên. Ngược lại, nếu có những niềm vui tươi mát phát khởi tự trong lòng thì nội nhiệt sẽ đi từ trong ra ngoài mà làm cho con người nhẹ nhàng, mát mẻ. Tôi mỉm cười với chính mình khi liên tưởng đến “nội nhiệt” của các nhà sư Tây Tạng thiền định suốt cả mùa đông trong núi tuyết với tấm cà sa mỏng manh.
Anh Huỳnh Kim Lân đón chúng tôi bằng nụ cười thoải mái, thân thương và tự nhiên. Khi bắt tay và nhìn thẳng khuôn mặt anh, tôi hơi chững lại vì trước khi vào đây, tôi cứ hình dung là sẽ gặp một người bệnh ốm yếu, xanh xao. Nhưng thực tế thì ngược lại, anh Lân vẫn hồng hào với khuôn mặt khá đầy đặn và những nét ưu tư không in dấu ở đâu cả; nhất là với phong thái tự nhiên và thoải mái của anh.
Anh Lân cho biết rằng, cách đây hai tháng, bác sĩ đã xét nghiệm và kết luận là anh bị ung thư phổi giai đoạn cuối với thời gian trước mắt chỉ còn sống được sáu tháng. Nghĩa là tính từ hôm nay. anh chỉ còn lại bốn tháng trên cõi đời này nếu căn cứ vào những xét nghiệm và kết luận của y khoa hiện đại.
Chỉ còn hơn một trăm ngày để sống, bạn sẽ làm gì và ưu tư như thế nào? Đó có lẽ là câu hỏi thông thường nhất trong những trường hợp giới hạn cuộc sống chỉ còn tính theo ngày, theo tháng tương tự.
Thay cho những lời an ủi và thăm hỏi thường tình đối với một người mắc bệnh nan y, chúng tôi đã biến cuộc gặp gỡ thành một cuộc chuyện trò đầy thú vị. Anh Lân đã gợi ý rằng, trường hợp và tình trạng sức khỏe, bệnh tật tuy là riêng tư của anh, nhưng cũng có thể thông tin ra ngoài rộng rãi hơn như một “trường hợp tham khảo” (Case Study) trong các chuyên ngành xã hội, tâm lý, triết học và giáo dục; đặc biệt là cũng nên chia sẻ với anh chị em thuộc hệ thống Gia đình Phật tử Việt Nam trong cũng như ngoài nước. Chúng tôi cũng rất đồng ý với anh HKL rằng, trường hợp cá nhân của anh, nếu không câu chấp thường tình thì cũng có thể thông tin tương đối rộng rãi, thẳng thắn và trình bày công khai như một lời nhắn gởi lại cho đàn em. Hơn thế nữa, vì anh là một huynh trưởng Gia đình Phật tử kỳ cựu tại Việt Nam và Hoa Kỳ nên hiện đang có nhiều anh chị em huynh trưởng và đoàn sinh GĐPT trong cũng như ngoài nước đang chờ đợi tin anh.
Mở đầu câu chuyện, chúng tôi đã nêu ra một câu hỏi rất thông thường đối với người gặp cảnh ngộ như anh, rằng là: Anh có cảm thấy sợ hãi không khi khám nghiệm y khoa cho biết là anh chỉ còn một thời gian ngắn nữa để sống. Anh trả lời thản nhiên là anh không có một cảm giác sợ hãi nào cả. Đồng thời, anh cũng bày tỏ niềm tin xuất phát từ nguồn Tâm thâm sâu của anh rằng, anh có thể còn hay mất với sắc thân tứ đại này; nhưng anh chỉ coi việc ra đời và qua đời đơn giản và nhẹ nhàng như việc thay áo mới theo nẻo đi về của lý Duyên Khởi: Duyên hợp, duyên tan, duyên tàn, duyên tận... như bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông; như mọi sự trên đời đều đang đi trên đường Thành, Trụ, Hoại, Diệt; như mọi sinh vật đều theo một dòng trôi Sinh, Lão, Bệnh, Tử.
Hiện tại, anh vẫn dốc tâm cầu nguyện Hồng Ân Tam Bảo và lắng lòng thu nhiễm năng lượng lành của phép Phật nhiệm mầu và chư tôn, tứ chúng. Anh tập trung vào trì tụng Đức Phật A Di Đà và tựa hết nguồn tâm vào thế giới Cực Lạc trong những ngày còn lại của đời mình.
Là một huynh trưởng Gia đình Phật tử Việt Nam kỳ cựu 70 tuổi, anh HKL đã dấn thân vào sinh hoạt với tuổi trẻ và Đạo Phật Việt Nam từ ngày còn bé. Anh cũng là người thọ bồ tát giới đã trên 30 năm. Nhưng anh đã tâm sự một điều làm chúng tôi lắng lòng theo dõi và suy gẫm khi anh cho rằng, suốt bao nhiêu năm làm người Phật tử, anh chỉ là người học Phật, tụng niệm kinh kệ, sinh hoạt lễ nghi và hoạt động thanh niên chứ chưa bao giờ là người biết TU theo con đường Phật giáo cả. Anh cho rằng, TU phải đồng nghĩa với HÀNH. Nghĩa là những gì thuộc về lý thuyết cần phải được thể hiện cụ thể trong hành động và cuộc sống. Tu đạo là sống đạo và hành đạo chứ không phải chỉ chấp tay, cúi đầu theo đạo và thờ đạo một cách thụ động. Tinh túy của đạo Phật là cứu khổ mang vui cho chúng sinh. Theo đạo Phật không phải là để làm học giả hay diễn giả mà phải làm một hành giả. Hành giả là người hiểu đạo, sống đạo để đem đạo vào đời. Hành giả không thể là người học thuộc lòng những tạng kinh điển, nói toàn những chuyện xa xôi lý thuyết trên mây mà quên đi sự đau khổ của trần gian đang có mặt thường xuyên trong ta và quanh ta. Bởi vì nếu không có đau khổ thì Phật giáo không có lý do ra đời để làm một tôn giáo cứu khổ.
Nói tóm lại, khi con người đã sống qua 70 năm cuộc đời thì nếu còn lại chừng một trăm ngày để sống, người ta sẽ nghĩ đến một cái gì diệu dụng nhất có thể đạt được trong một khoảng thời gian ngắn nhất và quý báu nhất.
Anh Huỳnh Kim Lân cứ nhắc đi, nhắc lại một điều mà anh lấy làm tiếc là suốt trong 70 năm qua chưa làm được là thực hành đạo Phật. Đạo Phật là đạo để thực hành và tu học giúp chuyển biến con người từ thấp đến cao, từ xấu đến tốt, từ bất thiện đến hoàn hiện chứ đạo Phật không phải là một phương tiện để bị rơi vào lý thuyết rườm rà, cao xa hay những lễ nghi phiền toái mà thật sự không giúp cho con người thoát khỏi những hệ lụy đầy đau khổ giữa đời thường.
Chúng tôi hỏi anh HKL về cách tu học cụ thể hơn trong thời gian quá ngắn còn lại anh có thể xếp ưu tiên những việc gì cần phải làm trước nhất và lần lượt sau đó. Theo anh thì việc đầu tiên là phải sám hối. Sám hối để tự soi sáng chính mình với một tâm hồn trong ngần tươi mát dâng lên đức Phật. Sau đó mới nói đến sự Chí Thành cầu nguyện để cầu xin năng lượng lành của chư Phật, tôn nghinh hùng lực của Tây phương giáo chủ A Di Đà để trong phút lâm chung còn giữ được nhất tâm bất loạn mà kinh văn đã diễn tả: “Trong khoảng một niệm, sinh về Cực Lạc, sen nở thấy Phật, liền nghe Phật thừa, chóng mở Phật tuệ...”
Thời gian tương đối của đời thường không phải là thước đo mức độ ngắn dài của quá trình tu học và giác ngộ trong đạo Phật. Tuy chỉ có 6 năm khổ hạnh công phu như một sự nếm trải đâu là phương tiện thiện xảo để tu hành và 49 ngày thiền định dưới cội bồ đề trong rừng già cô tịch, nhưng Đức Phật đã để lại dấu ấn “sát na nghìn trùng” của dòng sống 80 năm giữa cõi Ta Bà và đã huân tập công phu qua hằng hà vô số kiếp.
Người ta thường nghĩ cuộc sống là tình cờ hay có một sự xếp đặt vô hình nào đó. Người xưa tin tưởng rằng: “Nhất ấm nhất trác, giai do tiền định”, nghĩa là một miếng ăn, một cái uống thảy đều do sự sắp xếp trước cả.
Người theo đạo Thiên Chúa thì tin rằng, “Một sợi tóc trên đầu rụng xuống cũng do thánh ý của Đức Chúa Cha.” Nhưng với quan điểm Phật giáo thì mọi sự diễn ra đều do duyên nghiệp trùng trùng biến hiện, tương tác lên nhau mà sinh diệt không ngừng; tuyệt nhiên không có một nguyên nhân khởi đầu nào đơn lẻ, duy nhất mà sinh ra cả.
Dẫu niềm tin có đơn giản hay phức tạp đến mức độ nào, kể cả vô thần… thì cũng gặp nhau ở một điểm chung là hình ảnh khởi đầu khi sinh ra và sự kết thúc khi chết. Dẫu cho sau cái chết còn có sự sống đời đời; hay kiếp sống luân hồi xoay vần không bao giờ ngưng nghỉ thì tất cả cũng đều nhận ra một sự hiện hữu trước mắt, trực tiếp, nắm bắt được mà không cần thông qua tưởng tượng hay lý luận của đời người: Đó là cái chết.
Bởi vậy, khi đối diện với cái chết trong tầm tay thì phản ứng tâm lý, tình cảm, lý trí của mỗi người một khác nhau. Chúng tôi ngồi bên cạnh anh HKL - Người mà theo lời bác sĩ thì chỉ còn hơn 100 ngày nữa để sống - với niềm cảm xúc miên man và những câu hỏi thầm lặng... Nhưng “đoạn trường ai có qua cầu mới hay” nên thật khó mà có thể hiểu được hay đồng cảm được để phân tích chia sẻ với anh và với chính mình lúc này. Khái niệm vô thường trong Phật giáo là một nguyên tắc khách quan tuyệt đối. Nghĩa là không có gì thường hằng, tồn tại vĩnh cửu cả. Bởi vậy, bí quyết “an tâm” là biết lấy cái vô thường làm cái thường trong cuộc sống. Người trẻ tuổi nhất trong nhóm bốn người anh em chúng tôi hôm nay là anh Bạch Xuân Khỏe. Anh nhắc cái Vô Thường mới chính là cái Thường khi nói rằng: “Con là người nhỏ tuổi nhất nhưng biết đâu con lại là người ra đi trước nhất. Nếu việc đó xảy ra ngay bây giờ, trong vòng ít phút nữa, hay một thời gian sau... thì chúng ta vẫn phải xem chuyện đó là Thường và đó là biết đem cái Vô Thường để làm cái Thường vậy”.
Anh Huỳnh Kim Lân mỉm cười nhẹ nhàng khi nghe người trẻ tuổi nhất đám nói như vậy. Chắc bao lâu nay anh cũng nhìn mọi sự như Khỏe nên cho đến phút này anh vẫn an nhiên tự tại đến như vậy phải không anh Lân?
Chúng tôi còn đi xa hơn về những vấn đề nóng bỏng và cập nhật của đạo pháp, dân tộc và tuổi trẻ mà trọng tâm là GĐPT. Và ước vọng tha thiết của người có khả năng ra đi sớm nhất là sự hợp nhất của GĐPT và sự thống nhất của Phật giáo Việt Nam hải ngoại. Chúng tôi nói nhiều đến một khái niệm cũ trong một hoàn cảnh mới, đó là truyền thống “bất khả phân” trong một xã hội đa nguyên tự do phương Tây với biểu tượng Salad Bowl (Dĩa Xà Lách). Trong đó sự kết hợp và hóa giải đặt trên căn bản “đa nguyên, đa lưu chi” – nhiều nguồn, nhiều nhánh, nhiều cành – nhưng tất cả đều có vai trò quan trọng độc lập và nếu thiếu đi một thì sẽ làm cho giá trị của tổng thể bị mất đi: Một nhúm gia vị, một trái ớt, hạt tiêu, củ hành, rau cải… đều quan trọng và cần thiết trong sự phối hợp nhịp nhàng và khéo léo để tạo nên một dĩa xà lách ngon mà mọi người đều ưa chuộng…
Cuộc “tâm đạo đàm” kéo dài hơn hai tiếng đồng hồ nhưng với anh Huỳnh Kim Lân cũng như các anh em có mặt đều tươi vui và phấn chấn. Hình ảnh “tăng già hòa hợp, tứ chúng đồng tu, tuổi trẻ vươn lên” đã biến sự ám ảnh mù mịt của cái chết thành niềm cảm khái tươi vui của sự sống hiện tiền. Phép lạ của hướng thiện và hành thiện. Có dịp sẽ xin trở lại đi vào chi tiết những lời chí thành của tiếng chim đang đi vào vĩnh cửu.

Sacramento, giữa Mùa An Cư 2018
           Trần Kiêm Đoàn

Tuesday, May 8, 2018

BẠCH XUÂN PHẺ TRÊN CHIẾC CẦU THẾ HỆ

Cư sỹ Bạch Xuân Phẻ, Nhà văn Trần Kiêm Đoàn, Nhà văn Doãn Quốc Sỹ, Sư Ông Thích Nhất Hạnh, và cư sỹ Doãn Quốc Hưng. Tu Viên Lộc Uyển, 2011.

BẠCH XUÂN PHẺ TRÊN CHIẾC CẦU THẾ HỆ

Đó là chiếc cầu bắc ngang hai bờ: Bờ dĩ vãng là thế hệ đàn anh và bờ tương lai là thế hệ đàn em. Sự "xung đột thế hệ" (generational gap) đã xảy ra từ cổ chí kim, khi hai thế hệ già và trẻ không cùng chung quan điểm với nhau về cuộc sống, về giá trị đạo đức, về lãnh đạo và chính trị. Sự xung đột thế hệ thiếu chiếc cầu hóa giải sẽ tạo thành một sự "ly dị" về tình cảm và nếp sống của hai thế hệ già, trẻ trong bất cứ cộng đồng dân tộc nào. Đặc biệt là cộng đồng di dân ra nước ngoài như Việt Nam.

Người châu Á mà tiêu biểu nhất là người Việt Nam thường lấy đạo "tu thân" ra để hóa giải sự xung đột thế hệ.


Tu thân là phải làm gì và tu như thế nào?

Trong quan niệm Tu Thân theo truyền thống của người xưa, có 3 con đường "tu" gọi là Tam Lập: Lập đức, lập công và lập ngôn. Nhưng lập ngôn thường được coi trọng hơn cả, nhất là đối với giới trí thức, kẻ sĩ lấy tinh thần bút nghiên, sáng tạo văn chương nghệ thuật làm trọng thì con đường lập ngôn là vượt trội hơn tất cả. Những tác phẩm văn học nghệ thuật là giá trị tinh thần để đời cho các thế hệ con cháu mai sau. Thiếu đức thân chịu, thiếu công gia đình chịu; nhưng thiếu ngôn thì cả xã hội chịu từ thế hệ này đến thế hệ khác. Có những tác phẩm triết học, chính trị, giáo dục, xã hội đã làm thay đổi bộ mặt xã hội.

Lịch sử văn học và sách báo Việt Nam đã ghi dấu những tác phẩm văn chương, nghệ thuật trong quá khứ thường do những bậc túc Nho trước tác. Và văn học sử cận đại cũng cho thấy rằng, giới sáng tạo văn chương phần đông nằm trong giới bút nghiên, trí thức đã tiếp cận và trải nghiệm nhiều với cuộc sống. Vì vậy giới trẻ có rất ít khuôn mặt viết sách, xuất bản tác phẩm vào tuổi thanh thiếu niên. Ở quê nhà đất nước Việt Nam đã vậy, tại các nước Âu Mỹ lại càng hiếm hơn hiện tượng thế hệ trẻ đang trong cơn lốc "hội nhập" Tây hóa, Mỹ hóa. Sau năm năm, có nhiều đứa trẻ nói tiếng Anh như Mỹ bản xứ và quên dần tiếng Việt Nam "ngày xưa quê mẹ"! 

Trong 36 năm sống tại Mỹ, tôi chỉ gặp 3 trường hợp người tuổi trẻ Việt Nam giữa độ tuổi thanh niên mà vẫn sống nhiệt tình trong những sinh hoạt văn học nghệ thuật bằng tiếng Việt thuần túy: Nguyễn Việt Quý viết và xuất bản cuốn bút ký Ngày Xưa Quê Mẹ khi đang còn là sinh viên mới của đại học Berkeley thời thập niên 1980. Người thứ hai là Phạm Vũ Anh Thư, ra tác phẩm thơ khi đang còn là sinh viên của Delta College thời thập niên 1990. Và, người thứ ba là Tâm Thường Định Bạch Xuân Phẻ hôm nay.

Tâm tri kiến, lòng nhân nghĩa và ý hướng hành thiện của Bạch Xuân Phẻ thể hiện qua tác phẩm đã là những dấu chỉ để nhận diện Anh như một thiện tri thức Phật giáo, một nhà giáo dục có tâm huyết và có lý tuởng nhân bản và khai phóng. Nhưng con đường anh đi xa tới đâu thì hoàn toàn tùy thuộc vào "nghề mọn riêng tay" của anh và thiện duyên chờ đón.

Đối với cá nhân người viết những dòng nầy, viết để giới thiệu về một Bạch Xuân Phẻ đã khó; viết về một Tâm Thường Định lại càng khó hơn. Khái niệm "khó - dễ" ở đây không nằm trong phạm trù ngôn ngữ hay tư tưởng mà nằm trong sự lý đời thường. Trong nếp cũ của một đời thường thì một người phân hai đã có nhiều ngõ ngách; huống hồ người khoác nhiều chiếc áo choàng và đứng nhiều vị thế như Bạch Xuân Phẻ là: Cư sĩ, Tiến sĩ, Thi sĩ, Văn sĩ, Giáo sư, Huynh trưởng GĐPT... thì những khúc quanh và những ngã rẽ trong tư tưởng và giữa cuộc đời càng phong phú biết chừng nào. 

Bạch cư sĩ và Bạch thi sĩ làm thơ rất sớm, từ tuổi hoa niên theo gia đình định cư ở Mỹ trong quá trình vừa trau giồi tiếng Việt, vừa hội nhập với môi trường tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức. Bạch Xuân Phẻ còn là tác giả của những bài thơ tiếng Anh đầy cảm xúc trong sáng. Anh cũng là dịch giả Anh - Việt, Việt - Anh những tác phẩm của mình. 

Và, Bạch văn sĩ cũng đã viết và xuất bản những tập truyện ngắn và bút ký đầu tiên khi còn là sinh viên mới bước chân vào ngưỡng cửa đại học Hoa Kỳ. Trong sinh hoạt giáo dục, Bạch Xuân Phẻ là một thầy giáo trung học chuyên ngành khoa học và đồng thời cũng là giáo sư thỉnh giảng của Hiệp Hội Giáo Chức Bang California về các đề tài tâm linh, tôn giáo mà đậm nét là về lý thuyết và thực hành Chánh Niệm (mindfulness) theo tinh thần Phật giáo. Đặc biệt nhất, Tâm Thường Định Bạch Xuân Phẻ là một Phật tử thuần thành. Anh góp mặt thường xuyên trên các diễn đàn truyền thông, những sinh hoạt bảo tồn và phát huy tinh thần hành trì Phật giáo tại Hải ngoại. Anh từng trình bày tham luận trước Đại hội Phật giáo Thế giới VESAK của Liên Hợp Quốc tại Thái Lan và trường Đại học Gautama Buddha ở Ấn Độ.

Điều đáng quan tâm trước nhất khi nói về Tâm Thường Định BXP là hiểu và thực hành pháp hạnh Thân giáo trong quan hệ tôn giáo cũng như ngoài cuộc đời. Nghĩa là lấy chính hành trạng của bản thân mình làm pháp khí và tài liệu sống thực trong quan hệ tu dưỡng và ứng xử. Trong sinh hoạt đời thường, Anh đã chinh phục được thiện cảm của các bậc tôn túc lãnh đạo tinh thần cũng như bằng hữu và người thân bằng chính phong cách trí thức mà chơn chất, thông thoáng mà hiếu hạnh, sáng tạo mà không vỡ bờ trong tất cả các sinh hoạt thường ngày của bản thân. Trong hoạt động văn nghệ nói chung và sáng tác nói riêng, Bạch Xuân Phẻ đã tỏ ra rất xông xáo vì tinh thần khai phá không ngừng nghỉ. Từ tác phẩm đầu tay Mẹ, Cảm Xúc và Em xuất bản năm 2004, đến nay vừa gần mười lăm năm qua, Bạch Xuân Phẻ đã cho ra đời hơn 10 đầu sách kể cả thơ, văn, bút ký, tham luận, luận án... Mỗi tác phẩm là một thế giới nhỏ riêng tư, nhưng nhìn chung đều có sự nhất quán là tấm lòng tri ngộ và tri ân của tác giả đối với đạo, với đời và người thân. 


Trong chiều họp mặt hội thảo và ra mắt sách nhân dịp cuối tuần, chiều Ngày Của Mẹ (Mother's Day) 12-5-2018 tại chùa Kim Quang, thành phố Sacramento, California, Bạch Xuân Phẻ sẽ giới thiệu nhiều tác phẩm được bạn đọc ưa chuộng; trong đó có nhiều bài thơ, bài viết được trình bày song ngữ Anh và Việt do chính tác giả sáng tác và chuyển ngữ. Ngoài ra những quyến sách tuyển chọn do nhà xuất bản Lotus Media, Inc. và Hương Tích Phật Việt xuất bản cũng sẽ được anh giới thiệu.


Với con đường Lập Ngôn như đã giới thiệu khái quát ở trên, Tâm Thường Định Bạch Xuân Phẻ đang để lại cho thế hệ mình và thế hệ đàn em những suy nghĩ, cảm xúc và dự phóng về những trải nghiệm và thử thách trong thời đại toàn cầu hóa đang diễn ra càng ngày càng sôi động.

Tiếng nói và nếp nghĩ của Tâm Thường Định Bạch Xuân Phẻ và thế hệ của anh vừa ghi dấu nội dung kế thừa của thế hệ đàn anh đang ra đi; đồng thời, cũng khẳng định một thái độ và con đường chọn lựa phù hợp với tuổi trẻ, niềm tin và hoàn cảnh cuộc sống cụ thể trong một xã hội phương Tây, giữa thời đại mới quanh mình.

Chúc tuổi trẻ lên đường vững tiến và thế hệ bắc cầu như Bạch Xuân Phẻ sẽ giúp hai thế hệ đàn anh và thế hệ đàn em người Việt ở quê người tuy có nếp sống và sự sinh hoạt độc lập, khác biệt nhưng không đoạn tuyệt với quá khứ và tách rời nguồn cội. 

Thực trạng tuổi trẻ Việt Nam ở hải ngoại đang ở trên một tiến trình Âu hóa, Mỹ hóa càng ngày càng nhanh. Những trí thức trẻ gốc Việt như Bạch Xuân Phẻ đang làm một chiếc cầu thế hệ tuy không nhiều nhưng cần được phát huy và hỗ trợ mạnh mẽ hơn. 

Con én không làm thành mùa Xuân; nhưng mùa Xuân - tự bản chất - vẫn muôn đời cần cánh én.
                        Sacramento. 8-5-2018
                        Nguyên Thọ Trần Kiêm Đoàn


Phe's books can be found here on Amazon. Please check it out. Xin giới thiệu một số sách của BXP trên hệ thống Amazon. 


Friday, August 26, 2016

Tiễn Biệt Bạch Xuân Thảo - Tâm trong bồ tát


Tiễn Biệt Bạch Xuân Thảo -
Tâm trong bồ tát


Chiều nay tôi đi lượm rác
Để nhớ em vừa mới qua đời
Em nhỏ bé mà trái tim bồ tát
Rất tầm thường mà cao quý Thảo ơi

Em là ai
Đến sau về trước
Tôi là ai
Đến trước về sau
Em cùng tôi chung một kiếp người
Đời bể khổ có muôn nghìn trong đục

Em lượm rác, bán lon làm từ thiện
Tôi cùng em quét bụi bám hiên chùa
Lấy mắt thương nhìn người nên chẳng thấy hơn thua
Tâm chỉ thấy mái chùa hồn dân tộc

Nghe không em
Tháng bảy thu về
Sao hôm vừa tắt
Em nhẹ nhàng theo gió bay đi
Bởi sắc không cọng rác bỗng từ bi
Vu Lan đến em trở về với mẹ
Tiếp dẫn đạo sư cung trời diệu lý
Đưa em về là tiễn em đi
Em về
Em đi
Lạy mẹ từ bi...

Sacramento 25-8-2916
Trần Kiêm Đoàn
(Tiễn biệt hương hồn Bạch Xuân Thảo để nhớ những ngày hai anh em mình lượm rác giúp đời ở công viên Natomas, California)

Tuesday, June 7, 2011

Điểm Thơ: HƯƠNG LÒNG của Bạch Xuân Phẻ - Trần Kiêm Đoàn

Điểm Thơ: 
HƯƠNG LÒNG của Bạch Xuân Phẻ. 

           Tại Mỹ trong thế kỷ nầy, có một tội nặng nhất mà pháp luật chưa ngó ngàng gì tới: Đó là tội "Giết thì giờ!" 
           Một sớm mùa Xuân cuối tuần nào đó, bạn thử vào thăm viện dưỡng lão hay bệnh viện của những người đang ở giai đoạn cuối của bệnh nan y, bạn sẽ thấy thời gian quý báu và quan trọng biết dường nào. Con người chiến đấu để được sống từng phút một. Thời gian không có đủ mà thở; lấy gì để giết?! 
          Thế mà người ta "giết" thật. Giết để làm thơ hay viết văn. Có khi một tâm hồn nghệ sĩ ngồi một mình thăm thẳm trong đêm để sáng tác một câu thơ, một đoạn văn. Nhưng liền sau đó hay sáng hôm sau lại tự mình xóa đi không thương tiếc. Song, trong biết bao nhiêu lần "lỡ dại" đó, người nghệ sĩ chợt khôn ra. Và bỗng một câu thơ tuyệt tác, một đoạn văn để đời hiện ra trên trang giấy. Câu thơ nở hoa; đoạn văn tỏa ánh sáng như từ một cung trời nào vừa rơi xuống. Người làm thơ đọc thơ mình; người làm văn đọc văn mình mà xúc động đến ràn rụa nước mắt. Nỗi mừng vui bột phát của người nghèo kiết xác, chỉ sau một giấc ngủ bỗng khám phá mình thành triệu phú có khi không bằng niềm vui của một vần thơ chợt hiện đến với người thi sĩ. Chỉ cần một phút được sống tràn đầy cảm xúc như thế thôi thì cũng đủ cứu sống lại từng chuỗi thời gian âm thầm "bị giết." Sáng tạo là phục sinh. Làm thơ là cứu sống những quá khứ thời gian trăn trở; là thức tỉnh những chớp mắt hiện tại; và thắp sáng rực rỡ những ước mơ và dự phóng cho tương lai. 
           Phải chăng vì thế mà Trần Tế Xương ngày xưa đã phá ra cười ngặt nghẽo, khen -- hay chê -- rằng: "Khôn nghề cờ bạc là khôn dại. Dại chốn văn chương ấy dại khôn!" 
           Trong số những người "dại khôn" đó, có người em -- vừa tuổi đạo, vừa tuổi đời -- mà tôi thực lòng mến phục: Bạch Xuân Phẻ, một người làm thơ trẻ mang trong lòng hai cảm xúc thiêng liêng, quê mẹ và quê người. 
            Có thể nói rằng, trong thi phẩm đầu tay "Cảm Xúc, Mẹ và Em" đã xuất bản và ra mắt bạn đọc ba năm trước, Bạch Xuân Phẻ chỉ mới dám đi những bước rất thận trọng trên con đường ngập nắng thi ca. Thơ Phẻ trong thời nầy như một con chim đứng trên cành quê hương xanh biếc đã thành quá khứ và quê người ửng hồng hướng về tương để hót líu lo. Trong khung cảnh êm đềm và quen thuộc của quê mẹ và quê em, nếu có lỡ "đậu phải cành mềm" thì cũng không đến nỗi nào "lộn cổ xuống ao" vì xung quanh Phẻ có đông anh em và bè bạn đều ưu ái và tâm đắc. 
            HƯƠNG LÒNG, thi phẩm thứ hai của Bạch Xuân Phẻ, đang nhoẻn cười trước mắt bạn, là cả một bước tiến đầy khích lệ và triển vọng trong hành trình thi ca của tác giả. Khái niệm "hành trình thi ca" chẳng có gì là đại ngôn hay cường điệu trong bước đi của Phẻ khi người làm thơ trẻ nầy đang cố lột xác vươn lên từ dòng thơ cũ. Phẻ làm thơ (chứ không phải dịch thơ) bằng song ngữ (Việt, Anh). Thơ tiếng Việt của Phẻ giàu cảm xúc chân phương về tình tự quê hương đất nước và tình yêu con người trong mối tương tác hài hòa giữa nhân sinh và tạo vật. Mối tương tác giữa đất nước và tình yêu đó khi bước lên một bước nữa vào dòng suy tư sẽ thành ra triết lý... đại ngã, vô thường: 
              Ai nhỏ bé trước thiên nhiên hùng vĩ 
              Nhịp tim nào thổn thức trước ngàn sao 
              Và tiểu ngã chan hòa cùng đại ngã 
              Ôi hư không! Em có nếm vô thường? 
                                           (Núi Rừng Bảo Pháp) 

           Thơ tiếng Anh của Phẻ có ưu thế về từ khá chọn lọc và sự diễn trực cảm, không quanh co với một điệu thơ rất... phương Tây: 
             The weather gets colder as an autumn night falls 
             Silence is bathed with the loneliness 
             Alone in a quiet and empty house 
            Which sadness is more misery than tonight? 
                                                (As the Cold Night Unfolds) 

            Nhưng thú vị và táo bạo nhất trong toàn tập thơ Hương Lòng là phân mục "Những bài thơ ngắn nhất!" Bạch Xuân Phẻ còn tỏ ra "thông thoáng" và ngắn hơn cả các thiền sư Nhật làm thơ Haiku. Cũng dễ như thơ lục bát Việt Nam -- dễ làm nhưng rất khó hay -- thơ Haiku giúp chuyển tải tư tưởng bằng "thiểu ngôn" hay vô ngôn. Nhưng vì tính nghệ thuật quá cao nên khó trở thành "đại chúng hóa." 
            Thơ ngắn nhất cuả Bạch Xuân Phẻ có những bài ngắn đến độ tưởng chừng như không còn và cũng không cần chữ nghĩa nữa. 
              "Bài thơ" ngắn nhất mở đầu là: 
                   Đầu hẻm 
                             một bầy trẻ 

Nhiều "bài" ngắn nhất chỉ có 3 chữ: 
                    Mẹ 
                          mênh mông 

Một chủ thể: Đầu hẻm, mẹ; và một đối tượng: Một bầy trẻ, mênh mông. Đơn giản thế thôi nhưng biết đâu cũng đủ nhấc dòng suy tưởng của con người bay bỗng, phiêu du... 

           Tập thơ Hương Lòng chuẩn bị ra đời trong mùa Vu Lan. Vu Lan có trăng tròn của em, có hoa hồng của mẹ và có những vần thơ của thi nhân. 
           Trăng tròn soi bóng đường đêm. Hoa hồng tỏa nồng tình thương Mẹ. Và những vần thơ gom hết trăng và hoa vào cảm xúc. 
Xin được trang trọng giới thiệu những trăng, hoa và cảm xúc trong thế giới thi ca của Bạch Xuân Phẻ đang về, đang đến và đang đi trên nẻo thơ qua thi phẩm Hương Lòng. 

Trần Kiêm Đoàn 
Natomas, mùa Xuân 2007