Showing posts with label Bùi Chí Trung. Show all posts
Showing posts with label Bùi Chí Trung. Show all posts

Saturday, September 12, 2026

NHỮNG CUỘC HẸN CHƯA THÀNH: Nhớ chị Đào Nguyên Dạ Thảo và một nhân duyên đẹp với Thầy Tuệ Sỹ

Bản PR mà chị Dạ Thảo nhờ Uyên Nguyên Trần Minh Triết làm để quảng bá

NHỮNG CUỘC HẸN CHƯA THÀNH: Nhớ chị Đào Nguyên Dạ Thảo và một nhân duyên đẹp với Thầy Tuệ Sỹ

Bạn Quảng Pháp/Uyên Nguyên nhắn tin cho hay chị Đào Nguyên Dạ Thảo, một họa sĩ tài ba mới có 61 tuổi, vừa rời cõi tạm. Tôi sững người, ngạc nhiên đến mức không thể tin đó là sự thật. Tôi vội gọi anh Bùi Chí Trung, lúc ấy đang ở Nhật, để hỏi thêm. Mãi một lúc sau, cơn bàng hoàng mới dịu xuống, nhường chỗ cho những kỷ niệm lần lượt trở về.

Tôi nhớ những lần chị làm sách cho Thầy Tuệ Sỹ. Hai chị em từng cố gắng quảng bá, phát hành, kêu gọi độc giả mua sách để đọc, rồi đôi khi lại mua thêm để tặng người khác. Mỗi lần chúng tôi tổ chức chương trình Có Mặt Cho Nhau, giới thiệu sách và các công trình văn hóa Phật giáo, chị gần như luôn là người gửi sách tặng chương trình. Có lần tại Tu Viện Đại Bi, chị không thể đến tham dự nhưng vẫn gửi Thiên Lý Độc Hành và Ngục Trung Mị Ngữ để trưng bày và trao tặng.

Giờ đây, nhìn lại hai cuốn sách ấy của Thầy Tuệ Sỹ và đọc lại những dòng tin nhắn cũ giữa chị và tôi, tôi chợt nhận ra: có những câu chữ khi được viết ra chỉ là một lời hẹn rất bình thường. Nhưng đến một ngày, khi người viết không còn nữa, những câu chữ ấy bỗng mang một sức nặng khác.

Tháng Tư năm 2025, chị Dạ Thảo nhắn cho tôi về dự định tổ chức một book festival, một cuộc gặp gỡ xoay quanh sách, văn hóa và những công trình nghệ thuật liên hệ đến Thầy Tuệ Sỹ. Chị cũng thực hiện cuốn Bồ Tát Quan Âm – Tín Ngưỡng và 50 Tượng Tuyển ở Nhật Bản của Giáo sư Bùi Chí Trung, rồi gửi cho tôi xem một mẫu sách và nhắn rất tự nhiên: “Đây là version bìa cứng.”

Một trong cái text cuối cùng với chị.

Chúng tôi bắt đầu bàn bạc và đã nghĩ đến một cuộc gặp. Nhưng rồi mẹ nuôi của chị ở Houston bất ngờ bị đột quỵ. Chị phải trở về chăm sóc bà. Căn phòng đã đặt tại Westminster Hall cũng phải hủy. Chị nhắn xin lỗi và nói một câu mà hôm nay đọc lại, tôi bỗng thấy lòng mình lặng xuống: “Mình sẽ có nhiều thời gian hơn để chuẩn bị nhé.” Mình sẽ có nhiều thời gian hơn…

Lúc ấy, ai cũng tin như vậy. Nhưng rồi cuộc hẹn ấy không bao giờ thực hiện được. Và đó cũng không phải là cuộc hẹn duy nhất. Có lần chị nhắc đến Đà Lạt, nơi chị ấp ủ một dự án hội họa, cũng là nơi chị dự định trở về sống những năm tháng hưu trí. Chị từng mời chúng tôi, giáo sư Bùi Chí Trung và tôi cùng chị trở về Đà Lạt, nơi chị đã sinh ra và lớn lên.

Chúng tôi đã hình dung một chuyến đi thật đẹp: gặp nhau ở Đamri hay giữa cao nguyên, thành phố mộng mơ Đà Lạt, thăm không gian nghệ thuật chị đang ấp ủ, nói chuyện về sách, hội họa, văn chương, rồi cùng đi lại những nơi còn lưu dấu chân Thầy Tuệ Sỹ.

Cuộc trở về ấy, trong dự tính của chúng tôi, không đơn thuần là một chuyến du ngoạn. Đó còn là một chuyến đi tìm lại dấu chân của Thầy. Nhưng cuộc hẹn Đà Lạt ấy rồi cũng chưa thành. Bây giờ nghĩ lại mới thấy đời người có biết bao nhiêu cuộc hẹn được gửi vào hai chữ “mai sau.” Ta thường nghĩ vẫn còn một mùa xuân khác, một chuyến đi khác, một ngày thuận tiện hơn. Nhưng vô thường không đi theo lịch trình của chúng ta. Chính vì vậy, những cuộc hẹn chưa thành ấy hôm nay không chỉ để lại tiếc nuối. Chúng trở thành một lời nhắc nhở về sự có mặt.

Nhân duyên của chị Dạ Thảo với Thầy Tuệ Sỹ là một nhân duyên đặc biệt. Có lần chị kể, qua nhà thơ Nguyễn Đức Sơn, chị được gặp Thầy tại Thị Ngạn Am, trong khuôn viên chùa Già Lam, vào năm 2001. (Xin được mở ngoặc là chị rất thân với Gia đình cố nhà thơ Nguyễn Đức Sơn và luôn giúp đỡ gia đình cố nhân sĩ này, cũng như đã bỏ tiền bạc và công sức xuất bản cuốn “Thơ và Đá” Thơ NGUYỄN ĐỨC SƠN do Văn Học Press xuất bản, 12/2019 với người viết tựa là Thầy Tuệ Sỹ gồm Ba ngôn ngữ: Việt - Anh - Nhật. Dịch sang tiếng Anh: Nguyễn Phước Nguyên. Dịch sang tiếng Nhật: Giáo sư Bùi Chí Trung và do chị làm biên tập. Nói chung chị là con người rất nhanh nhẹn, rộng lượng, từ bi và bác ái). Trong ký ức của chị, Thầy Tuệ Sỹ là một vị học giả uyên bác, thi sĩ tài hoa và bậc cao tăng thạc đức được nhiều người kính ngưỡng lại hiện ra hết sức bình dị: bộ đồ lam, đôi chân trần, ngồi trên chiếu, ngủ ngồi và tự tay rót trà mời khách. Chị thường nói đùa “chị là người ngoại đạo”, nhưng chị đến với Thầy bằng con đường văn học và nghệ thuật, rồi từ đó dành cho Thầy một niềm quý kính sâu xa. Chị đã nhìn thấy một Thầy Tuệ Sỹ rất gần với đời thường, bao dung và giản dị.

Thầy đang ký sách của Nguyễn Đức Sơn

Một vị Thầy có thể nói chuyện văn chương, kể chuyện những chuyến xe lửa từ Vạn Giã về Nha Trang, quan sát từng con người bình thường trên toa tàu, rồi từ đó hình thành ý tưởng cho truyện Chuyến Tàu Tốc Hành — trong đó cả địa cầu như một đoàn tàu đang lao đi, còn con người vẫn mải mê với những vui buồn, tranh chấp, thương yêu và tính toán của mình mà không biết phía trước là gì.

Chị cũng từng ngồi nghe Thầy kể về những năm tháng lao tù. Khi không có giấy bút, Thầy làm thơ rồi ghi nhớ từng câu trong tâm. Có lúc, Thầy dùng vật cứng viết chữ Hán lên tường hoặc nền nhà để người khác khó đọc được. Sau khi ra khỏi tù, từ ký ức ấy, những bài thơ được ghi lại và trở thành Ngục Trung Mị Ngữ. Có lẽ vì đã nhìn thấy cả hai phương diện ấy, một Tuệ Sỹ uyên áo trong tư tưởng nhưng vô cùng giản dị trong đời sống nên khi tham gia trình bày mỹ thuật và ấn hành những thi phẩm cuối đời của Thầy, chị Dạ Thảo không chỉ làm công việc của một họa sĩ. Chị còn giúp chuyển tải đến bạn đọc những hình ảnh rất đời thường, giản dị và thú vị về Thầy. Có lần Thầy cũng viết chữ “Thảo” tặng chị. Có thể nói, chị đã góp phần đưa một phần di sản văn học và nghệ thuật của Thầy đến gần hơn với bạn đọc trong và ngoài nước.

Cùng với Giáo sư Bùi Chí Trung và những người hữu duyên, chị đã góp công sức vào những ấn phẩm như Ngục Trung Mị Ngữ, Thiên Lý Độc Hành và những công trình liên hệ đến Thầy. Nhìn những cuốn sách ấy hôm nay, tôi hiểu rằng làm sách về Tuệ Sỹ không thể chỉ là chuyện chọn phông chữ, bố cục, hình ảnh hay màu sắc. Đó còn là một cách phụng sự văn hóa.

Mỗi trang sách là một phương tiện đưa tư tưởng, thi ca và khí phách của một con người đi xa hơn giới hạn của chính đời người ấy. Ở đó, tôi nghĩ đến ý nghĩa của Phật giáo dấn thân, dù chị vẫn thường khiêm tốn nhận mình là người “ngoại đạo”. Dấn thân không nhất thiết phải bắt đầu bằng những việc lớn lao. Có khi, dấn thân chỉ là làm thật đẹp một trang sách. Giữ lại một bản thảo hay chăm chút vẻ một bức ảnh. Tổ chức một buổi giới thiệu sách hay dịch một bài thơ hay. Gìn giữ một ký ức đẹp hay trao truyền một di sản tinh thần cho thế hệ sau.

Nếu Chánh pháp chỉ được đặt trang trọng trên bàn thờ mà không đi vào đời sống, thì ánh sáng của Chánh pháp vẫn chưa được tiếp nối trọn vẹn. Thầy Tuệ Sỹ đã sống một đời như thế. Thầy đi qua tù đày mà không đánh mất tự do nội tâm; đi qua những biến động dữ dội của lịch sử mà vẫn giữ được phẩm cách của người trí thức và giới hạnh của người xuất gia. Học thuật của Thầy không tách khỏi vận mệnh con người. Thi ca của Thầy cũng không trốn chạy khổ đau. Bởi vậy, gìn giữ di sản Thầy Tuệ Sỹ để lại không nên chỉ dừng ở sự tưởng niệm. Đó còn là sự tiếp nối. Tiếp nối tinh thần “duy tuệ thị nghiệp”, lấy giáo dục và văn hóa làm phương tiện. Tiếp nối tinh thần độc lập trong tư duy. Tiếp nối lòng từ bi trước khổ đau của con người. Tiếp nối trách nhiệm của người trí thức đối với văn hóa, giáo dục và xã hội. Và tiếp nối khả năng đứng giữa cuộc đời mà không để những biến động của cuộc đời làm mất đi tự do bên trong. Theo nghĩa ấy, những cuốn sách mà chị Dạ Thảo góp phần thực hiện cũng chính là một hình thức dấn thân. Và tôi tin rằng anh Bùi Chí Trung cũng sẽ tiếp tục con đường ấy. 

Trong cái nhìn Phật giáo, tất cả rồi cũng qua bốn giai đoạn thành-trụ-hoại-không. Thầy đã đi. Bây giờ chị Dạ Thảo cũng đã đi. Chúng ta rồi cũng sẽ ra đi. Giờ này còn lại trên bàn tôi là Ngục Trung Mị Ngữ, Thiên Lý Độc Hành, và những trang sách mà biết bao bàn tay đã âm thầm góp sức. Bỗng nhiên, sách trở thành kỷ niệm, thành hoài vọng, thành những ưu tư và những tiếp nối. Ở đó có bóng dáng Thầy. Có tâm huyết của chị. Có công sức của Giáo sư Bùi Chí Trung và những người cùng chung chí nguyện. Có cả một book festival làm chung chưa thành. Và có một Đà Lạt chưa kịp trở về.

Tôi vẫn từng hình dung một ngày nào đó, chúng tôi sẽ gặp nhau trên cao nguyên ấy: chị Dạ Thảo, anh Bùi Chí Trung, bạn thân của Thầy Tuệ Sỹ, và tôi đang hầu Thầy; cùng uống một chén trà, xem những bức tranh chị đang thực hiện, nói về những cuốn sách còn dang dở, rồi đi tìm một chút Chân – Thiện – Mỹ giữa sương lạnh Đà Lạt.

Thầy Tuệ Sỹ, Chị Đào Nguyên Dạ Thảo và anh Bùi Chí Trung gặp nhau ở Chùa Đức Lâm, Nagoya tháng Giêng, 2020 

 

Nhưng bây giờ, Thầy đã an nhiên thị tịch. Người hẹn cũng đã đi rồi. Có lẽ cuộc hành trình ấy, nếu một ngày được thực hiện, sẽ mang một ý nghĩa khác. Không còn là đi để gặp chị, mà là đi để làm điều gì có ích cho nhau và cho tha nhân. Phật giáo nói về vô thường không phải để con người bi quan trước sự chia lìa. Ngược lại, chính vì vô thường mà từng phút giây hiện hữu mới trở nên quý giá. Một cuộc gặp cần được trân trọng khi còn có thể gặp. Một lời thương cần được nói khi người kia còn có thể nghe. Một việc thiện cần được làm khi nhân duyên đang có mặt. Và một ước nguyện đẹp, nếu có thể thực hiện hôm nay, đừng mãi gửi về ngày mai.

Vì thế, điều còn lại sau sự ra đi của chị Dạ Thảo không nên chỉ là nỗi buồn. Đó có thể là một lời gởi gắm. Những dự án còn dang dở, những cuốn sách, những bức tranh, những câu chuyện về Thầy, và cả lời hẹn Đà Lạt chưa thành — tất cả nhắc những người ở lại rằng: Di sản chỉ thật sự sống khi có người tiếp tục mang nó đi vào cuộc đời.

Cảm ơn chị Dạ Thảo về một nhân duyên đẹp. Cảm ơn chị đã dùng đôi mắt của người nghệ sĩ để nhìn Thầy, dùng đôi tay của người làm mỹ thuật để gìn giữ những trang sách của Thầy, và dùng tình cảm của một người hữu duyên với Phật pháp để lưu lại cho chúng tôi những ký ức thật gần gũi, thật người về Thầy Tuệ Sỹ.

Cuộc hẹn triển lãm sách ở Westminster còn thiếu duyên. Cuộc hẹn dạo chơi ở DaoNguyen Art Village ở Đà Lạt cũng chưa thành. Nhưng có lẽ, trong tinh thần duyên khởi, một cuộc hẹn không thành không có nghĩa là một tâm nguyện đã mất. Người này đặt xuống, người khác tiếp nhận. Một bàn tay buông ra, một bàn tay khác tiếp nối. Một đời người khép lại, nhưng hạnh nguyện vẫn có thể tiếp tục đi.

Thầy đã thiên lý độc hành. Chị cũng vừa bước sang một nẻo thiên lý khác. Còn anh Trung và chúng tôi, những người ở lại trong những cuộc hẹn hò dang dở ấy, xin tiếp tục cuộc hành trình bằng những việc mình có thể, để văn hóa được gìn giữ, để Chánh pháp tiếp tục đi vào cuộc đời, và để những hạt giống đẹp mà người đi trước đã gieo không bị trôi vào lãng quên.

Mai này, nếu có dịp trở lại Đà Lạt, có lẽ chúng tôi vẫn sẽ thực hiện một buổi Có Mặt Cho Nhau để nhớ về chị. Chỉ khác rằng, giữa chén trà, sương núi và những đóa hoa Đà Lạt sẽ thiếu bóng dáng và đôi mắt sâu hun hút của Thầy, sẽ thiếu một người hiền lành có nụ cười tươi như hoa của chị. Nhưng biết đâu, trong một cánh thông lay, một áng mây ngang núi, hay một khoảng lặng giữa câu chuyện, chúng tôi lại nhận ra: Người đi không hẳn đã mất. Khi hạnh nguyện còn được tiếp nối, người vẫn đang cùng chúng ta thong dong khắp mọi nẻo đường.

Xin thành kính chia buồn cùng gia đình chị và bé Dali. Ngưỡng nguyện hương linh chị Đào Nguyên Dạ Thảo xả bỏ báo thân, tùy duyên thiện nghiệp, thênh thang trên nẻo về.

Nguyện những tâm nguyện về văn hóa và nghệ thuật mà chị còn để lại sẽ tiếp tục được những người hữu duyên nâng niu, gìn giữ và tiếp nối. Và nguyện cho bé Dali luôn được nâng đỡ bởi tình thương, lớn lên thành người như điều chị từng mong nguyện. Rest In Peace, Chị. Xin tiễn nhau đây.

Hẹn xưa chưa tròn
Đào Nguyên Dạ Thảo
Thong dong qua đồi.

Our old promise unfulfilled
Đào Nguyên Dạ Thảo
Wanders freely beyond the hill

Nam mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

Bạch Xuân Phẻ



Monday, December 16, 2024

Lê Nguyễn: Tín ngưỡng Quan Âm, một đề tài độc đáo trong nghiên cứu Phật giáo

 

Tiến sĩ Bùi Chí Trung năm nay chưa đến 80 tuổi, song anh đã có một khoảng thời gian 55 năm sống ở nước Nhật! Xuất dương du học năm 1969, anh lấy bằng Tiến sĩ Nông học tại trường Đại học Nagoya, giảng dạy tại Đại học Aichi Shukutoku và tham gia vào nhiều tổ chức, dự án văn hóa và phát triển trên đất nước Phù Tang này.

Tuy xa quê nhà khá lâu, Bùi Chí Trung vẫn không để thời gian làm phai nhạt ký ức về nguồn cội của mình. Anh đã nhiều lần về Việt Nam, tham gia vào những công trình văn hóa, nghiên cứu và phục hồi di sản của cha ông. Anh từng góp mặt trong chương trình trùng tu lăng Minh Mạng với sự tài trợ của tổ chức Toyota Foundation vào cuối thập niên 1990.

Năm 2021, sau một thời gian dài nghiên cứu phế tích Mỹ Sơn, nơi từng được tổ chức Giáo dục-Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới (1995), anh hợp tác cùng nhà nghiên cứu Trần Kỳ Phương, nguyên Quản thủ Bảo tàng Điêu khắc Chăm – Đà Nẵng, biên soạn tác phẩm “Phế tích Mỹ Sơn, cánh cửa mở vào nghệ thuật cổ Champa” (NXB Đà Nẵng – 2021).

Đầu năm 2020, tại thành phố Nagoya của Nhật Bản, một cuộc kỳ ngộ đã diễn ra giữa TS Bùi Chí Trung và Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, bậc chân tu mà tài năng và nhân cách đã làm rung động hàng triệu trái tim Việt Nam và thế giới. Mối duyên này đã tạo điều kiện cho anh đóng góp tích cực vào việc giới thiệu với người đọc trong và ngoài nước hai tập thơ của thầy Tuệ Sỹ: Thiên lý độc hành (NXB Đà Nẵng 2021, 2023) và Ngục trung mị ngữ (NXB Đà Nẵng 3/2024). Trong cả hai tập thơ ấy, Bùi Chí Trung nhận lãnh phần dịch thơ Tuệ Sỹ sang tiếng Hán Nôm và tiếng Nhật.

Trang bìa tác phẩm “Bồ Tát Quan Âm – Tín ngưỡng và 50 tượng tuyển ở Nhật Bản” của Tiến sĩ Bùi Chí Trung

Trong một dịp hội ngộ và thảo luận nhiều vấn đề, căn cứ vào những hiểu biết của anh về Phật học, nhất là về hình tượng Bồ tát Quan Âm, thầy Tuệ Sỹ gợi ý và động viên anh viết về vị Bồ tát được nhiều người biết đến nhưng sự hiểu biết về các vấn đề liên quan thì chưa bao nhiêu. Từ sự khuyến khích của bậc chân tu và những nỗ lực của bản thân, TS Bùi Chí Trung miệt mài đọc và miệt mài viết, cuối cùng, anh cũng đã giới thiệu được với người đọc tác phẩm “Bố tát Quan Âm – Tín ngưỡng và 50 tượng tuyển ở Nhật Bản” (NXB Đà Nẵng – quý 4/2024).

Như ta đã biết, với đa số người Việt Nam, Bồ tát Quan Âm là một phụ nữ dịu dàng luôn ra tay tế độ người ngay và biến thân cứu giúp người gặp nạn. Cũng từ ý tưởng đó mà vị Bồ tát này còn được gọi là “Phật Bà Quan Âm”. Song theo lịch sử của Phật giáo từ lúc khởi thủy, Bồ tát Quan Âm không hẳn là người nữ.

* Trong chương I của tác phẩm, tác giả đề cập đến tín ngưỡng Quan Âm xuất phát từ Ấn Độ vào thế kỷ thứ nhất thuộc Công nguyên và phải đến thế kỷ thứ 5, tín ngưỡng này mới thịnh hành ở Trung Hoa kèm với câu tục ngữ “Gia gia Quán Thế Âm, Xứ xứ A Di Đà Phật”.

Tại vùng bán đảo Indochina (bán đảo Ấn-Trung), tín ngưỡng Quan Âm được truyền bá dọc theo con đường tơ lụa trên biển và sự phù hộ của Bồ tát Quan Âm cho người đi biển là dấu ấn rõ nét nhất của tín ngưỡng này. Cũng từ đó hình tượng Quan Âm Nam Hải được thờ phụng tại các chùa nằm dọc theo con đường tơ lụa trên biển.

Một trong những điểm đặc biệt mà TS Bùi Chí Trung đề cập đến trong phần đầu tác phẩm là sự phân biệt hai khái niệm “hóa thân” và “ứng thân” ở Bồ tát Quan Âm mà không mấy người nhận thức được một cách rõ ràng. Tác giả phân tích rõ Hóa thân là hình tượng Quan Âm biến tướng ra thành nhiều Quan Âm khác nhau, với những tên gọi khác nhau; còn Ứng thân là những dạng tướng xuất phát từ hóa thân Quan Âm, ứng hiện để cứu độ chúng sinh, dưới các hình tướng khác nhau và gần gũi với đời thường như Tỳ khưu, cư sĩ, trưởng giả, phụ nữ, …

Như vậy, ở khái niệm Hóa thân, hình tượng Quan Âm vẫn là Quan Âm, chỉ khác nhau ở tên gọi và các chi tiết phụ trên trang phục; còn Ứng thân là hình tượng được ứng biến khác hẳn với Quan Âm và gần gũi với cõi nhân gian. Từ khái niệm này, có 33 Hóa thân Quan Âm ở Nhật Bản được đặt tên theo các vị thần ở Ấn Độ và Trung Quốc như: Dương Liễu, Bạch Y, Thanh Đầu, Ngư Lam, Thủy Nguyệt … Bạch Y Quan Âm (Quan Âm mặc áo trắng) và Dương Liễu Quan Âm (Quan Âm tay cầm nhành dương liễu) là những hóa thân mà chúng ta thường thấy được thể hiện ở các chùa chiền và nhiều nơi thờ phụng khác.

Hai tượng Bồ tát Quan Âm trong nền văn hóa Champa, một vào thế kỷ X, tìm thấy ở Quảng Bình (trái); một vào thế kỷ thứ VIII-IX, tìm thấy ở Bình Định

Xuất phát từ 33 Hóa thân, tín ngưỡng Quan Âm cũng có 33 ứng thân tương ứng như: Phật thân, Bích chi Phật, Thanh Văn, Phạm Vương, Đế Thích, Trưởng giả phụ nữ, Cư sỹ phụ nữ, Tể quan phụ nữ, Dạ Xoa, A Tu La…. Đó là những khái niệm cơ bản trong tín ngưỡng Quan Âm.

* Chương II của tác phẩm dành cho những kiến thức cơ bản về tượng Phật ở Nhật Bản, các phương pháp tạc tượng và phục chế tượng qua các thời kỳ lịch sử. Tác giả cho biết sau khi Phật Thích Ca nhập diệt và trà tỳ, đối tượng của tín ngưỡng Phật giáo chỉ là Xá lợi hay Tháp Xá lợi. Phải chờ đến cuối thế kỷ thứ nhất thuộc Công nguyên, dưới ảnh hưởng của mỹ thuật La Mã và Hy Lạp, những tượng Phật đầu tiên mới được chế tác tại Gandhara thuộc vùng Tây Bắc Pakistan ngày nay.

Ở Nhật Bản, mãi đến thế kỷ thứ VI, những tượng Phật đầu tiên mới bắt đầu xuất hiện dưới dạng cống tặng từ nơi khác và việc xây chùa, tạc tượng mới trở nên rầm rộ vào thế kỷ thứ VII.

* Cuối cùng, TS Bùi Chí Trung đã dành gần trọn chương III dài trên 120 trang khổ lớn để giới thiệu 50 tượng Bồ tát Quan Âm được tuyển chọn từ các cơ sở tôn giáo trên toàn nước Nhật. Đó là những tác phẩm được chế tác trong những khoảng thời gian và không gian khác nhau, bằng nhiều kỹ thuật khác nhau. Mỗi pho tượng được tác giả giới thiệu các chi tiết liên quan như: danh xưng, loại tượng, niên đại chế tác, chất liệu và phương pháp tạo tượng, chiều cao, tác giả, loại di sản văn hóa…

Ngoài các tượng Thiên thủ Quan Âm Bồ tát (Bồ tát Quan Âm có một ngàn tay), người xem ghi nhận sự hiện diện của khá nhiều tượng Thập Nhất Diện Quan Âm (Quan Âm có 11 gương mặt), với một gương mặt chính và 10 gương mặt nhỏ được tạc quanh đầu pho tượng. Liệu có thể xem đây là cách chế tác tượng độc đáo riêng của nước Nhật, vì hầu như chúng ta không thấy, hay rất ít thấy, hình thức “Thập Nhất Diện Quan Âm” tại các cơ sở thờ tự ở Việt Nam?

Chỉ riêng chương III đã cho độc giả một khối lượng hình ảnh tư liệu đồ sộ được chắt lọc từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau, được chụp bằng những kỹ thuật tinh tế, làm nổi bật từng góc cạnh của các pho tượng.

Với nỗ lực của tác giả, của Thư quán Hương Tích mà người sáng lập là Hòa thượng Tuệ Sỹ và hiện người kế tục là thầy Hạnh Viên, của nhà xuất bản Đà Nẵng, cùng nhiều thân hữu khác, tác phẩm dày trên 260 trang khổ lớn (21,6 x 27,9 cm), ảnh màu in trên giấy trắng, láng và dày, được phát hành tại Thư quán Hương Tích ở số 2/5 Đoàn Thị Điểm – Phường I – Quận Phú Nhuận – TPHCM.

Trân trọng

Lê Nguyễn
1.12.2024

TS Bùi Chí Trung và Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ (trái) tại Nara (Nhật Bản) năm 2020
TS Bùi Chí Trung và Giáo sư Lê Mạnh Thát (trái), người viết lời giới thiệu tác phẩm Bồ tát Quan Âm …
Một số trong 33 hình tướng hóa thân Bồ tát Quan Âm, trích từ sách “Phật tượng đồ vị” của họa sư Nhật Tosa Hidenobu vẽ năm 1783
Tranh vẽ “Quan Âm tam thập tam ứng thân đồ” (33 ứng thân của Bồ tát Quan Âm) vào thế kỷ XV
Tượng Thiên thủ Quan Âm chùa Doojooji (Đạo Thành Tự) tại Wakayama
Tượng Thập nhất diện (Thiên thủ thiên nhãn) Quan Âm (11 gương mặt, 1000 tay, 1000 mắt) chùa Juhooji (Thọ Bảo Tự) tại Kyoto
10 gương mặt nhỏ tạc quanh đầu pho tượng Thập nhất diện Quan Âm chùa Hokkeji (Pháp Hoa Tự) tại Nara