Thursday, March 29, 2018

STILL THERE


Oak tree - Photo: BXK


STILL THERE

A misty morning
The tree asks the rocks: are you freezing?
Our breaths suddenly become holy smoke
A quiet realm, lonely--immensity...

In the early morning, the East embraces freezing cold and the West combats the wildfire
While others recycling the wastes to make a living
The body is thin, quietly doing their tasks in the dusty and windy environments
Listen to our own hearts, wake up--feeling as stranger in the foreign land.
        
The loneliness seeps the quietness alone
Waiting for the old calendar fade away
A personal dream or common realm that we all endure
Our hands are shaking—fatigue while our shoulders are skinny and weak!

Phe Bach

Saturday, March 24, 2018

Vĩnh Hảo: Dòng Sông Ði Qua

Vĩnh Hảo: Dòng Sông Ði Qua

Sông Hằng (Ảnh: Trần Trung Ðạo)
 “You could not step twice into the same river— Heraclitus
Khi dòng sông phút trước không còn là dòng sông phút sau, thì đời người phút trước cũng không giống đời người phút sau.
Theo dòng thời gian, mọi thứ trôi qua còn nhanh hơn thế nữa.
Nhưng thời gian có không, trong sự dịch chuyển của đơn vị vật chất nhỏ nhất (neutron, proton, quantum, photon…)? Một phần triệu giây, hoặc ngắn hơn! Có đơn vị thời gian nhỏ nhất hay không? Có tên gọi cho một khoảnh thời gian quá nhỏ nhiệm như thế không? Thời gian, đối với lý thuyết vật lý hiện đại, chỉ còn là một khái niệm, dường như có, dường như không, hoặc không hề tồn tại, hoặc tồn tại như một ảo tưởng, ảo giác từ tâm thức, hoặc như là một mộng ảo từ sự sinh diệt của một lượng tử, một hạt ‘ánh sáng’ hay ‘sóng’ mơ hồ tức-hữu tức-vô. Long Thọ (1) từ thế kỷ thứ hai chẳng đã từng nói là không làm gì có thời gian hay sao! (2) Vì thời gian do nơi vật thể mà có; mà vật thể như photon (hạt căn bản—elementary particle) còn không thể nói là có hiện hữu như là một “vật” thì thời gian làm gì hiện hữu? (3)
Dù sao, trong cuộc sống hàng ngày, trong hiện tượng dịch chuyển của vật chất hay tinh thần, của con người và mọi sự mọi vật, người ta không thể phủ nhận có một dòng chảy, một dòng biến thiên, thay đổi, tương tục, trong từng khoảnh khắc vi tế nhất (mà đạo Phật gọi là sát-na sinh-diệt).
Và người ta không thể phủ nhận có dòng sông trôi qua những xóm làng; với những bờ lau, bãi cỏ, những hàng cây rũ bóng trên mặt nước phù sa.
Đời người cũng trôi qua như một dòng sông.
Ngày đón mặt trời, đêm hứng trăng sao, tranh vân cẩu trải dài năm tháng.
Nước xuống, nước lên, cuốn theo vô số những bùn đục hỉ, nộ, ái, ố…
Bên lở, bên bồi, đẩy đưa thuyền bến nọ, bờ kia.
Nào người giặt giũ, tắm mát; nào người phóng uế, xả rác… sông vẫn lặng lờ, kham nhẫn, cưu mang và chuyên chở tất cả.
Và cũng có khi gió lặng, sóng yên, nước trong veo ảnh hiện một vầng trăng vằng vặc, ngời sáng.
Sông như thế, đời người cũng thế, vẫn một dòng trôi xuôi về biển lớn.
Hãy sống như một dòng sông. Đừng ngăn bít, đắp bờ, dựng cọc, che chắn đường ra đại dương. Đừng tự biến con sông thành vũng, thành hồ, rồi vui thích, đắm mình trong nước đọng ao tù.
Dòng sông, hãy trôi, và hãy qua đi… 
California, ngày 24 tháng 3 năm 2018
Vĩnh Hảo
_____________
(1) Long Thọ – Nāgārjunavị luận sư lỗi lạc của Phật giáo, sinh và mất tại Nam Ấn khoảng từ năm 150 đến 250 A.D. (sau công nguyên); tác giả của những bộ luận nổi tiếng, ảnh hưởng sâu rộng trong nền tư tưởng, triết học Phật giáo như Trung Luận, Thập Nhị Môn Luận, Đại Trí Độ Luận, Hồi Tránh Luận…
(2) Trung Luận, phẩm Quán Thời thứ 19, bài kệ thứ 5, bản dịch của HT. Thích Thiện Siêu, trang 213: “Thời đứng yên không thể có được, thời đi qua cũng không thể có, nếu thời không thể có được, thời làm sao nói tướng thời.” (Nói cho rõ hơn: thời gian đứng yên không thể có, thời gian trôi đi cũng không thể có; nếu thời gian không thể có thì làm gì có tướng trạng của thời gian!)
“Thời trụ bất khả đắc / Thời khứ diệc phả đắc,
Thời nhược bất khả đắc / Vân hà thuyết thời tướng!”
時住不可得 時去亦叵得
時若不可得 云何說時相
 (2) Sđd., bài kệ thứ 6, trang 214: “Nhân nơi vật thể nên có thời gian, lìa vật thể thì đâu có thời; nhưng vật thể còn không có, huống gì có thời.”
“Nhân vật cố hữu thời / Ly vật hà hữu thời
Vật thượng vô sở hữu / Hà huống đương hữu thời.”
因物故有時 離物何有時
物尚無所有 何況當有時

Sunday, March 18, 2018

THREE SHORT POEMS by Phe Bach


THREE SHORT POEMS 


1

As the dawn unfolds, the fog is disappearing
As life unfolds, we're changing...
Life and death is as light as a ray of sunlight
Time flies as the coming and going of sunshine.


2

Just like that, half of our lives traveling the world,
Raindrops, the rays of sunshine – the remedy of relaxing our heart
Tonight, the haves and have-nots are insignificant!

3

Wandering the empty alleys in the quiet streets
There are homeless people taking naps at ease
Suddenly, realizing an empty coffin that we’re all will laying inside.


3 Bài thơ LỤC BÁT BA CÂU - Đọc tiếng Việt ở đây!


                                                                                               

KÍNH TIỄN NI TRƯỞNG 'HƯ HƯ LỤC'


KÍNH TIỄN NI TRƯỞNG 'HƯ HƯ LỤC'
Một đôi thùng gánh hai trăng
Một tâm tư trải mấy hằng hà sao (thơ Như Thủy)

Hư Hư Lục vẫn muôn đời còn đó
Tấm thân nào huyễn hóa, tự do
Tâm tự tại, đến đi không mặc
Người thong dong đã tỏ lối về.

Pháp mầu nhuộm bước sơn khê
Đông Tây thệ nguyện Tâm Bồ Đề sanh
Huệ Hạnh rủ sạch phong trần
Qua đi, qua hết... trong ngần Phật Tâm.

Gate, Gate, Paragate, Para Sam gate Bodhi Svaha. 
Gate, Gate, Paragate, Para Sam gate Bodhi Svaha. 
Gate, Gate, Paragate, Para Sam gate Bodhi Svaha.


Wednesday, March 14, 2018

Đào Tấn: Linh Phong Ký Sự

Lời dẫn: Hôm nay ngày 24 tháng Giêng cũng là ngày Lễ Hội Chùa Ông Núi - Linh Phong Thiền Tự xin đăng lại bài viết của nhà văn hóa Đào Tấn: Linh Phong Ký Sự. (Trí Nguyễn)



L.T.S: Đào Tấn - nhà văn hoá lớn của nước ta, không chỉ là nhà soạn tuồng kiệt xuất, nhà thơ tài ba, ông còn để lại nhiều áng văn hay. Chúng tôi xin giới thiệu bài viết của ông về Chùa Linh Phong, một ngôi chùa đẹp nổi tiếng ở Bình Định trước đây. Bài dịch trích trong tập bản thảo "Văn Tế Ở Bình Định" của Lộc Xuyên Đặng Quý Địch.


Cách thành Đồ Bàn hơn ba mươi dặm vê hướng đông bắc, quanh các thôn Phương Phi Phương Thái thuộc vùng biển đều là núi non cả (trong quần sơn này) nổi lên một ngọn núi cao chót vót, xinh xắn, đứng một mình, đó là ngọn núi có chùa Linh Phong. (Nơi này) rừng suối cây đá có vẻ đẹp kín đáo và thanh cao không đâu bằng. Có thể nói đây là ngọn núi đẹp nhất tỉnh ta.

Vào năm thứ mười một đời vua Hiếu Minh (Quốc chúa, Minh Vương, Nguyễn Phúc Chu) ở triều trước nước ta, nhằm năm thứ 23 niên hiệu Chánh Hoà nhà Lê, tức năm Nhâm Ngọ (1702) có Mộc Y Sơn, ông tu tại núi này. Kết vỏ cây làm áo, mùa đông mùa hè vẫn mặc như thế, ung dung sống bên sườn núi, trong hang đá, ra vào không ai định trước được. Người trong vùng chẳng biết họ tên ông (nhân thấy ông ở trong núi, gọi ông là Sơn Ông (Ông Núi). Khảo tự phổ riêng của chùa (Linh Phong) cùng bài vị các đời trụ trì thờ tại chùa, thấy có ghi ông họ Lê tên Ban, người ở kinh đô Trung Quốc. Gọi Sơn Ông là Lê Ban chưa biết đúng không hoặc ông là người giấu tên trốn đời, sống hoà mình vào đám người chằm nón đốn củi dệt chiếu câu cá cũng chưa biết chừng! Ông ở núi này được vài năm thì chọn lưng chừng núi chỗ có con suối sâu và dài, phát cây hoang, vác đá lớn xếp chỗ nọ, lắp chỗ kia, lấy thanh tre làm một cái am nhỏ (công việc xây dựng nhanh chóng như có quỷ thần dị vật ngầm giúp). Am cất xong, đặt tên là: "Dũng Tuyển Tự" (Chùa Dũng Tuyển" gối đầu vào ngọn núi rất cao, cạnh con suối trong luôn có nước chảy, hai bên có mây già đá lạ, cây kỳ, hoa nổi tiếng, chỗ cao chỗ thấp chứa sẵn cái vẻ rất yên tĩnh và rất sạch sẽ. Cảnh trí này đều do tay ông sắp đặt lấy với tâm hồn của người thợ, lập riêng thành thế giới cỏn con giữa cõi trời và cõi người. Phía tả chùa có gian nhà đá, nóc bằng như trần nhà, hai bên thẳng như vách, giữa như giường nằm, ngoài như bậc thềm, như sân. Trên mặt sân đá về phía hữu có chỗ lõm xuống, có truyền thuyết cho rằng đây là cối giã gạo của Sơn Ông. Hoặc cho rằng: "Ông chứa nước nơi này để đổ vào nghiên khi mài mực". Thiên nhiên sắp đặt, nghiễm nhiên thành một ngôi nhà nhỏ. Lúc rảnh rỗi ông thường đến chơi trong nhà đá, một mình ngồi niệm kinh, nay do chỗ này mà tưởng tượng được cách sinh hoạt của ông. Tương truyền ban ngày ông ở trong núi đốn củi, bó thành bó lớn, phải sức của hai người khiên nổi, vậy mà chỉ một mình ông vác xuống chân núi, đặt bên đường. Người qua lại đều biết là chỉ của Sơn Ông, bèn đem rau gạo mà đổi. Ông hoặc đồng tử xuống núi lấy gạo rau rồi đi, chưa từng đối đáp một ai về việc đổi chác nhiều ít thế nào. Ngày khác cũng vậy như thế được mười mấy năm không thể biết được tung tích. Núi nhiều cọp chỉ một mình ông ở với một đồng tử, người với cọp beo như quen biết nhau, quên vật quên mình. Xưa có ông Đồng Cảnh Đạo ẩn trong núi Thương Lạc, mặc áo lá cây, gảy đàn ca hát, tự lấy thế làm vui, trùng độc và thú dữ qua lại bên cạnh. Như Sơn Ông đây là nhà sư (mà hành tung có khác gì bậc ẩn giả kia. Ôi (nếu không phải thế thì) sao dạo biển chơi mây rồi cuối cùng thì gửi dấu nơi núi này?

Kịp đến năm thứ 8 đời vua Hiến Ninh (Ninh Vương, Nguyễn Phúc Chú) nước ta, nhằm cuối năm Vĩnh Khánh thứ 4, đầu năm Long Đức nguyên niên nhà Lê, tức cuối năm Nhâm Tý đầu năm Quí Sửu (1732) vua khen ông là bậc chân tu, sai trùng tu chùa. Chùa tranh thành chùa ngói bắt đầu từ đây. Vua ban tên chùa là: "Linh Phong Thiền Tự" bên tả khắc "Vĩnh Khánh Quí Sửu xuân vương chính nguyệt = tháng giêng năm Quí Sửu Vĩnh Khánh nhà Lê", bên hữu khắc: "Quốc chúa ngự đề = chính tay Quốc chúa" và ban ngự liễn: 
"Hải ngạn khởi lương nhân, pháp vũ phổ thiên tư Phật thổ.
Linh Phong ngưng thụy khí, tường vân biến địa ấm nhân gian!"

(Bờ biển dấy nhân hay, mưa khắp trời nhuần Phật thổ;

Núi Linh ngưng khí tốt, mây lành rợp đất hộ nhân gian!)

Bên tả khắc "Quí Sửu cốc đán = Buổi sáng tốt năm Quí Sửu". Bên hữu khắc "Quốc chúa ngự đề". Dưới bốn chữ "Quốc chúa ngự đề" ở tấm biển và ở câu liễn này đều có khắc "Thần ngự bửu tỉ = ấn báu" "Thần ngự" của nhà vua. Vua còn ban cho Sơn Ông hiệu Tịnh Giác Thiện Trì Đại Lão Thiền Sư.

Vào năm thứ 3 đời vua Hiếu Võ (Võ Vương Khúc Khoát) nước ta, nhằm năm thứ nhì niên hiệu Cảnh Hưng nhà Lê, tức năm Tân Dậu (1741), vua sắc triệu Sơn Ông về kinh để hỏi về giáo lý đạo Phật. Ông chống gậy tầm xích đến chơi nơi vua đóng đô, chưa đầy tháng thì đã từ tạ xin về. Vua ban một bộ áo cà sa có vòng ngọc móc vàng làm pháp phục, ân sủng thật hiếm có. Trong loạn lạc thời Tây Sơn chùa bị đổ nát, chính là lúc ông qua đời, tăng chúng các chùa họp lại lo việc mai táng cho ông, tháp xây bên hữu chùa. Tại tháp có câu liễn:

"Quyển Thạch tiệm thành sơn, thản thản u trinh Thường Lạc thổ.
Chúng lưu nan vi thuỷ, mang mang không tế Động Đình Thiên!"


(Góp đá dần thành non, u nhã phẳng phiu đất Thường Lạc;
Họp dòng khó nên nước, hư vô man mác trời Động Đình!)


Bên hữu viết: "Ngụy Thái Đức bát niên = Năm thứ 8 hiệu Thái Đức (1785) nhà Tây Sơn", nay vẫn còn. Do đó biết ông viên tịch thời Tây Sơn.

Sau khi Thế tổ Cao Hoàng Đế nhà Nguyễn ta định rồi. Triều đình vâng mệnh hỏi han đến tình trạng chùa Linh Phong. Năm Gia Long thứ 7 Mậu Thìn (1808), triều đình phụng mệnh truyền ý chỉ của Thánh Mẫu Hiếu Khương Hoàng Hậu rằng: "Vật thường trụ của Chùa Linh Phong (đã đổ nát) không ai được lấy càn, để đợi trùng tu". Năm Minh Mệnh thứ 7, Bính Tuất (1826) vua sắc trấn thần đệ tương pháp phục triều trước đã ban cho Sơn Ông để vua xem, rồi ra lệnh theo cách thức cũ chế một bộ cà sa mới có móc vàng và vòng (kim loại) tạc hình voi, ban cho Chùa Linh Phong làm vật để thờ ông. Vua còn lệnh xuất kho trong cung một trăm hai mươi lạng bạc, sai Trấn thần trùng tu chùa, nên đài giảng kinh ấy, ghế ngồi nói Pháp ấy trang nghiêm không đâu bằng, cỏ non thông lớn đều thấm nhuần ơn mưa móc mà Sơn Ông chưa kịp thấy. Có thuyết nói rằng: "Khoảng niên hiệu Minh Mệnh (một đêm) vua không được khoẻ, vừa chợp mắt thì mộng thấy được một nhà sư già mặc áo vỏ cây, đứng bên giường ngọc mà quạt hầu. Rạng sáng hôm sau mình rồng khoẻ khoắn, vua đem điều chiêm bao nói cho quan chấp chánh biết, nhân đó nhớ chuyện Mộc y Ông ở Chùa Linh Phong về triều trước, vua làm lấy lạ (cho sự linh dị của Sơn Ông) bèn ra lệnh trùng tu chùa. Ôi! Ông cũng lạ lùng thay! Mặc áo vỏ cây làm sư, cửa vàng yết chúa, nhà đá niệm kinh, giường ngọc hiển mộng, qua lại cõi trần sắc tướng không không, nay tên ông cùng tên núi đều truyền, đáng làm thắng tích ở tỉnh ta.

Giữa niên hiệu Kiến Phúc, Hàm Nghi, Tấn tôi bỏ quan về nhà ở phía nam kinh đô, gửi thân nơi cửa thiền để tránh loạn, kiệu chàm gặp trúc thường qua lại núi này chùa này. Người xưa một năm ở núi quá nửa. Tấn tôi lúc bấy giờ cũng tương tự như thế. Lúc ở núi, nhân hứng có đề mấy câu vụng về, nay ghi lại đây vài câu liễn:
"Thập niên hồ hải qui lai mộng 
Nhất kỉnh yên hoa tự tại thiên!" 

(Một cảnh khói hoa trời tự tại,

Mười năm hồ hải giấc qui lai!) 


"Giai sĩ từ bi ninh thị Phật,

Sơn Ông danh tự bán nghi tiên !"
(Đây học trò lành âu cũng Phật,
Đó Ông Núi gọi nửa ngờ tiên!)


Lại đề một câu liễn nhỏ tại nơi ở là ngôi nhà nhỏ cạnh ngôi chùa:
"Thạch thất niên thiên huỳnh hổ ngoạ,
Hoạ trì thập nguyệt bạch liên khai"


(Nhà đá cọp vàng nằm ngàn thuở
Ao hoa sen trắng nở đầu đông)


Đó là tả cảnh thật. Ở núi rỗi việc, bèn sưu cầu di tích của Sơn ông, chẳng có văn bia làm chứng, chỉ tìm được giấy rách sách nát có đề năm ghi tháng, tham khảo sách Đại Việt Sử Ký cùng thực lục tiền biên của bản triều (đối chiếu với tàng chỉ tệ biên) để tìm chứng cứ đích xác, được điều nào ghi điều nấy. Lại được hơn 200 tấm ván khắc trọn một bộ "Pháp hoa kinh giải" cùng con dấu riêng bằng đá quí, khắc: "Bán sơn trung tự = chùa ở lưng chừng núi" khắc "Khai sơn Dũng Tuyển tự = lập nên chùa Dũng Tuyển". Khắc: "Nhân hiệu sơn Ông = người có tên hiệu là Sơn Ông", khắc: "Thạch trung kiến ngã = tìm ra trong đá", khắc: "Tĩnh phương = nơi yên tĩnh", khắc: "Tịnh tính = tính vắng lặng", khắc: "Thạch thất = nhà đá". 

Tất cả được 7 cái, lối chữ triện rất xưa. Tấn tôi lau sạch bụi, đặt vào tráp nhỏ cùng một bản hộ "Pháp hoa kinh giải" giao cho tự tăng cất giữ cẩn thận. Cũng có đôi ba tờ giấy có dấu chữ Sơn Ông để vịnh như tự tăng chẳng biết đã lấy bồi bức mà vẽ tượng! Tấn tôi lật bề lưng bức tượng mà xem, phần lớn chữ hiện rõ nhưng không hiểu, thật đáng tiếc! Năm Ất vị niên hiệu Thành Thái (1895) Tấn tôi thư Thượng thư bộ công, đem chuyện chùa Linh phong tâu lên Tây Cung để cầu xin ấn chỉ Tây Cung lệnh xuất kho trong cung 70 lạng bạc, sai tỉnh thành quyên thêm người trong tỉnh được bao nhiêu thì gộp chung với số bạc đã ban mà đốc thúc việc trùng tu chùa. 

Tháng tám năm Đinh Dậu, nhằm năm thứ 9 niên hiệu Thành Thái thì lạc thành. Tấn tôi chưa thể về thăm nhưng theo lời người làng ra, ai cũng nói: "Quang cảnh chùa Linh Phong nay trở nên sáng sủa và mới mẻ!" Đáng mừng! Đáng yên tâm! Nhân rỗi việc sổ sách tại bộ lược thuật những nét chính, sai các con là Thoại Thạch Nhữ Tuyên ghi lấy, vì chùa Linh Phong là phương tiện nhỏ đưa người đến giác ngộ (nên phải viết) để sự tích chùa khỏi bị vùi lấp chứ chẳng phải làm văn vậy.