Friday, February 16, 2018

Vũ Điệu Thời Gian và Bước Nhảy Tâm Thức

Vũ Điệu Xuân - ảnh Uyên Nguyên

Vũ Điệu Thời Gian và Bước Nhảy Tâm Thức

Huỳnh Kim Quang



Nếu Trái Đất mỗi ngày không múa điệu nghê thường lả lướt quanh Vầng Thái Dương rực rỡ thì có lẽ con người cũng chẳng chiêm ngưỡng được vẻ đẹp kỳ diệu của xuân hạ thu đông.
Và nếu tâm thức con người không hòa điệu bước nhảy theo vũ khúc thiên thu của trời đất thì làm gì có cảnh rộn ràng vui tươi của ngày Tết theo truyền thống văn hóa Việt.
Xuân, vì vậy, là hương sắc tuyệt trần của sự phối ngẫu nhiệm mầu giữa tâm, cảnh và thời gian. Chả thế mà danh thần Nguyễn Trãi, trong bài thơ “Hải Khẩu Dạ Bạc Hữu Cảm,” đã từng có lần nhìn sắc xuân đến say đắm:


Nhãn biên xuân sắc huân nhân tuý
(Sắc mùa xuân xông vào mắt khiến cho lòng say đắm)


Xưa nay, tao nhân mặc khách đều mê say hương sắc của nàng xuân. Cho nên người ta mới phong tước cho nàng xuân là chúa xuân, biểu tượng cho cái đẹp mê hồn của thiên nhiên. Trong bốn mùa, xuân hạ thu đông, thì xuân không chỉ là vũ điệu khởi đầu của thời gian, mà còn là bước nhảy êm ả, đẹp đẽ, và tươi tắn nhất, với muôn ngàn thảo mộc nẩy mầm đơm hoa và trái đất như khoác lên chiếc xiêm y muôn sắc sặc sỡ.
Nhưng, tùy tâm và cảnh của mỗi người mà xuân mang dáng dấp khác nhau. Vị hoàng đế anh minh của Nhà Trần đã 2 lần đánh bại quân xâm lược Nguyên Mông, là Trần Nhân Tông, có lần diễn tả cảm trạng về một chiều xuân trong bài Xuân Vãn:


Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,
Nhất xuân tâm sự bách hoa trung.
Như kim khám phá đông hoàng diện,
Thiền bản bồ đoàn khán truỵ hồng.


Chiều Xuân
Thuở nhỏ chưa thấu lẽ Sắc Không,
Xuân phơi trăm đóa gửi chuyện lòng.
Gương mặt chúa Xuân nay đã tỏ,
Nệm cỏ ngồi xem rụng cánh hồng.
(Bản dịch của nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ)


Tâm sự của vị tị tổ dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử có khác với cảm nhận của thế nhân khi thưởng xuân. Nhà tu liễu ngộ được lẽ sắc không của vạn pháp thì an nhiên tự tại mà ngắm xuân chứ không rộn ràng, động tâm như người đời.
Trong khi đó, thi hào Nguyễn Du dù đọc Kinh Kim Cang cả ngàn lần mà có lúc cũng rơi lệ trong đêm xuân khi cảm thân phận lữ khách tha hương ngàn dặm trong bài thơ Xuân Dạ của ông:


Hắc dạ thiều quang hà xứ tầm?
Tiểu song khai xứ liễu âm âm.
Giang hồ bệnh đáo kinh thì cửu,
Phong vũ xuân tùy nhất dạ thâm.
Kỳ lữ đa niên đăng hạ lệ,
Gia hương thiên lý nguyệt trung tâm.
Nam Đài thôn ngoại Long Giang thủy,
Nhất phiến hàn thanh tống cổ câm (kim).


Đêm Xuân
Đêm đen Xuân đến biết tìm đâu
Bóng liễu bên song chạnh nỗi sầu
Dừng bước giang hồ, thân ủ bệnh
Xót đời mưa gió, mệnh chìm sâu
Đèn khêu năm tháng bao nhiêu lệ
Mắt nuối quê hương mấy nỗi đau
Nam Đài tiếng sóng Long Giang gọi
Kim cổ lạnh tràn đưa tiễn nhau.
(Nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ dịch Việt)
Tâm trạng ngày xuân của thi hào Nguyễn Du lúc làm lữ khách tha hương ngày xưa sao nghe giống tâm trạng của người Việt tị nạn ly hương ngày nay quá! Nhưng biết làm sao, khi quê hương còn xa vời vợi. Quê xa không phải vì đường xa, mà vì lòng người hai bờ chính kiến xa cách nhau diệu vợi.
Mấy ngày cận Tết, mỗi đêm đi làm về khuya ngang qua những con đường đèn mờ vắng vẻ, lòng người tha hương bỗng nghe cô quạnh lạ thường. Nhớ những cái Tết năm xưa ở quê nhà rộn rịp và gia đình bà con sum vầy ấm áp.

Đèn khêu năm tháng bao nhiêu lệ
Mắt nuối quê hương mấy nỗi đau


Xuân về trên đất Mỹ lại nhằm vào mùa đông giá rét lạnh lùng. Cái giá rét của ngày xuân ở xứ người càng thấm thía hơn khi màn đêm phủ xuống thân phận cô liêu của kẻ tha hương. Thi sĩ Pierre Emmanuel của Pháp đã diễn tả triết lý cao siêu vi diệu đến khó hiểu của những đêm tối cô liêu qua bài thơ “Seuls Comprennent Les Fous” (Chỉ Những Người Điên Mới Hiểu) mà nhà thơ Phạm Công Thiện đã dịch xuất thần như sau:


Một chút tình thương trong máu
Một hạt chân lý trong hồn
Cũng như một chút hạt kê cho chim sẻ
Để sống trườn qua một ngày đông lạnh
Người có nghĩ rằng
Những bậc thánh cao siêu nhất lại cân nặng hơn?
Tại sao vĩnh cửu lại màu xanh lá cây?
Ôi đau đớn không lời
Cành dương xỉ còn khép lại…
Kẻ nào chưa cảm thấy trong lòng mình ru khẽ lên những chiếc lá đầu mùa
Thì không bao giờ biết được vĩnh cửu.
Ôi đêm tối
Mi là hương vị bánh mì trên lưỡi ta
Mi là cơn mát rượi hồn của quên lãng trên hình hài ta
Mi là dòng suối không hề cạn chảy về niềm im lặng của ta
Vào mỗi buổi chiều là rạng đông của nỗi chết trong ta.
Ca hát mi làm gì
Cầu nguyện mi làm gì
Bởi vì chỉ một giọt nước mắt cô liêu
Cũng chứa đọng mi trọn vẹn
Ôi đêm tối


Phải chăng “Những chiếc lá đầu mùa” của thi sĩ Emmanuel là những chiếc lá mùa xuân, biểu tượng của hy vọng và vĩnh cửu? Thì ra, trong cái u tối rợn người của đêm đen cũng còn “một chút tình thương trong máu,” hay “một hạt chân lý trong hồn.”
Đó cũng chính là hình ảnh đóa mai mùa xuân vừa nở sau đêm đông bão bùng giá rét của Thiền sư Mãn Giác đời Nhà Lý:


Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.


Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai.
(Hòa Thượng Thích Thanh Từ dịch)


Bởi thế, không có bước nhảy của tâm thức con người hòa cùng vũ điệu thời gian thì xuân chỉ là xuân của bốn mùa, xuân hạ thu đông, trơ cùng tuế nguyệt. Dù có lá xanh mơn mởn khoe sắc hay hoa vàng rực rỡ thắm tươi thì nào ai hay biết ẩn hiện trong đó là hương sắc gì, là nụ cười chưa tắt trên môi, hay ngấn lệ còn nóng hổi mới vừa rơi từ khóe mắt.
Vũ điệu mùa xuân đang tung tăng trên khắp nẻo đường của người Việt lưu cư. Xin mời mọi người mở ngỏ tâm thức để cùng nhảy với vũ điệu của mùa xuân Mậu Tuất đang về.


Tuesday, February 13, 2018

TẢN MẠN NHỮNG NGÀY SẮP TẾT

Một buổi sáng tại Hội An - Võ Văn Hoàng's fb.

TẢN MẠN NHỮNG NGÀY SẮP TẾT

Năm nay, trời thiếu mưa và sương mù cũng không nhiều như những năm mới đến cư ngụ tại thủ phủ Sacramento, bang California. Khác hơn mọi ngày, sáng nay sương mù dày đặc và dự báo thời tiết sẽ có nắng, nhưng vẫn cảm thấy lạnh lùng. Có lần chúng tôi đã viếng thăm Đà Lạt, nhưng có lẽ cái lạnh của Đà Lạt thì mát mẻ và lãng mạn so với mùa đông lạnh giá của xứ người.  Cộng với sương mù như sáng nay, làm cho ta có cảm giác lạnh lẽo và cô quạnh hơn nhiều. Tự nhiên, thèm một buổi sáng dạo quanh Đà Lạt hoặc Pleiku hay trên Đồi Trại Thủy với quý Thầy hoặc quý pháp hữu. Thản nhiên tôi làm một loạt bài thơ Lục Bát 3 câu để đón chào những ý tưởng đang đến.  Đây là bài thơ đầu:

LỤC BÁT BA CÂU
Mênh mông sương trắng ngút ngàn
Nắng mai vừa hé nhẹ nhàng tử sinh
Thời gian vỗ cánh bình minh

Mà nhanh thật, mới đó chúng tôi cũng sống ở Sacramento đúng 20 năm tròn, nhiều hơn thời gian sinh sống ở tại Việt Nam. Chúng tôi sinh ra và lớn lên trên miền thùy dương cát trắng, Nhơn Lý, nơi sóng biển hoà với trăng thanh, gió hòa cùng biển bạc. Tuy xa quê hương cội nguồn, nhưng cũng có lắm lúc nghĩ về nơi chôn nhau cắt rốn. Nhìn quê hương thân yêu, ai trong chúng ta cũng muốn tìm về dĩ vãng hay mộng ước tương lai. Chúng tôi cũng không ngoại lệ--đã tìm về, giúp đỡ và cống hiến. Nhưng mọi việc cũng đâu vào đó, vũ như cẩn. Có còn chăng là tình người, tình pháp lữ, tình yêu quê hương dân tộc giống nòi mà chúng tôi vẫn hằng tin là Việt Nam sẽ rộng lượng hơn, tử tế hơn, và nhân bản hơn. Xin ôm ấp và hy vọng vậy:

VẪN THẾ (MỘT GIẤC MƠ)
Buổi sáng sương giăng
Tàn cây hỏi đá lạnh không
Hơi thở bỗng thành khói thuốc
Cõi u linh, nỗi cô đơn mênh mông
      
Đông Tây lạnh cháy bình minh
Vun xới rác rưới để mưu sinh
Thân gầy thôi thúc, đìu hiu gió bụi
Nghe tim mình thổn thức giấc ly hương
        
Nỗi đơn côi trầm lặng muôn trùng
Lây lất tờ lịch cũ xa xăm
Giấc mơ riêng hay cõi tình chung
Tay rung gót mỏi vai gầy ung dung!

Những gì chúng ta làm được, hãy cứ làm. Những gì chúng ta chưa làm được thì hãy cố gắng gìn giữ và tưới tẩm để hy vọng sau này những hạt giống đó được đâm hạt nẩy mầm. Quả thật, thời gian luôn trôi đi biền biện và không có đợi một ai bao giờ. Chư tổ thường dạy, hãy quán chiếu mọi sự là vô thường trong thế gian này cũng nằm trong hàm ý đó. Mọi sự rồi cũng thay đổi và trôi qua, cả thể xác này, suy tư và cảm thọ này.

Ah, thì ra chúng tôi đang thèm một hơi thở dài và sâu để nhận chân một sự tương quan ràng buộc. Thôi thì, chúng ta hãy cùng thực hành vậy. Hãy sống với giây phút hiện tại nhiệm mầu.
Thở vào, tôi biết mình thở vào.
Thở ra, tôi đang biết mình thở đang ra.
Vào… Ra…
Thở vào, tôi biết quê hương Việt Nam vẫn còn đó
Thở ra, tôi biết quê hương Việt Nam vẫn còn đây!
Việt Nam…. Việt Nam…
Thở vào, tôi biết mình thở vào.
Thở ra, tôi đang biết mình thở đang ra.
Vào... Ra….

Sacramento, một buổi sáng sương mù!
Tâm Thường Định

phebach.blogspot.com

Saturday, February 10, 2018

Đọc Kinh Phật, Đón Xuân Mậu Tuất - Nguyên Giác


Đọc Kinh Phật, Đón Xuân Mậu Tuất
Nguyên Giác

Mùa xuân đang tới… Những ngày giữa tháng 2/2018 sẽ là Tết Mậu Tuất.
Trong thời điểm qua năm, nhìn thấy tháng ngày trôi nhanh, tự thẹn mình tu học chẳng tới đâu, xin làm hai câu đối để tự răn:
Tu chưa vững vàng, gà đã cục tác lên chuồng
Học còn lạng quạng, chó đã lăng xăng tới cửa.
Đón Xuân Mậu Tuất, nơi đây, xin mở lại kinh điển, tìm đọc một số liên hệ tới hình ảnh loài chó.

TÀM VÀ QUÝ

Đức Phật dạy rằng cần phải giữ tâm Tàm và Quý, nơi loài người mới không hỗn loạn sắc dục như ở loài vật, cụ thể như chó và dã can (một loại chó rừng).
Đó là Kinh Pháp che chở thế gian - Lokapala Sutta. Bản dịch của Hòa Thượng Thích Minh Châu trích như sau:
“Hai pháp trắng này, này các Tỷ-kheo, che chở cho thế giới. Thế nào là hai ?
Tàm & Quý.
-Nếu hai pháp trắng này, không che chở cho thế giới, thời không thể chỉ được đây là mẹ hay là em, hay đây là vợ của anh hay em của mẹ, hay đây là vợ của Thầy hay đây là vợ của các vị tôn trưởng. Và thế giới sẽ đi đến hỗn loạn như giữa các loài dê, loài gà vịt, loài heo, loài chó, loài dã can.
-Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có hai pháp trắng này che chở thế giới, nên mới có thể chỉ được đây là mẹ hay là em, hay đây là vợ của anh hay em của mẹ, hay đây là vợ của Thầy hay đây là vợ của các vị tôn trưởng.” (1)

TỪ BI VỚI TẤT CẢ CHÚNG SANH
Đức Phật dạy trong Kinh Từ Bi (Metta Sutta) rằng, phải luôn luôn, phải thường trực giữ tâm từ bi như mẹ yêu thương đứa con trai duy nhất đối với tất cả chúng sanh, nghĩa là từ bi với cả chúng sanh cõi trời, cõi người, cõi phi nhơn, và kể cả loài thú… Như thế, hãy từ bi cả đối với chó, một sinh vật dễ thương thường được xem là bạn của loài người.
Bản dịch của GS Phạm Kim Khánh, trích:
4. Bất luận chúng sanh ấy như thế nào: - yếu đuối hay khỏe mạnh, cao lớn mập mạp hay tầm vóc bình thường, lùn thấp bé nhỏ, hữu hình hay vô hình, những chúng sanh ở gần hay những chúng sanh ở xa, những chúng sanh đã ra đời hoặc những chúng sanh chưa sanh - Ước mong tất cả chúng sanh, không loại trừ bất luận ai, đều có tâm an lành hạnh phúc.
5. Không ai làm cho ai thất vọng, không ai khinh bỉ ai, dù người như thế nào hoặc ở nơi đâu. Trong cơn giận dữ hay lúc oán hờn, không nên mong điều bất hạnh đến với người khác.
6. Cũng như bà từ mẫu hết lòng bảo bọc đứa con duy nhất của bà dù có hiểm nguy đến tính mạng, cùng thế ấy người kia trau giồi tâm Từ vô lượng vô biên, rải khắp mọi chúng sanh.(2)
.
NGHIỆP GÌ ĐỌA VÀO CÕI THÚ
Một câu hỏi thường gặp là, do nghiệp gì sẽ bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục?
Theo giáo nghĩa, giữa loài người và loài vật có cách biệt là do nghiệp dị biệt.
Trong Trung Bộ Kinh 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt, Đức Phật dạy rất minh bạch, bản dịch của Hòa Thượng Thích Minh Châu, trích như sau:
"—Này Thanh niên, các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình; nghĩa là có liệt, có ưu...
—Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, sát sanh, tàn nhẫn, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với các loại chúng sanh. Do nghiệp ấy, thành đạt như vậy, thành tựu như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, nếu được đi đến loài Người, chỗ nào người ấy sanh ra, người ấy phải đoản mạng. Con đường ấy đưa đến đoản mạng, này Thanh niên, tức là sát sanh, tàn nhẫn, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với các loài hữu tình.
Nhưng ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay đàn ông, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Do nghiệp ấy, thành đạt như vậy, thành tựu như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sanh vào thiện thú, Thiên giới, ở đời. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh vào thiện thú, Thiên giới, ở đời, nếu người ấy đi đến loài Người, chỗ nào người ấy sanh ra, người ấy được trường thọ. Con đường ấy đưa đến trường thọ, này Thanh niên, tức là từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình..."(3)
.
CON CHÓ CÓ PHẬT TÁNH KHÔNG?
Trong Kinh MN.135 nêu trên, Đức Phật dạy rằng nghiệp thiện sẽ sinh vào cõi người, gây nghiệp dữ sẽ sinh vào cõi thú. Và nơi thân người mới có cơ duyên tu hành, để giác ngộ, thành thánh quả. Do vậy, các luận sư Phật Giáo Đại Thừa nói rằng, Phật Tánh tức khả năng trí tuệ để chứng quả thánh và thành Phật đều có sẵn trong cả loài người lẫn loài thú.
Các Thiền sư Trung Hoa nêu câu hỏi làm công án để các Thiền sinh tham học: Con chó có Phật Tánh không?
Đó là sách Vô Môn Quan của Vô Môn Huệ Khai, Tắc 1, bản dịch của Dương Đình Hỷ, trích như sau:
CỬ:
Một ông tăng hỏi Triệu Châu:
-Con chó có Phật tánh không?
-Không!
BÌNH:
Tham thiền phải qua cửa tổ, diệu ngộ phải tuyệt đường tâm. Cửa tổ không qua, đường tâm chẳng dứt thì như tinh linh nương vào cây cỏ. Thử hỏi thế nào là cửa tổ? Chính là một chữ Không, gọi là Cửa không cửa của thiền vậy. Người qua cửa không những thân thấy Triệu Châu mà còn cùng lịch đại chư tổ nắm tay cùng đi, ngang hàng với họ, nhìn cùng một mắt, nghe cùng một tai há chẳng vui sao? Các ông chẳng muốn qua cửa này ư? Hãy đem 360 đốt xương, tám vạn bốn ngàn lỗ chân lông toàn thân khởi nghi đoàn, tham chữ Không ngày đêm. Các ông chớ hiểu Không là Hư Vô, cũng đừng hiểu trong nghĩa Có, Không. Giống như các ông nuốt một hòn sắt nóng, muốn khạc mà khạc chẳng ra. Các ông hãy bỏ hết những vọng tri, vọng giác từ trước, lâu dần thuần thục, tự nhiên trong ngoài đánh thành một phiến, như người câm nằm mộng chỉ mình tự biết. Rồi bỗng nhiên như trời long đất lở, như đoạt được Thanh Long Đao của Quan tướng quân, gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ. Bên bờ tử sinh mà được tự tại, hướng lục đạo tứ sinh mà du hí tam muội. Tôi muốn hỏi các ông phải làm sao? Hãy đem hết sức mà nêu chữ Không ấy. Nếu các ông giữ cho không gián đoạn thì giống như vừa mới mồi lửa ngọn đuốc Pháp đã bùng cháy." (4)
Nên nhìn theo Kinh Kim Cương, hễ nói có, nói không đều hỏng. Vì khi vừa nói có, là không thấy Phật Tánh đó ở đâu, không màu sắc gì, không hình dạng gì. Nhưng hễ nói không, sẽ trật tức khắc, vì Đức Phật đã dạy rằng người và thú dị biệt chỉ là do nghiệp thiện ác, và đặc biệt trong cõi thấy nghe hay biết này: Ba cõi là tâm, vạn pháp là thức…
Nói “Ba cõi là tâm” vì Đức Phật dạy trong Kinh Tất Cả rằng thế giới chỉ là sáu nội xứ (mắt tai mũi lưỡi thân ý) và sáu ngoại xứ (cái được thấy, cái được nghe, cái được ngửi, cái được nếm, cái được xúc giác, cái được tư lường). Ngoài ra, không có thế giới nào khác. Kinh SN 35.23 sẽ trích ở ghi chú (5).
Đó cũng là lý do, Lục Tổ Huệ Năng khi thấy hai ông tăng tranh cãi về lá phướn bay trước gió, mới nói rằng không phải gió động, không phải phướn động, mà “tâm hai ông động.”
Đó cũng là lý do, nhiều vị Thiền sư khi hốt nhiên đại ngộ nhìn đâu cũng thấy là cái được thấy, đâu đâu cũng được thấy bao gồm trong gương tâm rỗng sáng. Lúc đó đi đứng nằm ngồi đều không lìa cái thấy thọ dụng của tánh không, hễ ngộ được cái rỗng rang Duyên khởi thì tạm gọi là Phật Tánh, khi chưa ngộ được thì vẫn là xuôi theo nghiệp mà trôi. Cho nên, nói có Phật Tánh là không được, mà nói không có cũng là không đặng. Chỉ khi trực ngộ Bản Tâm, cũng là khi nhìn thấy tất cả chung quanh mình bao trùm trong gương sáng rỗng rang, bấy giờ nhìn ra sông hồ đâu đâu cũng thấy là “một hớp uống cạn nước sông Tây giang.” Lúc đó, đi đứng sáu thời đều không lìa Bản Tâm, còn gọi là an trú Không, còn gọi là Không Tam Muội. Không còn thấy tâm nào là tham sân si, tất cả hệt như sương tan trước nắng; nếu còn tâm nào theo dư nghiệp khởi lên cũng tức khắc tan vào cái Không chiếu diệu của mặt trời trí tuệ. Nơi đây, không còn thấy có thường hay vô thường, không còn thấy có gì là Có hay Không hay Hữu hay Vô, không còn thấy có niềm tin hay ngờ vực gì nữa, cũng không còn thấy có cái gì là đại nghi hay tiểu nghi nữa. Vì tất cả trước mắt, bên tai đã hiển lộ thường trực gương tâm rỗng sáng.

MÊ THAM DỤC NHƯ CHÓ GẶM XƯƠNG
Hình ảnh con chó cũng xuất hiện trong một Kinh Trung Bộ.
Đức Phật khi dạy đoạn trừ tham dục, đã so sánh việc say mê tham dục cũng y hệt như một con chó gặm khúc xương đã lóc thịt.
Đó là Kinh MN.54 - Kinh Potaliya, trích:
"...Thế Tôn thuyết giảng như sau
—Này Gia chủ, ví như có con chó đói lả, suy nhược, đi đến một lò thịt giết bò. Ở đây, có người giết bò thiện xảo hay người đệ tử quăng cho nó một khúc xương, khéo lóc, tận lóc, không có thịt, chỉ có dính máu. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Con chó ấy, khi gặm khúc xương ấy, khéo lóc, tận lóc, không có thịt, chỉ có dính máu có thể đoạn trừ được đói lả suy nhược của nó không?
—Bạch Thế Tôn, không. Vì sao vậy? Với khúc xương khéo lóc, tận lóc, không có thịt, chỉ có dính máu ấy, bạch Thế Tôn, con chó kia chỉ có mệt nhọc khốn khổ mà thôi.
—Cũng vậy, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Thế Tôn đã nói, dục được ví như khúc xương, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn”. Sau khi thấy như chân như vậy với chánh trí tuệ, sau khi từ bỏ loại xả thuộc loại đa chủng, y cứ đa chủng, đối với loại xả thuộc loại nhứt chủng, y cứ nhất chủng, ở đây, mọi chấp thủ đối với thế vật được đoạn trừ hoàn toàn, không có dư tàn, vị ấy tu tập loại xả như vậy."(6)
.
KINH HẠNH CON CHÓ
Trong Trung Bộ Kinh MN.57, Đức Phật nói về người giữ hạnh con chó, trích như sau:
—Bạch Thế Tôn, lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, thực hành những hạnh khó hành, ăn đồ ăn quăng xuống đất, chấp nhận và hành trì hạnh con chó trong một thời gian dài, vậy sanh thú ông ấy thế nào, vận mạng ông ấy thế nào?
—Thôi vừa rồi Puñña, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa.
Lần thứ hai … (như trên) … Lần thứ ba Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò, bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, lõa thể Seniya hành trì hạnh con chó, thực hành những hạnh khó hành, ăn đồ ăn quăng dưới đất, chấp nhận và hành trì hạnh con chó trong một thời gian dài, vậy sanh thú ông ấy thế nào, vận mạng ông ấy thế nào?
—Này Puñña, thật sự Ta đã không chấp nhận (câu hỏi) của Ông và đã nói: “Thôi vừa rồi Puñña, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa”. Tuy vậy, Ta sẽ trả lời cho Ông. Ở đây, này Puñña, người nào hành trì hạnh con chó một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì giới con chó một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì tâm con chó một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì uy nghi con chó một cách hoàn toàn viên mãn, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh thân hữu cùng với các loài chó. Nếu Ông ấy có tà kiến như sau: “Do giới này, hạnh này, khổ hạnh này, hay phạm hạnh này, ta sẽ sanh thành chư Thiên này, hay chư Thiên khác”, thời này Puñña, đối với kẻ có tà kiến, Ta nói có một trong hai sanh thú như sau: địa ngục hay bàng sanh. Như vậy, này Puñña, nếu hạnh con chó được thành tựu, thời được sanh trong loài chó, nếu không được thành tựu, thời được sanh trong địa ngục.
Khi được nói vậy, lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, khóc than chảy nước mắt..." (7)
LỜI CHÚC XUÂN
Và nơi đây, xin gửi lời chúc xuân tới tất cả độc giả bằng hai câu đối:
Gà cao giọng gáy,
mặt trời chánh niệm lên cao,
định huệ nhất tâm vuông tròn
Chó vẫy đuôi mừng,
vầng trăng thiện hạnh trùm khắp,
từ bi toàn thân hỷ lạc.
NGUYÊN GIÁC

GHI CHÚ:
(1) Kinh Pháp che chở thế gian -
(5) Kinh SN 35.23. https://suttacentral.net/en/sn35.23   Trích:
“And what, bhikkhus, is the all? The eye and forms, the ear and sounds, the nose and odours, the tongue and tastes, the body and tactile objects, the mind and mental phenomena. This is called the all.
“If anyone, bhikkhus, should speak thus: ‘Having rejected this all, I shall make known another all’—that would be a mere empty boast on his part…

Vũ Điệu Thời Gian và Bước Nhảy Tâm Thức

Vũ Điệu Xuân - ảnh Uyên Nguyên Vũ Điệu Thời Gian và Bước Nhảy Tâm Thức Huỳnh Kim Quang Nếu Trái Đất mỗi ngày không múa đi...