Saturday, January 22, 2022

Hoàng Hưng: Với tôi, Làng Mai là một công án

 

Bài này viết ngay sau hai khóa tu Mùa Hè 2012 ở Làng Mai và Học viện Phật giáo Ứng dụng châu Âu, nhưng tôi muốn nghe ngóng lòng mình qua thời gian sau khi những bồng bột tan đi, còn những gì đọng lại. Mãi một năm sau tôi mới công bố trên mạng Bauxite Vietnam. Hôm nay, trong tâm trạng lo âu cùng với hàng triệu người Việt Nam, Phật tử cũng như không tôn giáo, theo dõi từng giờ tình trạng sức khoẻ của Thiền sư Thích Nhất Hạnh  sau khi Cụ bị xuất huyết não, tôi xin Văn Vit cho đăng li bài này, để bạn đọc có thể hiểu phần nào về Sư ông và tăng đoàn Làng Mai, một thành công lớn trong việc truyền bá văn hoá Vit đích thực ra khắp năm châu.

 Trên chuyến bay từ Paris đến Reykjavik, thủ đô Iceland, tôi không khỏi mỉm cười khi thấy trên màn hình giới thiệu du lịch có những từ “mindfulness” (chánh niệm), “meditation” (thiền), “here and now” (bây giờ và ở đây). Hôm trước cũng nghe một thiền sinh ở Làng Mai (LM) chia sẻ rằng cô thích thú khi nghe một nữ tiếp viên hàng không nói với khách: “Please have mindfulness to bring your luggage down…” (xin chánh niệm khi đưa hành lý xuống…). Thiền tập đã đi vào đời sống ngưi châu Âu đến vậy, có phần ảnh hưởng khá lớn của LM.

Với riêng tôi, Làng Mai (LM) là một “công án” ám ảnh nhiều năm.

Tôi biết từ lâu một thi sĩ với những vần thơ tự do khá mới mẻ chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện bên cạnh những bản dịch tuyệt bích thơ tứ tuyệt Lý Trần. Cũng nghe từ lâu dòng tu “nhập thế” nổi tiếng với Phong trào Thanh niên Phụng sự Xã hội, với những vận động hòa bình cho Việt Nam, với con tàu cứu vớt thuyền nhân… Cũng đọc không ít sách Đạo của vị Thiền sư (TS) được coi là tu sĩ Phật giáo lớn thứ nhì thế giới hiện nay mà người đọc và học trò đã lên tới nhiều triệu trên khắp hành tinh. Tôi ngưỡng mộ ông là chuyện tất nhiên.

Nhưng thú thật, với kinh nghiệm một đời lăn lộn, vỡ mộng cũng nhiều, cộng với “sở tri chướng” của kẻ “đa thư”, luôn e ngại mọi thần tượng, giáo chủ có “charisma” dẫn dụ bày cừu mê mẩn, tôi vẫn giữ thái độ “quan sát” đối với LM.

Ấn tượng đầu tiên của tôi với LM có sự mâu thuẫn. Lần đầu tiên tiếp xúc, vào năm 2005 khi TS đưa tăng đoàn về VN, là trong buổi pháp thoại của TS ở Viện Goethe. Ấn tượng này đã được ghi lại gần như tức thời qua bài thơ Bậc thầy (bài này đã in trong tập Hành trình, NXB Hội Nhà văn, HN 2005, bản tiếng Anh The Master in trong chapbook Hoang Hung, Poetry & Memoirs do International Poetry Library of San Francisco xuất bảnvà đọc trong đêm thơ-văn “Echoes of Vietnam” tháng 3 năm 2012 ở Santa Cruz):
Thầy vào như hơi gió
Tăng đoàn rạng rỡ tuệ quang…

Quả thực hình ảnh khinh khoái hiếm thấy của một ông sư và ánh sáng trên gương mặt các học trò của thầy chinh phục tôi nhiều hơn những lời thuyết giáo.

Nhưng rồi ngay sau đó, tôi bị hẫng khá mạnh khi nghe qua bản thu âm câu hỏi đáp trong một buổi thầy thuyết trình ở Viện Khoa học Xã hội miền Nam. Một “giáo sư” giọng rất gay gắt (nói cho đúng là khiêu khích) nhắc lại hai lần câu hỏi, lần sau gắt hơn lần trước: “Tôi xin hỏi TS, nếu bây giờ tôi quy y thì tôi có còn được quyền yêu Đảng, Đảng do Bác Hồ sáng lập và lãnh đạo, có được quyền yêu nước, nữa hay không?” Có lẽ quá bất ngờ trước câu “truy hỏi”, TS hơi sững một chút, rồi đáp: “Không yêu Đảng không yêu nước thì quy y làm gì!”. Thú thật là tôi bất mãn với câu trả lời. Yêu nước, OK, còn “yêu Đảng”? Sao lại phải yêu cái đảng tuy một thời có công lãnh đạo cuộc chiến đấu giành độc lập thống nhất cho đất nước (tuy là với cái giá quá đắt, vấn đề này mang tính lịch sử rất phức tạp, lúc khác sẽ bàn), nhưng gần đây nó đã biến chất, suy thoái rõ rệt, không còn tính chính đáng?

Hình ảnh sơ phác của LM trong tôi thế là trong cái sáng vẫn còn cái “lăn tăn”.

Tăng Thân Làng Mai | Ảnh: Internet

Ba lần đến với Làng Mai:

Ba năm nay, Trời Phật sắp xếp sao đó để tôi có cơ duyên thực sự đi sâu, đi sát LM, để ngày càng hiểu rõ và hiểu đúng về Làng.

Tôi đã đến gần với LM qua những ngày hoạn nạn của các học trò TS ở Bát Nhã. Tôi đã thấy ánh sáng rạng rỡ trên gương mặt người thân của mình sau mỗi chuyến lên Bát Nhã tu tập đợt hai tuần, đợt ba tuần. Tôi đã thấy ánh sáng rạng rỡ trên gương mặt, đã nghe tiếng cười hồn nhiên của những sư em, những thực tập sinh trẻ măng căng tấm ni lông giữa trời hứng nước mưa khi bị các đệ tử của ông Đức Nghi cúp nước. Tôi đã nghe người thân kể chuyện những người trẻ là con em gia đình “cộm cán”, hay bản thân là trí thức trẻ đầy tương lai, đã dứt bỏ tất cả đi theo con đường LM để thực hiện tâm nguyện Bồ tát trước cứu mình sau giúp người ra khỏi cõi mê.

Tiếp ngay đó, cơ duyên lại đưa tôi đến thẳng LM. Nhân đi làm công việc dịch thuật ở Paris, hai vợ chồng tôi quyết định ghé xuống Làng vài hôm. Không liên lạc được trước, chúng tôi cứ đi, nghĩ có duyên thì gặp. Quả nhiên trong lúc tôi đang nằm thẳng cẳng ngủ giấc trưa “bụi đời” trên ghế băng trước cửa ga xép Sainte Foye La Grande chưa biết cách nào đến được LM, thì xuất hiện một sư cô người Tây trong trang phục màu đà quen thuộc của LM. Tình cờ cô ra đón một khách của Làng từ Paris tới. Thế là cô vui vẻ đưa chúng tôi về Xóm Mới, và cho biết ở đó đang có một khóa tu ngắn ngày. Bước chân vào Xóm, người tiếp đón chúng tôi là một sư cô trẻ măng đồng hương Hà Nội. Sau này tôi biết cô là con gái cưng của một quan chức cao cấp, lại biết cả mẹ cô cũng đã xuất gia theo gót con gái (thật dễ hiểu vì sao những quyền lực thế gian lại “kỵ” Bát Nhã, LM đến vậy!). Ba ngày ngắn ngủi ở LM tóm lại một cảm tưởng: một tiên cảnh giữa trần gian, với cảnh đồng quê đồi rừng thanh bình đẹp đến nao lòng, với những tiên đồng ngọc nữ tươi tắn trong veo và thanh tú, với hàng trăm người trong đại gia đình quốc tế vui vẻ và thành kính thực tập những “pháp môn” rất giản dị để thân tâm an lạc: tập thở vào thở ra, tập bước đi chánh niệm, tập ngừng lại khi nghe tiếng chuông…

Trong lần sơ ngộ này có một chi tiết tình cờ nhưng ít lâu sau thành một yếu tố gắn tôi với LM. Trong màn tự giới thiệu khi chia sẻ trong nhóm “gia đình”, tôi thành thật nói mình là nhà báo, không phải Phật tử (nói cho chính xác là không quy y Thầy nào, không theo tổ chức của chùa nào). Tôi đọc thấy vẻ ngỡ ngàng của quý ni sư và Phật tử. Giờ giải lao, một ông “Tây” to lớn đầu râu tóc bạc xin có vài lời với tôi. Ông bảo: “Tôi xin tự giới thiệu, tôi là cố vấn của Tổng thống Israel, nhưng tôi cũng là đệ tử của Thay (các đệ tử Âu Mỹ của TS đều gọi TS là Thay như một tên riêng) từ chục năm nay. Tôi không hiểu vì sao ông có ý nói ông là nhà báo nên không thể là Phật tử?” Tôi chỉ cười, đáp: “Mỗi nước có một hoàn cảnh khác nhau ông ạ”.

Chỉ vài tuần sau đó, tôi đang ở chơi nhà chị Thụy Khuê dưới Côte d’Azur, một biệt thự màu hồng đẹp như mơ trên đồi nhìn xuống biển Địa Trung Hải mà anh Lê Tất Luyến chồng chị là người tạo dựng và chăm nom, ngôi nhà luôn mở lòng đón tiếp bạn bè tứ xứ… thì dồn dập nghe tin Bát Nhã bị tấn công. Sự xúc động trong lòng tôi nhiều lần trào lên khóe mắt khi xem trên mạng những em thiền sinh ngồi an bình niệm danh Quán Thế Âm trước sự hung hăng dữ dằn của kẻ ác. (Trong dịp ở LM gần đây, mỗi lần nghe màn tụng Avakilotesvara trước khi Thầy pháp thoại, thì hình ảnh các em Bát Nhã niệm Quán Thế Âm lại hiện lên khiến sự xúc động của tôi lại dâng trào). Đến ngày cao điểm, bọn ác nhân xua đuổi 400 em khỏi Bát Nhã giữa trời mưa như trút thì tôi không nén nổi căm giận và xót thương. Tôi nhờ chị Thụy Khuê liên lạc ngay với Radio France International (RFI) – lúc này chị đã về hưu, chỉ còn cộng tác một chuyên mục với Đài – cho biết tôi muốn phát biểu trên Đài về sự kiện Bát Nhã. Tôi cũng không ngờ, như Thầy cho biết trong phút gặp gỡ đầu tiên ở LM, phát biểu của mình về pháp nạn Bát Nhã trên truyền thông quốc tế đã khởi lên cao trào lên tiếng bênh vực con em của LM đang gặp nạn, và cũng không ngờ việc này kéo tôi tiếp tục dấn thân vào vụ Bát Nhã, viết liên tục 9 bài trên các mạng trong ngoài nước, trong đó có Thư ngỏ  Thư thỉnh nguyện gửi ba nhà lãnh đạo cao nhất của Nhà nước VN thu được trên 400 chữ ký bao gồm nhiều trí thức văn nghệ sĩ nổi tiếng trong ngoài nước và đảng viên Cộng sản kỳ cựu. (Đây là một câu chuyện hơi bị “ly kỳ”, dịp khác sẽ kể).

Tăng Thân Làng Mai | Ảnh: Internet

Có một điều là tôi luôn khẳng định: lên tiếng bảo vệ các thiền sinh Bát Nhã không phải vì tôi là Phật tử hay đệ tử của LM (thực ra tôi từng là tín đồ Công giáo, đã chịu lễ rửa tội từ lúc còn nhỏ do các bà cô dẫn dắt, rồi lẳng lặng bỏ đạo khi các bà vào Nam và chính quyền Cụ Hồ về Hà Nội), mà chỉ do lương tâm của một nhà báo “thấy sự bất bằng”. Tôi bảo vệ các thiền sinh Bát Nhã là bảo vệ quyền công dân, quyền con người, quyền chọn đi theo một lý tưởng, một tôn giáo của những người trẻ tuổi – tương lai của dân tộc. Tôi đã trả lời phóng viên hãng AP cũng như các sĩ quan an ninh VN “làm việc” với mình như thế.

Sau khi Bát Nhã tan, tôi biết ngoài hàng trăm thiền sinh được LM bảo lãnh sang Pháp, Đức, Mỹ, còn hàng trăm em ở lại tản mác khắp nước vẫn kiên gan chịu đựng sự truy bức của chính quyền để tu tập theo pháp môn của Thầy. Đôi lúc có dịp gặp, tôi vẫn thấy được vẻ “vững chãi như núi cao, thnh thơi dường mây trắng” (như lời một thiền ca LM) của những con người ấy mặc dù họ không còn được đi với nhau “như một dòng sông”. Tôi hiểu là LM đã gieo được những hạt hướng dương bất diệt trên quê hương đau thương này.

Vậy đến gần đây, “Công án LM” của tôi có thể “diễn nôm” thế này:

1/ LM có “phép” gì đào tạo được những người trẻ tuyệt vời đến thế, những người quyết tâm thực tập ba đức Bi – Trí – Dũng của Bụt để “độ mình và độ đời”, giữa lúc nhan nhản quanh tôi là đám trẻ mất phương hướng, hoặc chỉ biết chạy theo “lý tưởng” làm giàu, tạo vị thế cho riêng mình, nói gọn là “vinh thân phì gia” bằng mọi giá, chấp nhận “đi với ma”, nhắm mắt che tai thậm chí hùa theo cái xấu cái ác, còn việc của dân của nước thì buông xuôi, mackeno, “đã có Đảng, Nhà nước lo”?

2/ LM làm thế nào hòa hợp được triết lý vô ngã, diệt dục của đạo Phật truyền thống với “chủ nghĩa cá nhân” sáng suốt và tính cạnh tranh là động lực phát triển của xã hội hiện đại?

3/ LM làm thế nào thu hút hàng ngàn người, hàng trăm gia đình Tây phương, trong đó không ít trí thức, doanh nhân thành đạt đến sinh hoạt và tu học theo hướng dẫn của các tăng ni người Việt trẻ măng?

Mùa hè vừa rồi, nhân sinh nhật thứ 30 của LM, tôi có cơ hội được cùng người thân của mình tham dự hai khóa tu liền, của người Việt tại LM và của người Hòa Lan tại cơ sở mới rất đồ sộ của Làng vừa khánh thành bên Đức (EIAB: Học viện Phật giáo Ứng dụng châu Âu). Gần một tháng sống trong đại gia đình quốc tế LM, tôi cảm nhận có sự biến chuyển trong mình, kẻ luôn tự nhận “tên học trò mới bướng bỉnh”.

Đi tu vui lắm chứ!

Đây là những gì đọng lại trong tôi sau khi đã rời Làng một tháng:
Bao trùm là cảm nhận về một cuộc sống thư giãn, yên vui.

LM đã khéo chọn những khung cảnh thần tiên cho đại gia đình của mình, những sườn đồi hiền dịu xanh nho, đỏ mận, vàng rực hướng dương, những cuộn rơm nằm im lặng trong nắng chiều, hay đồi cỏ mượt với hàng trăm cây táo đang ửng trái, giữa vùng quê thanh bình êm ấm mà ta khó lòng gặp được ở VN hôm nay. Không có những ngôi chùa thấp bé, tối tăm ẩn mình thời trước hay ngược lại hoành tráng phô trương lố lăng thời mới, “chùa” ở LM chỉ là những thiền đường rộng, thoáng, giản dị, duy nhất một ông Bụt Thích Ca mỉm cười với ta trên bệ thấp trước mặt (ta còn gặp trên đường thiền hành những ông Bụt nho nhỏ ngồi trên cỏ, không có tòa sen uy nghi, mà lũ trẻ Tây rất thích chơi với, có đứa ngồi trên lòng, ôm hôn ông gọi “Buddha! Buddha!” như gọi mẹ, có đứa đội mũ đeo kính cho ông như chơi với bạn…).

Nhưng điều khiến ta thư giãn, yên vui nhất chính là niềm vui tỏa ra từ các tăng ni ở Làng. Không hiểu sao tôi cứ nhớ đến những bà xơ vui tính trong một bộ phim ca nhạc của Mỹ. Từ “sư cô” ngoài 70 mà cứ xuất hiện là có ngay một dàn ca hát hình thành, đến “sư anh” hơn hai mươi tuổi trụ trì một ngôi chùa cả trăm tăng (trong đó có một vị hòa thượng) với cả ngàn thiền sinh Tây, mà gặp đâu cũng thấy cười đùa với đám teen, rồi trong đêm hội Trung thu thì đeo kính đen nhảy và hát “rap” (với lời “Đạo ca”, tất nhiên) khiến mấy cô bé cậubé khoái trá nhảy nhót theo tưng bừng. Xin biết rằng những vị ấy, chỉ mấy phút trước đây vừa lăn lưng khênh vác, dựng rạp, và đêm qua còn thức đến nửa đêm dọn dẹp nhà bếp hay lái xe đưa khách về nhà nghỉ, hay chiều nay vừa dẫn dắt buổi “chia sẻ” của những người lớn tuổi mang nặng tâm tình u ám. Tôi rất thích cách nói của một cô “sư em” khi phân công mọi người tham gia “chấp tác”: “Mời các cô các chú chơi rửa chén (chơi lau nhà, chơi sấy muỗng nĩa…) với con!” Và đúng thật, ai nấy làm mà thấy vui như đang chơi với nhau vậy. Cũng như mỗi lần trông thấy tôi, các “sư chị, sư em” bao giờ cũng hỏi: “Chú ở Làng có vui không ạ?” thay vì hỏi: “chú đã học được gì ở LM?”

LM có một sinh hoạt độc đáo chắc không hề có ở bất kỳ cơ sở tôn giáo nào: “Thiền buông thư” mỗi trưa. Nằm dài trong thiền đường, có sư thầy/ sư cô hát thiền ca cho mà… chìm dần vào giấc ngủ. Tôi đã bắt chợt cảnh ấy trong một khúc thơ:
Em nằm trong thiền đường
Cỏ cây mùa hạ
Áo tràng
Xông hương

“Thiền ca LM” có bài (đặt theo nhạc Phạm Duy): “Ai bảo đi tu là kh, đi tu sướng lắm chứ! Ngồi tụng kinh, cái đầu rung rinh và con mắt lim dim…

Nói “thiền ca”, thì quả thực, hai năm trước, khi nghe trong băng đĩa những bài dạy Đạo bằng lời ca “chế” từ các bài hát quen thuộc (có cả bài lấy từ “Năm anh em trên chiếc xe tăng” nữa chứ), tôi thấy nó… sao sao ấy! Rồi có một ngày, tôi lặng người nhìn cảnh hàng trăm người già, trẻ đủ màu da đứng vòng tròn giơ tay lên múa miệng hát say sưa bài I am free bằng mấy thứ tiếng, và tôi không thể ngăn mình hát theo. Từ lúc nào không biết, bây giờ, thỉnh thoảng lại tự bắt gặp mình lẩm nhẩm: “Thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười, hay Muốn ăn thêm nhưng có tiếng chuông, em thở vào thở ra…

Một nữ kỹ sư dầu khí chuẩn bị xuất gia sau khi cả mẹ, chồng và hai con trai đều “theo chân Bụt”, kể với tôi: “Công an làm việc với em cứ thắc mắc tại sao LM thu hút được nhiều người trẻ đi theo thế? Em trả lời đơn giản: Anh không biết hồi trẻ chúng tôi được sinh hoạt Đội, Đoàn vui tươi, lành mạnh như thế nào hay sao? Bây giờ bọn trẻ có còn được thế không? ”.

Xóm Hạ, Làng Mai, Pháp | Internet

Hạnh phúc chính là con đường:

Một chị trí thức sống lâu năm ở Pháp chia sẻ: “Tôi thu nhận nhiều nhất từ lời dạy này của Thầy: Năng lực hạnh phúc là một đức hạnh căn bản”. Tôi nghe chị nói mà thấm thía. Cả thế hệ chúng tôi hầu như đã bị mất đi cái năng lực ấy. Vì hoàn cảnh xã hội ư? Tất nhiên, khi ta là con dân một xứ sở đầy tai ương kéo dài cả thế kỷ. (Ngày đầu tiên ở Làng, một vị hòa thượng bảo tôi: “Bác hãy buông thư trong thời gian hai tuần lễ ở Làng, bỏ hết những áp lực của 70 năm ở lại VN”).

Nhưng còn hàng ngàn con người từ những nước phát triển nhất, bản thân may mắn, thành đạt, vì sao họ kéo tới đây hầu như chỉ mong tìm được con đường thoát ra khỏi tình trạng bất hòa, xung đột trong gia đình, phiền muộn, dằn vặt trong nội tâm? Vậy đâu có thể đổ hết cho hoàn cảnh xã hội?

LM chỉ cách để ta có thể sống hạnh phúc ngay trong hiện tại. Hạnh phúc không phải là đích đến, hạnh phúc chính là con đường, châm ngôn của Thầy trên những bức thư pháp chỉ ra điều mà tôi thấy là căn bản nhất của “pháp môn LM”. Bây giờ, ở đây. Đây là tnh độ, tịnh đ là đây. Hiện pháp lạc trú. Đâu phải đi tìm? Hãy sống hết mình với giây phút này, vì ta chỉ thực sống trong hơi thở này. Có thế thôi, còn gì giản dị hơn?

Nhưng để có được “đức hạnh căn bản” ấy, có khi phải đảo lộn toàn bộ nhận thức và lối sống sai lầm đã thành “tập khí” lâu dần “nội kết” trong ta. Làm sao gỡ những nội kết, từ “duy ngã” thành “vô ngã”, từ “tham đắm”, “chấp thủ” thành “buông xả”, “không ràng buộc”, từ “phân biệt” thành “không phân biệt”, từ “sân hận” thành “hiểu và thương”?

Những bài “pháp thoại” của Thầy rất giản dị, và chỉ nhắc đi nhắc lại vài ý rất căn bản, dễ hiểu, ai đã đọc sách của Thầy chắc đều nhận ra. Riêng tôi, khái niệm “vô ngã” khó “tiêu” nhất đối với con người hiện đại được Thầy làm sáng tỏ một cách thuyết phục bằng thực tế “tiếp nối” (continuation) và “tương tức” (interbeing, interêtre) của sự sống. “Ta” là “ta” mà cũng là “người”. Khi “ta” làm cho “người” đau khổ thì chính “ta” cũng đau khổ, và ngược lại, khi “người” làm ta đau khổ thì “ta” phải biết rằng chính “người” cũng đang đau khổ!

Những nhận thức gốc ấy của Phật giáo nói thì dễ, nhưng thiếu gì người tụng kinh đọc sách một đời mà mặt vẫn nhăn như bị? Vậy vấn đề là tu tập để làm sao thực sự “ngộ”những chân lý ấy. Đọc sách Thiền, ta thích những mẩu chuyện “hoát nhiên đại ngộ” của người xưa. Nhưng với con người tầm thường như tôi, tôi tin ở quá trình “tiệm ngộ” hơn. Pháp môn LM là con đường dẫn dắt ta “ngộ” qua từng ngày.

Thực hành và Chuyển hóa:

Trong các bài giảng ở LM, Thầy hay dùng từ “chuyển hóa”. Với hình tượng hoa sen làm mẫu. Hoa sen có năng lực từ từ chuyển hóa bùn thành hương thơm và vẻ đẹp, không chỉ thụ động “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” như ca dao nói. Ở LM, người ta không nói “đổ rác” mà “chuyển hóa rác”!

Và LM “sáng chế” ra những “kỹ thuật” rất hữu hiệu mà đơn giản để ta luyện tập “chuyển hóa” mỗi ngày. Tự chuyển hóa thông qua tập “chánh niệm” trong từng công việc, lúc ăn, lúc đi vệ sinh…, tập “thở vào, thở ra” – quán hơi thở để thân tâm hợp nhất trong giây phút hiện tại, tập “ngừng lại” khi nghe tiếng chuông để nhận biết giây phút hiện tại. Chuyển hóa lẫn nhau thông qua những pháp môn “làm mới”, “tưới hoa”, “ái ngữ”, “lắng nghe”…

Thoạt đầu, thấy cái gì đó như đơn giản, như công thức, như “trại hè thanh thiếu niên”! Rồi, chỉ sau 5, 7 ngày, ta ngỡ ngàng nghe lời tâm sự của những thiền sinh có đời sống thật khó khăn thấy sự thay đổi xảy ra trong lòng họ. Một chị người Pháp gốc Việt hôm mới đến vừa khóc vừa hỏi: “Thầy dạy hãy nghĩ rằng mình không đi một mình, lúc nào cũng có ông bà, cha mẹ mình đang cùng đi trong từng bước… Nhưng con KHÔNG MUỐN họ đi cùng với con, con hận họ!”. Mấy hôm sau, giữa đêm hội Vu Lan, chị đột ngột chạy ra bàn điện thoại, gọi về nhà. Ông bố sững sờ. Đã bao nhiêu năm ông không chờ đợi cú điện thoại của cô con gái bỏ nhà ra đi! Những chuyện “người thực việc thực” như thế ở LM có nhiều lắm. Chỉ cần dẫn một con số: sau khóa tu 5 ngày của 800 người Hòa Lan ở EIAB, có 200 người xin quy y, trong đó có nhiều tín đồ Công giáo, Do Thái giáo. Họ quy y vì thấy đạo Bụt mà Thay dẫn dắt họ vào là con đường hạnh phúc.

Còn riêng tôi, sau một tháng ở LM, tôi thấy mình học được nhiều hơn những gì mình học trong nhiều năm. Học từ đủ thứ xung quanh. Từ bước đi, từ nụ cười của Thầy (nhiều người nói đến sức mạnh “thân giáo” của “ông Thầy LM”), từ câu chuyện xử sự với chính quyền công an của một sư thầy, từ vẻ thành kính trên gương mặt chàng trai Tây phương khi bưng bát cơm lên niệm trước khi ăn… Nhất là từ các tăng ni tuổi con mình có phong thái đầy tình cảm mà thung dung, đĩnh đạc, đầy năng lượng tươi mát của “tâm ban đầu” (Xin cúi chào/ những người thầy rất trẻ/ của tôi… – những câu thơ ấy đã “vụt hiện” trong tôi giữa sân Xóm Trung, LM khi nghe các thiền sinh từ Bát Nhã hát về ngày mai đói nghèo tủi nhục /đang chờ mình dâng hiến bàn tay). Từ những con người bốn phương tụ họp với cùng một ý hướng tự tu, tự hoàn thiện. (Dịp khác tôi sẽ kể về những cái đẹp, cái lớn lao mình phát hiện được trong những anh những chị lặng lẽ, khiêm nhường hy sinh, chịu đựng, cống hiến suốt bao năm cho cộng đồng mà tôi có dịp gặp ở đây). Tôi hiểu thế nào là “sức mạnh tăng thân”, là “đi như một dòng sông”.

Nhưng có lẽ điều “chuyển hóa” quan trọng nhất là tôi đi đến xác quyết này: Ở tuổi 70, mình vẫn phải “tự chuyển hóa” để có được năng lực hạnh phúc. Vì tôi cũng như không ít người già thường biện minh cho sự bảo thủ của mình bằng câu “ngũ thập tri thiên mệnh”, hàm ý đến tuổi 50 là chẳng còn thể thay đổi gì nữa. Không, ở tuổi 70, mình vẫn có thể “tự chuyển hóa”, và có thể “tự chuyển hóa” từ những thực hành tu tập cụ thể nhất, đơn giản nhất mỗi ngày trong cả ba lĩnh vực thân – khẩu – ý.

Bụt – Chúa – Đng và Thơ:

Khi mới đến LM, vào chào Thầy, tôi hồn nhiên thưa: “Thưa Thầy, tôi không quy y, không là Phật tử”. Thầy mỉm cười: “Phật tử đâu ở cái tướng?”. Tôi lại nói: “Thưa Thầy, tôi tiếc là mình không được gặp Thầy sớm hơn, nếu không chắc tôi đã đi theo Thầy. Bây giờ thì muộn rồi, thôi chắc xin hẹn Thầy kiếp sau!” (trong một bài thơ viết trên sông Hằng, tôi chả có lời nguyện cho tôi chết giữa dòng đ hóa thân thành nhà thơ hay thin sư lang bạt đó sao?). Thầy mỉm cười, bảo: “Làm Thơ cũng Tu được mà!”.

Ở LM tôi được nghe rằng: Sau một khóa tu, một thiền sinh đang là bà xơ băn khoăn có nên cởi áo chùng đen con Chúa khoác áo tràng nâu con Bụt? Thay nói: “Chúa hay Bụt cũng là một, con vẫn làm bà xơ nhưng tu tập theo pháp môn LM”. Tôi cũng thấy ở LM, các sư cô được gọi trong tiếng Pháp tiếng Anh là “soeur”, “sister” không khác gì bên nhà thờ Công giáo. Trong nhà ăn Xóm Mới, trên kệ thờ giản dị có hình Chúa sát bên hình Bụt. Tôi bỗng ngộ ra ý nghĩa câu trả lời của Thầy 7 năm trước: “Không yêu Đảng không yêu nước thì quy y làm gì?”. Liên kết với ý niệm “tâm ban đầu” của Thầy khi nhắc nhở những người Cộng sản VN về một thời tuổi trẻ họ sống có lý tưởng cứu nước, tôi hiểu Thầy muốn siêu việt ý niệm “Đảng” lên khỏi tầm của một tổ chức chính trị cai trị hay thống trị.

Như thế, với tôi LM có lẽ không phải chuyện Tôn giáo, mà là chuyện Lý tưởng sống, chuyện Lối sống. Con người hiện đại quá kiêu hãnh đang tự hủy hoại chính mình và hủy hoại đồng loại, hủy hoại trái đất. Từ đó mà khổ đau chồng chất. LM cống hiến một lối sống dựa trên minh triết của Bụt để con người có được hạnh phúc ngay trong hiện tại.

Câu cuối cùng Thầy cầm tay tôi nói lúc chia tay: “Hưng nhớ nhé, Thơ đi bằng hai chân: chánh niệm và hơi thở”. Lại một công án! Tôi sẽ phải giải công án này trong phần còn lại của đời mình.

Thich Nhat Hanh, Buddhist monk and peace activist, dies at 95

January 21, 2022 

Updated January 21, 2022 at 8:42 PM ET

HANOI, Vietnam — Thich Nhat Hanh, the revered Zen Buddhist monk who helped pioneer the concept of mindfulness in the West and socially engaged Buddhism in the East, has died. He was 95.

A post on the monk's verified Twitter page attributed to The International Plum Village Community of Engaged Buddhism said that Nhat Hanh, known as Thay to his followers, died at Tu Hieu Temple in Hue, Vietnam.

"We invite our beloved global spiritual family to take a few moments to be still, to come back to our mindful breathing, as we together hold Thay in our hearts," a follow-up post read.

Born as Nguyen Xuan Bao in 1926 and ordained at age 16, Nhat Hanh distilled Buddhist teachings on compassion and suffering into easily grasped guidance over a lifetime dedicated to working for peace. In 1961 he went to the United States to study, teaching comparative religion for a time at Princeton and Columbia universities.

For most of the remainder of his life, he lived in exile at Plum Village, a retreat center he founded in southern France.

There and in talks and retreats around the world, he introduced Zen Buddhism, at its essence, as peace through compassionate listening. Still and steadfast in his brown robes, he exuded an air of watchful, amused calm, sometimes sharing a stage with the somewhat livelier Tibetan Buddhist leader Dalai Lama.

"The peace we seek cannot be our personal possession. We need to find an inner peace which makes it possible for us to become one with those who suffer, and to do something to help our brothers and sisters, which is to say, ourselves," Nhat Hanh wrote in one of his dozens of books, "The Sun My Heart."

Surviving a stroke in 2014 that left him unable to speak, he returned to Vietnam in October 2018, spending his final years at the Tu Hieu Pagoda, the monastery where he was ordained nearly 80 years earlier.

Nhat Hanh plunged into anti-war activism after his return to his homeland in 1964 as the Vietnam War was escalating. There, he founded the Order of Inter-being, which espouses "engaged Buddhism" dedicated to nonviolence, mindfulness and social service.

In 1966, he met the U.S. civil rights leader Martin Luther King Jr. in what was a remarkable encounter for both. Nhat Hanh told King he was a "Bodhisattva," or enlightened being, for his efforts to promote social justice.

The monk's efforts to promote reconciliation between the U.S.-backed South and communist North Vietnam so impressed King that a year later he nominated Nhat Hanh for the Nobel Peace Prize.

In his exchanges with King, Nhat Hanh explained one of the rare controversies in his long life of advocating for peace — over the immolations of some Vietnamese monks and nuns to protest the war.

"I said this was not suicide, because in a difficult situation like Vietnam, to make your voice heard is difficult. So sometimes we have to burn ourselves alive in order for our voice to be heard so that is an act of compassion that you do that, the act of love and not of despair," he said in an interview with U.S. talk show host Oprah Winfrey. "Jesus Christ died in the same spirit."

Sulak Sivaraksa, a Thai academic who embraced Nhat Hanh's idea of socially engaged Buddhism, said the Zen master had "suffered more than most monks and had been involved more for social justice."

"In Vietnam in the 1950s and 1960s, he was very exposed to young people, and his society was in turmoil, in crisis. He was really in a difficult position, between the devil and the deep blue sea — the Communists on the one hand, the CIA on the other hand. In such a situation, he has been very honest — as an activist, as a contemplative monk, as a poet, and as a clear writer," Sivaraksa was quoted as saying.

According to Nhat Hanh, "Buddhism means to be awake — mindful of what is happening in one's body, feelings, mind and in the world. If you are awake, you cannot do otherwise than act compassionately to help relieve suffering you see around you. So Buddhism must be engaged in the world. If it is not engaged, it is not Buddhism."

Both North and South Vietnam barred Nhat Hanh from returning home after he went abroad in 1966 to campaign against the war, leaving him, he said, "like a bee without a beehive."

He was only allowed back into the country in 2005, when the communist-ruled government welcomed him back in the first of several visits. Nhat Hanh remained based in southern France.

The dramatic homecoming seemed to signal an easing of controls on religion. Nhat Hanh's followers were invited by the abbot of Bat Nha to settle at his mountain monastery, where they remained for several years until relations with the authorities began to sour over Nhat Hanh's calls for an end to government control over religion.

By late 2009 to early 2010, Nhat Hanh's followers were evicted from the monastery and from another temple where they had taken refuge.

Over nearly eight decades, Nhat Hanh's teachings were refined into concepts accessible to all.

To weather the storms of life and realize happiness, he counseled always a mindful "return to the breath," even while doing routine chores like sweeping and washing dishes.

"I try to live every moment like that, relaxed, dwelling peacefully in the present moment and respond to events with compassion," he told Winfrey.

Nhat Hanh moved to Thailand in late 2016 and then returned to Vietnam in late 2018, where he was receiving traditional medicine treatments for the after-effects of his stroke and enjoyed "strolls" around the temple grounds in his wheelchair, according to the Buddhist online newsletter LionsRoar.com.

It was a quiet, simple end to an extraordinary life, one entirely in keeping with his love for taking joy from the humblest aspects of life. "No mud, no lotus," says one of his many brief sayings.

Copyright 2022 NPR. To see more, visit https://www.npr.org.

Source: https://www.wgbh.org/news/international-news/2022/01/22/thich-nhat-hanh-buddhist-monk-and-peace-activist-dies-at-95

Friday, January 21, 2022

CÁO PHÓ: THIỀN SƯ THÍCH NHẤT HẠNH VIÊN TỊCH và THÔNG BÁO DI HUẤN

CÁO PHÓ: THIỀN SƯ THÍCH NHẤT HẠNH VIÊN TỊCH

Tổ Đình Từ Hiếu
Đạo Tràng Mai Thôn
Nam Mô Đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni
Kính khải bạch chư tôn Trưởng lão Hòa thượng, chư Thượng tọa Đại đức Tăng Ni,
Kính thưa quý vị Thân hữu, Thiền sinh và Phật tử cư sĩ các giới khắp nơi trên thế giới,
Sau những năm tháng an dưỡng tại Tổ đình Từ Hiếu, vào lúc 00:00 ngày 22 tháng 01 năm 2022 (nhằm ngày 20 tháng Chạp năm Tân Sửu), Thiền sư pháp hiệu trước Nhất sau Hạnh, Niên Trưởng Trú trì Tổ đình Từ Hiếu đã thâu thần thị tịch tại Tổ đình, nơi Người đã xuất gia cách đây tám mươi năm.
Thiền sư Thích Nhất Hạnh – Sư Ông Làng Mai là bậc thầy hướng dẫn tâm linh có công hạnh hoằng hóa rộng rãi và ảnh hưởng sâu dày trên khắp thế giới. Thiền sư đồng thời là một nhà văn hóa, một nhà văn, một nhà thơ, một học giả, một sử gia và một nhà hoạt động hòa bình. Thiền Sư được biết đến qua những buổi thuyết giảng công cộng cho cả hàng chục ngàn người và hơn 120 tác phẩm xuất bản giá trị. Thiền sư đã mở ra hướng đi và phát triển những pháp môn thực tập với nhiều khoá tu dành cho các nhà giáo dục, thanh thiếu niên, nghệ sĩ, doanh nhân, các nhà lãnh đạo, y bác sĩ… Bên cạnh sự nghiệp hoằng pháp Thiền sư cũng đã tổ chức nhiều Đại Giới Đàn và lễ Truyền Đăng, Việt hoá Nghi lễ và tân tu Giới bản để tiếp dẫn hậu lai.
Mục sư Martin Luther King vinh danh Thiền sư như là “một Thánh tông đồ của hòa bình và bất bạo động” khi đề cử Người cho giải Nobel Hòa bình vào năm 1967. Trong gần 40 năm sống xa quê hương, Thiền sư là một trong những người tiên phong mang đạo Bụt, đặc biệt là pháp môn chánh niệm đến xã hội phương Tây và góp phần xây dựng một cộng đồng Phật giáo Dấn thân cho thế kỷ XXI với gần 1250 đệ tử xuất gia, hàng triệu đệ tử tại gia và hàng trăm triệu độc giả trên khắp năm châu. Rất nhiều học trò của Thiền sư đã gặt hái được nhiều hoa trái trong sự thực tập và tiếp nối được sự nghiệp hoằng hoá mà Thiền sư trao truyền suốt những thập kỷ qua.
Sơ lược Tiểu sử
Thiền sư Thích Nhất Hạnh, thế danh Nguyễn Xuân Bảo, sinh năm Bính Dần (1926) tại làng Thành Trung, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Là con kế út trong gia đình có sáu anh chị em, cha là cụ ông Nguyễn Đình Phúc, mẹ là cụ bà Trần Thị Dĩ.
- Năm 1942, xuất gia tại Tổ đình Từ Hiếu với Thiền sư Thanh Quý Chân Thật, được ban pháp danh Trừng Quang.
- Tháng 9 năm 1945, thọ giới Sa di với Bổn sư, được ban pháp tự Phùng Xuân.
- Năm 1947, theo học Phật học đường Báo Quốc, Huế.
- Năm 1949, rời Huế vào Sài Gòn tiếp tục tu học. Bắt đầu sự nghiệp sáng tác với pháp hiệu Thích Nhất Hạnh, một trong nhiều bút hiệu của Thiền sư. Đồng sáng lập chùa Ấn Quang, làm giáo thọ Phật học đường Nam Việt.
- Tháng 10 năm 1951, thọ Giới Lớn tại chùa Ấn Quang, Sài Gòn với Hòa thượng Đường đầu Thích Đôn Hậu.
- Năm 1954: Tổng Hội Phật Giáo giao trách nhiệm cải cách giáo dục, làm Giám học Phật Học Đường Nam Việt.
- Năm 1955, làm chủ bút Nguyệt san Phật giáo Việt Nam, cơ quan ngôn luận của Tổng hội Phật Giáo Việt Nam.
- Năm 1957, thành lập Phương Bối Am, Bảo Lộc.
- Năm 1961 – 1963, tham học, nghiên cứu và giảng dạy tại đại học Princeton và Columbia, Hoa Kỳ. Sáng tác đoản văn “Bông Hồng Cài Áo”.
- Năm 1964, được mời trở về Việt Nam tham gia lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), thành lập Viện Cao đẳng Phật học Sài Gòn tại chùa Pháp Hội (tiền thân của Viện đại học Vạn Hạnh) và nhà xuất bản Lá Bối. Làm chủ bút tuần san Hải Triều Âm, cơ quan ngôn luận của Viện Hóa Đạo.
- Năm 1965, thành lập trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội.
- Năm 1966, thành lập Dòng tu Tiếp Hiện.
- Ngày 1.5.1966, được Bổn sư phú pháp truyền đăng tại chùa Từ Hiếu và được kế thừa Trú trì Tổ đình Từ Hiếu sau khi Bổn sư viên tịch.
- Ngày 11.05.1966, rời Việt Nam kêu gọi Hòa bình, bắt đầu 39 năm lưu vong.
- Năm 1967, được mục sư Martin Luther King Jr. đề cử giải Nobel Hòa bình.
- Năm 1968 – 1973, vận động hòa bình cho Hội nghị Hòa bình Paris (1968-1973). Trong thời gian này, được mời dạy môn “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” tại trường đại học Sorbonne, Pháp Quốc và soạn Việt Nam Phật giáo Sử luận 3 tập với bút hiệu Nguyễn Lang.
- Tháng 9 năm 1970, được GHPGVNTN chính thức đề cử làm lãnh đạo Phái đoàn Phật giáo Hòa bình tại Hội nghị Paris.
- Tháng 5 năm 1970, tham gia soạn thảo Tuyên ngôn Menton về vấn đề tàn hại sinh môi, ô nhiễm môi trường và sự gia tăng dân số. Cùng các cộng sự gặp ông U Thant, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc và được ông cam kết yểm trợ.
- Năm 1972, chủ trì Hội nghị Môi trường có tên Đại Đồng với nội dung: sinh thái học bề sâu, tính tương tức và tầm quan trọng của việc bảo hộ trái đất.
- Năm 1971, thành lập Phương Vân Am, Paris.
- Năm 1976, cứu giúp thuyền nhân và thực hiện chương trình “Máu chảy ruột mềm”.
- Năm 1982, thành lập Đạo tràng Mai Thôn tại Pháp.
- Năm 1998, thành lập Tu viện Thanh Sơn, Hoa Kỳ; năm 2000, thành lập Tu viện Lộc Uyển, Hoa Kỳ.
- Năm 1999, cùng với các chủ nhân giải Nobel Hòa bình soạn thảo Tuyên ngôn 2000 về một nền hòa bình và bất bạo động cho thiên niên kỷ mới.
- Năm 2005, trở về Việt Nam lần thứ nhất. Thành lập tu viện Bát Nhã, Bảo Lộc.
- Năm 2007, trở về Việt Nam lần thứ hai, tổ chức ba Đại Trai Đàn Bình Đẳng Chẩn Tế tại ba miền.
- Năm 2008, trở về Việt Nam lần thứ ba, thuyết giảng tại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc.
- Từ năm 2008, thành lập Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu, Đức; Tu viện Bích Nham, Tu viện Mộc Lan, Hoa Kỳ; Thiền đường Hơi Thở Nhẹ, Paris; Làng Mai Thái Lan; Viện Phật học Ứng dụng Châu Á, Hong Kong; Tu viện Nhập Lưu, Úc; Ni xá Diệu Trạm, Ni xá Trạm Tịch, Việt Nam, tiếp tục mở rộng công trình hoằng pháp và xây dựng Tăng thân trên khắp thế giới.
- Tháng 10 năm 2018, trở về an dưỡng tại Tổ đình Từ Hiếu, Việt Nam.
- 00:00 giờ ngày 22 tháng Giêng năm 2022, an nhiên thị tịch tại Thất Lắng Nghe, Tổ đình Từ Hiếu.
Nhất tâm đảnh lễ Tân Viên Tịch, Tự Lâm Tế Tông Tứ Thập Nhị Thế, Liễu Quán Pháp Phái Đệ Bát Thế, Từ Hiếu Tổ Đình Niên Trưởng Trú Trì, Mai Thôn Đạo Tràng Quốc Tế Khai Sơn, Huý Thượng Trừng Hạ Quang, Tự Phùng Xuân, Hiệu Nhất Hạnh Thiền Sư, Nguyễn Công Hoà Thượng Giác Linh.
Chúng con sẽ cập nhật thông tin về chương trình Tang lễ trên Trang nhà Làng Mai.




Tổ Đình Từ Hiếu - Compassionate Filial Piety Monastery
Đạo Tràng Mai Thôn - Plum Village Practice Center

THÔNG BÁO DI HUẤN
Nam Mô Đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni
Kính khải bạch Chư Tôn Trưởng lão Hòa Thượng, Chư Thượng tọa Đại đức Tăng Ni,
Kính thưa quý vị Thân hữu, Thiền sinh và Phật tử cư sĩ các giới khắp nơi trên thế giới,
Sau những năm tháng an dưỡng tại chốn Tổ Từ Hiếu từ ngày 26 tháng 10 năm 2018, Thiền Sư pháp hiệu trước Nhất sau Hạnh Niên Trưởng Trú Trì Tổ Đình Từ Hiếu, Khai Sơn Đạo Tràng Mai Thôn Quốc Tế đã thâu thần thị tịch vào lúc 00:00 giờ sáng ngày 22 tháng 01 năm 2022, nhằm ngày 20 tháng chạp năm Tân Sửu.
Chúng con mạn phép được thay mặt Môn đồ Pháp quyến kính xin thông báo di huấn của Thiền Sư:
1. Quý Thầy tại Tổ Đình Từ Hiếu và Tăng Thân Làng Mai sẽ sắp xếp tang lễ theo nghi thức tâm tang và kính xin chư Tôn Đức đồng hộ niệm cho các buổi Lễ Nhập Kim Quan và Lễ Trà Tỳ.
8h00 ngày 23.01.2022 Lễ Nhập Kim Quan
7h00 ngày 29.01.2022 Lễ Trà Tỳ
2. Tang lễ sẽ kéo dài trong 7 ngày theo hình thức của một khóa tu im lặng. Trong suốt thời gian đó, kính xin quý vị đến thăm viếng cùng thực tập chung với chúng tôi - tâm niệm cúng dường - để cho toàn bộ tang Lễ Tâm Tang được diễn ra trong sự im lặng, trang nghiêm, thanh tịnh, tĩnh lặng và nhẹ nhàng.
3. Sau Lễ Trà Tỳ, Xá Lợi sẽ được an vị tại Tổ Đình Từ Hiếu và các trung tâm khác của Làng Mai khắp nơi trên thế giới mà không cần phải xây tháp.
Theo di huấn của Thiền Sư, chúng con kính xin thông báo để Chư Tôn thiền đức và quý vị thân hữu, thiền sinh và Phật tử cư sĩ các giới khắp nơi trên thế giới được liễu tri và đồng hộ niệm cho Lễ Tâm Tang được trang nghiêm thanh tịnh. Chúng tôi xin quý vị hoan hỷ miễn các phúng điếu vòng hoa, trướng liễn.
Kính xin quý vị xem thêm chương trình chi tiết của tang lễ tâm tang và khóa tu im lặng trên trang nhà của Làng Mai (www.langmai.org), và trong tập cẩm nang cho tang lễ và khóa tu.
Chúng tôi thành kính tri ân.
Phật lịch 2566, Tổ Đình Từ Hiếu, ngày 22 tháng 01 năm 2022
(nhằm ngày 20 tháng chạp năm Tân Sửu)
Pháp Tử Tỳ Kheo Thích Từ Đạo - Giám Tự và Chủ Hộ Chùa Từ Hiếu
Pháp Tử Tỳ Kheo Thích Chân Pháp Ấn

Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, một trong những thiền sư Phật giáo lớn nhất của thời đại chúng ta, vừa viên tịch ở tuổi 95

 

Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, một trong những thiền sư Phật giáo lớn nhất của thời đại chúng ta, vừa viên tịch ở tuổi 95


LILLY GREENBLATT - NGÀY 21 THÁNG 1 NĂM 2022


Thầy Thích Nhất Hạnh, thiền sư Phật giáo Việt Nam và người sáng lập phong trào Phật giáo nhập thế, đã qua đời hôm nay tại quê nhà Việt Nam. Ngài thọ thế 95 tuổi, 80 năm xuất gia, 72 hạ lạp.

 

Là một trong những thiền sư Phật giáo vĩ đại của thời đại chúng ta, Ngài Thích Nhất Hạnh vừa viên tịch lúc 00:00 22 tháng 1, 2022 tại tổ đình Từ Hiếu, Huế, Việt Nam, ngôi chùa Phật giáo nơi Ngài xuất gia năm mười sáu tuổi. Sau khi bị đột quỵ vào năm 2014, Ngài đã bày tỏ mong muốn được trở về quê hương của mình, và vào tháng 10 năm 2018, Ngài đã trở về chùa quê hương của mình. Ở đó, Ngài đã trải qua những năm tháng cuối đời được bao bọc bởi các đệ tử và học trò thân thiết của mình.

Làng Mai Quốc tế đã đưa ra một thông cáo về sự ra đi của Ngài:


“Cộng đồng Phật giáo tại gia Làng Mai quốc tế thông báo rằng: “Sau những năm tháng an dưỡng tại Tổ đình Từ Hiếu, vào lúc 00:00 ngày 22 tháng 01 năm 2022 (nhằm ngày 20 tháng Chạp năm Tân Sửu), Thiền sư pháp hiệu trước Nhất sau Hạnh, Niên Trưởng Trú trì Tổ đình Từ Hiếu đã thâu thần thị tịch tại Tổ đình, nơi Người đã xuất gia cách đây tám mươi năm.  Kính mời đại gia đình trên khắp địa cầu, tập tĩnh lặng một vài phút, để trở lại với nhịp thở chánh niệm, khi chúng ta cùng ôm Thầy vào lòng trong sự bình yên và lòng biết ơn đầy yêu thương đối với tất cả những gì Thầy đã cống hiến cho thế giới.”

Ngài Nhất Hạnh, được các học trò gọi một cách trìu mến là “Thầy”, thường được gọi là “cha đẻ của chánh niệm hiện tại lạc trú”. Trong 95 năm của đời mình, Ngài đã tạo ra ảnh hưởng toàn cầu với tư cách là một giáo viên, tác giả, nhà hoạt động và người sáng lập phong trào Phật giáo dấn thân. Những lời dạy đơn giản nhưng vô cùng sâu sắc của Ngài đã khiến vô số người hướng tới một cuộc sống chánh niệm, vui vẻ và bình an.


Ngài bị xuất huyết não vào tháng 11 năm 2014 và đã trải qua bốn tháng rưỡi tại một phòng khám phục hồi chức năng đột quỵ tại Bệnh viện Đại học Bordeaux. Anh trở về Làng Mai ở Pháp, nơi sức khỏe của Ngài tiến triển rõ rệt và Ngài đã có thể “hòa mình vào thiên nhiên, ngắm hoa, nghe chim hót và nghỉ ngơi dưới gốc cây”.


Năm 2016, hai tháng sau sinh nhật lần thứ 90, Thầy Nhất Hạnh bày tỏ mong muốn được đi du lịch Thái Lan để gần quê hương Việt Nam hơn. Ngài đã ở gần hai năm tại Làng Mai Thái Lan. Vào tháng 10 năm 2018, thiền sư Thích Nhất Hạnh đã đến Việt Nam để dành những tháng ngày còn lại tại ngôi chùa tổ của mình.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh, thế danh Nguyễn Xuân Bảo, sinh năm Bính Dần (1926) tại làng Thành Trung, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Là con kế út trong gia đình có sáu anh chị em, cha là cụ ông Nguyễn Đình Phúc, mẹ là cụ bà Trần Thị Dĩ.

Năm 1942, xuất gia tại Tổ đình Từ Hiếu với Thiền sư Thanh Quý Chân Thật, được ban pháp danh Trừng Quang.

Tháng 9 năm 1945, thọ giới Sa di với Bổn sư, được ban pháp tự Phùng Xuân.

Năm 1947, theo học Phật học đường Báo Quốc, Huế.

Năm 1949, rời Huế vào Sài Gòn tiếp tục tu học. Bắt đầu sự nghiệp sáng tác với pháp hiệu Thích Nhất Hạnh, một trong nhiều bút hiệu của Thiền sư. Đồng sáng lập chùa Ấn Quang, làm giáo thọ Phật học đường Nam Việt.

Tháng 10 năm 1951, thọ Giới Lớn tại chùa Ấn Quang, Sài Gòn  với Hòa thượng Đường đầu Thích Đôn Hậu.

Năm 1954: Tổng Hội Phật Giáo giao trách nhiệm cải cách giáo dục, làm Giám học Phật Học Đường Nam Việt.

Năm 1955, làm chủ bút Nguyệt san Phật giáo Việt Nam, cơ quan ngôn luận của Tổng hội Phật Giáo Việt Nam.

Năm 1957, thành lập Phương Bối Am, Bảo Lộc.

Năm 1961 – 1963, tham học, nghiên cứu và giảng dạy tại đại học Princeton và Columbia, Hoa Kỳ. Sáng tác đoản văn “Bông Hồng Cài Áo”.

Năm 1964, được mời trở về Việt Nam tham gia lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), thành lập Viện Cao đẳng Phật học Sài Gòn tại chùa Pháp Hội (tiền thân của Viện đại học Vạn Hạnh) và nhà xuất bản Lá Bối. Làm chủ bút tuần san Hải Triều Âm, cơ quan ngôn luận của Viện Hóa Đạo.

Năm 1965, thành lập trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội.  Năm 1966, thành lập Dòng tu Tiếp Hiện. 

Ngày 1.5.1966, được Bổn sư phú pháp truyền đăng tại chùa Từ Hiếu và được kế thừa Trú trì Tổ đình Từ Hiếu sau khi Bổn sư viên tịch.

Ngày 11.05.1966, rời Việt Nam kêu gọi Hòa bình, bắt đầu 39 năm lưu vong. 

Năm 1967, được mục sư Martin Luther King Jr. đề cử giải Nobel Hòa bình.

Năm 1968 – 1973, vận động hòa bình cho Hội nghị Hòa bình Paris (1968-1973). Trong thời gian này, được mời dạy môn “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” tại trường đại học Sorbonne, Pháp Quốc và soạn Việt Nam Phật giáo Sử luận 3 tập với bút hiệu Nguyễn Lang.

Tháng 9 năm 1970, được GHPGVNTN chính thức đề cử làm lãnh đạo Phái đoàn Phật giáo Hòa bình tại Hội nghị Paris. 

Tháng 5 năm 1970, tham gia soạn thảo Tuyên ngôn Menton về vấn đề tàn hại sinh môi, ô nhiễm môi trường và sự gia tăng dân số. Cùng các cộng sự gặp ông U Thant, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc và được ông cam kết yểm trợ.

Năm 1972, chủ trì Hội nghị Môi trường có tên Đại Đồng với nội dung: sinh thái học bề sâu, tính tương tức và tầm quan trọng của việc bảo hộ trái đất. 

Năm 1971, thành lập Phương Vân Am, Paris.

Năm 1976, cứu giúp thuyền nhân và thực hiện chương trình “Máu chảy ruột mềm”.

Năm 1982, thành lập Đạo tràng Mai Thôn tại Pháp.

Năm 1998, thành lập Tu viện Thanh Sơn, Hoa Kỳ; năm 2000, thành lập Tu viện Lộc Uyển, Hoa Kỳ.

Năm 1999, cùng với các chủ nhân giải Nobel Hòa bình soạn thảo Tuyên ngôn 2000 về một nền hòa bình và bất bạo động cho thiên niên kỷ mới.

Năm 2005, trở về Việt Nam lần thứ nhất. Thành lập tu viện Bát Nhã, Bảo Lộc.

Năm 2007, trở về Việt Nam lần thứ hai, tổ chức ba Đại Trai Đàn Bình Đẳng Chẩn Tế tại ba miền.

Năm 2008, trở về Việt Nam lần thứ ba, thuyết giảng tại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc.

Từ năm 2008, thành lập Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu, Đức; Tu viện Bích Nham, Tu viện Mộc Lan, Hoa Kỳ; Thiền đường Hơi Thở Nhẹ, Paris; Làng Mai Thái Lan; Viện Phật học Ứng dụng Châu Á, Hong Kong;  Tu viện Nhập Lưu, Úc; Ni xá Diệu Trạm, Ni xá Trạm Tịch, Việt Nam, tiếp tục mở rộng công trình hoằng pháp và xây dựng Tăng thân trên khắp thế giới.

Tháng 10 năm 2018, trở về an dưỡng tại Tổ đình Từ Hiếu, Việt Nam.

00:00 giờ ngày 22 tháng Giêng năm 2022, an nhiên thị tịch tại Thất Lắng Nghe, Tổ đình Từ Hiếu.


Như Lindsay Kyte đã viết cho Lion's Roar trong " Cuộc đời của Thích Nhất Hạnh ", Thầy Nhất Hạnh được gửi đi đào tạo tại một học viện Phật giáo nhưng không hài lòng với chương trình giảng dạy, muốn học các môn hiện đại hơn. Ngài chuyển đến Đại học Sài Gòn, nơi Ngài có thể nghiên cứu văn học thế giới, triết học, tâm lý học và khoa học ngoài Phật giáo, Ngài tiếp tục bắt đầu công việc hoạt động của mình, thành lập Nhà xuất bản Lá Bối và Đại học Phật giáo Vạn Hạnh ở Sài Gòn. Ngài cũng thành lập Trường Thanh niên Phục vụ Xã hội, một nhóm trung lập gồm những người làm công tác hòa bình Phật giáo, những người đã thành lập trường học, xây dựng các trạm y tế và xây dựng lại các ngôi làng ở các vùng nông thôn.


Ngài nhận học bổng nghiên cứu so sánh tôn giáo tại Đại học Princeton vào năm 1960 và sau đó được bổ nhiệm làm giảng viên Phật học tại Đại học Columbia. Ngài thông thạo tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Trung, tiếng Phạn, tiếng Pali.


Năm 1963, một cuộc đảo chính quân sự do Hoa Kỳ hậu thuẫn đã lật đổ chế độ Diệm, và Thầy Nhất Hạnh trở về Việt Nam để tiếp tục khởi xướng các nỗ lực hòa bình bất bạo động. Ngài đã đệ trình một đề xuất hòa bình lên Giáo hội Phật giáo Thống nhất (UBC), kêu gọi chấm dứt các hành động thù địch, thành lập một học viện Phật giáo cho các nhà lãnh đạo đất nước, và thành lập một trung tâm thúc đẩy thay đổi xã hội bất bạo động. Việc thành lập phong trào Phật giáo dấn thân là phản ứng của ông đối với Chiến tranh Việt Nam. Nhiệm vụ của Thầy Nhất Hạnh là đấu tranh với những đau khổ do chiến tranh và bất công gây ra, đồng thời tạo ra một dòng Phật giáo mới có thể cứu đất nước. Trong những năm hình thành phong trào Phật giáo dấn thân, Thầy Nhất Hạnh gặp Phật Tử Cao Ngọc Phương, người sau này trở thành Sư Bà Chân Không. Sư Bà hy vọng sẽ khuyến khích hoạt động vì người nghèo trong cộng đồng Phật giáo, và hợp tác chặt chẽ với Thầy Nhất Hạnh để làm điều đó. Sư Bà vẫn là người đệ tử và cộng sự thân thiết nhất của Ngài trong phần còn lại của cuộc đời Ngài.


Năm 1966, Thầy Nhất Hạnh trở lại Hoa Kỳ để chủ trì một hội nghị chuyên đề tại Đại học Cornell về Phật giáo Việt Nam. Tại đây, Ngài đã gặp Tiến sĩ Martin Luther King, Jr. và cùng Mục sư King tố cáo chiến tranh Việt Nam. Tiến sĩ King đã chấp nhận yêu cầu vào năm sau với một bài phát biểu đặt câu hỏi về sự tham gia của Mỹ trong cuộc chiến. Ngay sau đó, ông đã đề cử Ngài Nhất Hạnh cho giải Nobel Hòa bình. “Cá nhân tôi không biết có ai xứng đáng với [giải thưởng] hơn vị sư hiền lành đến từ Việt Nam này. Những ý tưởng của ông ấy về hòa bình, nếu được áp dụng, sẽ xây dựng một tượng đài cho chủ nghĩa đại kết, cho tình anh em thế giới, cho nhân loại,” Mục sư King viết.


Vào tháng 6 năm đó, Thầy Nhất Hạnh trình bày một đề nghị hòa bình tại Washington kêu gọi người Mỹ ngừng ném bom Việt Nam, nhấn mạnh rằng ông và những người theo ông ủng hộ không bên nào trong cuộc chiến và chỉ muốn hòa bình. Đáp lại, Thầy Nhất Hạnh bị lưu đày khỏi Việt Nam. Ngài được tị nạn tại Pháp, nơi Ngài trở thành Chủ tịch Phái đoàn Hòa bình Phật giáo Việt Nam.


Thiền sư Nhất Hạnh là người đứng đầu Giáo đoàn Liên Hiệp, một nhóm tu sĩ và cư sĩ mà Ngài thành lập năm 1966. Năm 1969, Ngài cũng thành lập Giáo hội Phật giáo Thống nhất, và sau đó vào năm 1975, thành lập Trung tâm Thiền Sweet Potatoes ở phía đông nam Paris, Pháp. Khi trung tâm này ngày càng nổi tiếng, Thầy Nhất Hạnh và Sư cô Chân Không đã thành lập Làng Mai , một tịnh xá (tu viện Phật giáo) và trung tâm Thiền, ở miền Nam nước Pháp vào năm 1982. Năm 1987, Ngài thành lập Parallax Press ở California, nơi xuất bản các bài viết của Ngài ở Tiếng Anh. Ngài thành lập Tu viện Lộc Uyển ở Nam California, tu viện đầu tiên của ngài ở Hoa Kỳ, vào năm 2000. Kể từ đó, nhiều trung tâm hoằng pháp trên khắp Hoa Kỳ, phục vụ hàng chục ngàn cư sĩ, đã được thành lập như một phần của Giáo đoàn Interbeing.


Sau khi đàm phán, chính phủ Việt Nam đã cho phép thầy Nhất Hạnh, hiện là một nhà sư Phật giáo nổi tiếng, trở lại thăm Việt Nam vào năm 2005. Thầy đã có thể giảng dạy, xuất bản bốn cuốn sách bằng tiếng Việt, đi du lịch đất nước và thăm ngôi chùa Tổ của thầy. Mặc dù chuyến về nhà đầu tiên của Ngài đã gây ra tranh cãi, nhưng Thầy Nhất Hạnh được phép trở lại vào năm 2007 để hỗ trợ các đệ tử mới của mình, tổ chức các buổi lễ tụng kinh để chữa lành vết thương từ Chiến tranh Việt Nam, và dẫn dắt các khóa tu cho các nhóm lên đến 10.000 người.


“Chúng tôi đánh giá sự vĩ đại của những người thầy tâm linh bằng chiều sâu, bề rộng và tác động của những lời dạy của họ, và bằng tấm gương cuộc sống của họ đã đặt ra cho chúng tôi. Bằng tất cả những biện pháp này, Thầy Thích Nhất Hạnh là một trong những bậc thầy tâm linh hàng đầu của thời đại chúng ta, ” tổng biên tập của Lion's Roar , Melvin McLeod viết trong phần giới thiệu về The Pocket Thich Nhat Hanh .

Trong cuộc đời của mình, Ngài Nhất Hạnh là tác giả của hơn 100 cuốn sách đã được dịch ra 35 thứ tiếng, về nhiều chủ đề - từ những bài giảng đơn giản về chánh niệm cho đến sách thiếu nhi, thơ và các bài tiểu luận học thuật về thực hành Thiền. Cuốn sách gần đây nhất của Ngài, Zen and the Art of Saving the Planet , được xuất bản bởi HarperCollins vào tháng 10 năm 2021. Cộng đồng tu tập của Ngài bao gồm hơn 600 người xuất gia trên toàn thế giới và hiện có hơn 1000 cộng đồng thực hành với sự tham dự của tăng đoàn tận tụy của Ngài trên khắp Bắc Mỹ và Châu Âu.


Người ta ước tính rằng Thầy Nhất Hạnh đã tạo ra hơn 10.000 tác phẩm thư pháp trong cuộc đời của mình, mỗi tác phẩm đều chia sẻ những thông điệp đơn giản, độc đáo: “Thở đi, bạn đang sống”; “Hạnh phúc là ở đây và bây giờ”; “Khoảnh khắc hiện tại, khoảnh khắc tuyệt vời”; "Thức dậy; Tuyết rơi"; "Đây là nó". Bản thân cuộc sống của anh đã là một sự thiền định trong hành động, tạo ra sự bình yên trong mỗi bước đi.


Trong một bản tin gửi tới cộng đồng, Làng Mai chia sẻ rằng bắt đầu từ thứ Bảy, ngày 22 tháng Giêng, cộng đồng toàn cầu được mời đến trực tuyến để tưởng nhớ cuộc đời và di sản của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh. Làng Mai sẽ phát sóng trực tiếp năm ngày tu tập và các buổi lễ từ Huế, Việt Nam và Làng Mai, Pháp. Thông tin chi tiết có thể được tìm thấy trên trang web https://langmai.org/da-ve-da-toi/


“Bây giờ là giây phút để quay lại với nhịp thở và bước đi trong chánh niệm của chúng ta, để tạo ra năng lượng của hòa bình, từ bi và lòng biết ơn để dâng lên Thầy  kính yêu của chúng ta. Đó là một khoảnh khắc để nương náu trong những người bạn tâm linh, những tăng đoàn địa phương và cộng đồng của chúng ta, và lẫn nhau, ”Làng Mai viết.

Trong cuốn sách Ở nhà trên thế giới, xuất bản năm 2016, Thầy Nhất Hạnh đã đề cập đến cái chết không thể tránh khỏi của mình. Ông đã viết:


“Cơ thể này của tôi sẽ tan rã, nhưng hành động của tôi sẽ tiếp tục với tôi… Nếu bạn nghĩ rằng tôi chỉ là cơ thể này, thì bạn đã không thực sự nhìn thấy tôi. Khi bạn nhìn vào những người bạn của tôi, bạn sẽ thấy sự tiếp tục của tôi. Khi bạn nhìn thấy ai đó bước đi với chánh niệm và lòng từ bi, bạn biết người đó là sự tiếp nối của tôi. Tôi không hiểu tại sao chúng ta phải nói "Tôi sẽ chết", bởi vì tôi đã có thể nhìn thấy chính mình trong bạn, trong những người khác và trong thế hệ tương lai.


Ngay cả khi không có mây ở đó, nó vẫn tiếp tục như tuyết hoặc mưa. Không thể để đám mây chết. Nó có thể trở thành mưa hoặc băng, nhưng nó không thể trở thành hư không. Đám mây không cần phải có linh hồn để tiếp tục. Không có bắt đầu và không có kết thúc. Tôi sẽ không bao giờ chết. Sẽ có một sự tan rã của cơ thể này, nhưng điều đó không có nghĩa là cái chết của tôi. Tôi sẽ luôn luôn tiếp nối”

 

Nhóm Hoa Đàm lược dịch


Thích Nhất Hạnh về Thực hành Chánh niệm


CỦA THÍCH NHẤT HẠNH

Những điều hay nhất của Thích Nhất Hạnh: Cuộc đời, Lời dạy, Trích dẫn và Sách

 

 Nguồn: