Monday, July 16, 2018

LỜI PHÁT NGUYỆN


LỜI PHÁT NGUYỆN 
do anh Cao Chánh Hựu đọc trong Buổi Phát Nguyện của mình.

Tổ chức GĐPTVN như một đóa sen sung sức, đâm chồi nẩy lộc từ đất Thần Kinh rồi trải rộng dần đến mọi miền quê hương và, gần đây, lan tỏa cùng khắp hải ngoại.

Là Sứ giả của Tổ chức, người Huynh trưởng phát nguyện trọn đời phụng sự Đạo Pháp, phụng sự GĐPTVN.

Là sứ giả, người Huynh trưởng nhận mệnh lệnh của chính mình: mệnh lệnh của Con Tim, Khối Óc của chính Huynh trưởng đã tìm ra hướng đi của cuộc đời; Lý tưởng GĐPT – Đó cũng chính là tín nguyện khi quy y, lúc đeo Hoa Sen, khi phát nguyện Thọ Cấp.

Là Sứ giả, người Huynh trưởng thọ nhận di huấn của Tổ chức: Đó là Nội Quy, Quy Chế đã được un đúc truyền thừa – Đó là di huấn của chư sáng lập viên, của quý Anh Chị tiền bối và, cao hơn hết là di huấn của Đức Phật.

Là Sứ giả, người Huynh trưởng tiếp nhận hai nhiệm vụ song hành: tu học rèn luyện, đồng thời dấn thân đem đạo vào đời. Hai nhiệm vụ này là hai tín lực nhân quả và tương duyên, suốt đời Tự Độ và Độ Tha của Huynh trưởng.

Là Sứ giả, người Huynh trưởng luôn luôn tâm niệm Vô ngã-vị tha, hòa đồng cùng tập thể, thương yêu đùm bọc nhau, sách tấn nhau dõng mãnh tinh tấn và đồng thời nêu gương cho thế hệ kế thừa.

Là Sứ giả, người Huynh trưởng luôn điều phục Thân, Khẩu, Ý ở mọi nơi, trong mọi lúc, và mọi hoàn cảnh…, bằng cử chỉ, hành động, bằng ngôn ngữ, tác phong – của Chân Chính Phật Tử.

Là Sứ giả, người Huynh trưởng không xao lãng tu học và hành trì Chánh Pháp-Phật Pháp là hành trang quan trọng nhất để Huynh trưởng thực hiện sứ mệnh cao cả thọ nhập. Phật Pháp không phải là lý luận suông, cũng không phải là giáo điều trang sức cho nhận thức. Đạo Phật, đích thực, là Đạo thực hành.

Là Sứ giả, người Huynh trưởng tâm niệm: Mang niềm tin đến các em, đến mọi người, cho quốc gia, dân tộc… bằng tâm huyết, bằng hành động cụ thể và thiết thực, bằng gương sáng hiền hòa, nhẫn nhục, tháo vát, nói ít làm nhiều; và bằng cách khai sáng hiển lộ tiềm lực và khả năng Từ Bi - Trí Tuệ - Dũng Mãnh của Đạo Phật nhập thế.

Với thời gian ngắn ngủi của một kiếp người, chúng ta nguyện tinh tấn, kiến lập an lạc-hạnh phúc cho chính mình, cho các em mình, cho gia đình mình, cho tổ chức, cho Đạo pháp, cho Dân tộc và cho nhân quần xã hội…

By Tâm Huệ Cao Chánh Hựu,

Chief of Interim Guiding Board Section

of Vietnamese Overseas Buddhist Family Organization



Like an energetic lotus, the Vietnamese Buddhist Family Organization has sprung its buds and shoots out of the Imperial Land and gradually spread out over every bit of fatherland, and recently onto foreign soils.

As missionary of the Family, a senior has a life commitment to serve the Dharma as well as the Organization.

As a commissioned, the senior will receive orders from him/herself: it should be a command from his/her heart, his/her mind that has unearthed the direction for his/her life: the ideal of the Family. It would also be the sworn dedication when taking refuge, pinning the Lotus emblem, being ready for receiving organization grade.

As a commissioned, a senior receives traditional instructions from the Family: there are Bylaws, transferred and added up Regulations, that should be transferred instructions from its founders, from elder men and women, and utmost of all, from Buddha’s Teachings.

As a commissioned, a senior would receive two parallel assignments: practice and training, and at the same time engagement to bring Teachings into real life. These two assignments have a double fold of trustful forces of cause/effect and inflection of causes, and they must be self-liberation and liberation for others or altruist liberation of a senior.

As a commissioned, a senior must always meditate on “Selflessness-Altruism”, harmoniously integrate into collective, give out mutual love and mutual support, encourage each other to attain clairvoyance, and at the same time be a role model to posterior generations.

As a commissioned, a senior always has to regulate Body, Tongue, and Mind everywhere, every time, in every condition… in gesture, action, language, attitude – of a true Buddhist member.

As a commissioned, a senior won’t ever give up practice and study and observe True Dharma –Buddhist Teachings should be the most important gear for a senior to implement his/her most holiest mission of integral engagement. Buddha’s Teachings shouldn’t be merely pure reasoning, and not ornamental beliefs to conscious knowledge. Indeed, Buddhism is a religion in action.

As a commissioned, a senior must keep commitment: to bring Beliefs to the young, to everyone, every country, every nation… by his/her heart, real and necessary action, by exemplar of tolerance and integration, patience, perseverance, “fewer words more action”; by extracting and exposing hidden strengths and forces of Compassion-Wisdom-Courage of the engaged Buddhism.


In the short span of man’s life, we are committed to advance in true knowledge, build up peace and happiness for ourselves, our young, our family, our Organization, our Dharma or Teachings, our nation, and our social mass in general…

Translated by Hoa Đàm Translations Group

Friday, July 13, 2018

Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam - Thích Phước Tịnh

Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam - Thích Phước Tịnh


Lời dẫn: Ở Hoa Kỳ, thầy Phước Tịnh dạy khóa Lịch sử PGVN rất hay, chúng tôi đã nghe 35 buổi giảng thì hầu như buổi nào Thầy cũng nhắc đến tinh thần dân tộc và hiểm họa Trung Hoa. Chúng tôi
 có phiên tả một đoạn thầy giảng như sau, và kính mời quý vị cùng nghe 35 buổi giảng tại Mắt Thương Nhìn Đời. - Pháp Uyển 

1. Con Đường Tơ Lụa

Đây là từ ngữ chúng ta mượn để nói đến sự du nhập của Phật giáo vào Việt, kỳ thực đạo Phật truyền vào Việt Nam không phải từ con đường tơ lụa. Con đường tơ lụa chỉ dành cho Trung Hoa. Trước kia họ không nói đến tên con đường tơ lụa, mà chỉ nói con đường của hành lang Lăng Châu. Tức là từ kinh đô Trường An đi về phía Tây qua các tỉnh như Lăng Châu, đến những vùng sa mạc rồi băng qua vùng Trung Á và Tây Á. 

Chúng ta biết rằng con đường tơ lụa của Trung Hoa đã có mặt trước trung nguyên cả hai thế kỷ. Từ thời nhà Hán, Trương Kiên là người đầu tiên, mở đầu cho con đường giao thương từ Trung Hoa sang các quốc gia thuộc vùng Trung Á và Tây Á, rồi tới biển Địa Trung Hải; thậm chí con đường này mở ra cho tới các quốc gia phía Đông của La Mã; phía Nam của Liên Xô và qua các nước như Iraq, Iran. Nếu có cơ hội đọc lịch sử Nga sẽ thấy điều này. Con đường này mở ra rất sớm, từ trước kỷ nguyên tới hai thế kỷ, sau đó có một giai đoạn bị cắt quãng. Cho tới thời nhà Đường lập quốc thì mới bắt đầu cho những đoàn quân mở rộng. Tuy nhiên trước thời nhà Đường, đó là thời Giao Tần thế kỷ thứ 5, những đại dịch giả từ vùng Trung Ấn, Bắc Ấn đi theo con đường này vào Trung Hoa như ngài Cưu Ma La Thập,…  Điều này cho chúng ta nhận định đây là con đường yếu lộ nhằm giao thương kinh tế. 

Con đường tơ lụa có hai đặc tính, một là kinh tế, hai là văn hóa; bên cạnh con đường văn hóa thì tôn giáo đi vào. Ngấm ngầm có mặt trong hai con đường này, ngoài giao lưu văn hóa, kinh tế còn có sự thầm lặng thôn tính, bành trướng địa vực, mở rộng cương vực, mở rộng ảnh hưởng, thôn tính các quốc gia ngoại biên. 

Bây giờ người ta hay dùng từ quyền lực cứng và quyền lực mềm, cứng có nghĩa là quân sự, chiến tranh và thôn tính; mềm nghĩa là gặm nhắm dần. Hai phần này luôn có mặt trong tất cả các quốc gia lớn, như Pháp, Mỹ, Trung Hoa,… Thế nhưng tùy vào mức độ văn minh và tính nhân văn của quốc gia đó mà hai con đường này được đánh giá là độc ác hay nhân bản. Đôi khi chúng ta có cái nhìn những công việc phát triển văn hóa, kinh tế giao thương nó chỉ đơn thuần là sự phát triển kinh tế của một quốc gia, hoặc là phát triển sự giao lưu hiểu biết của những quốc gia với nhau. Thế nhưng bên trong có hạt mầm của sự mưu đồ thôn tính, mà chúng ta không lường được. Đừng tưởng Đường Tam Tạng tức Đường Huyền Trang khi thỉnh kinh về, viết cuốn Đại Đường Tây Vực Ký, đơn thuần chỉ là việc làm của nhà viết sử, hoặc của nhà văn hóa hay cho dù viết bằng trái tim nhân hậu của người tu. Không phải vậy, mưu đồ của Đường Thái Tông không đơn giản là chấp nhận việc trên là giao thương văn hóa mà công trình của Đường Huyền Trang chi tiết như một nhà thám hiểm. Công việc của Đường Huyền Trang ghi chú rất rõ ràng về những vùng đất ông đã đi qua, dân tộc, thành trì, kinh tế, phong tục tập quán ra sao; ghi chú rất là rõ ràng để cho vua Đường nghiên cứu. Sau đó chúng ta biết rằng những cuộc xâm lăng, mở rộng biên vực qua các quốc gia, vùng phía Tây Trung Quốc. Cho nên mình đừng có đơn giản hóa vấn đề, đó là con đướng văn hóa, kinh tế, mà phải hiểu hàm tàng bên trong là con đường bành trướng thế lực, địa vực, v.v…

Gần đây, vào năm 2004, người Trung Quốc mở ra đến 443 viện Khổng Tử trên 71 quốc gia. Riêng tại Hoa Kỳ có 174 viện. Bộ chính trị trung ương của đảng cộng sản Trung Quốc (Trung Nam Hải) đầu tư một năm với khối lượng tài chánh vô cùng to lớn cho 174 viện Khổng học tại đất nước Hoa Kỳ. Hầu như những viện Khổng học này đều có mặt bên cạnh các trường đại học lớn, nổi tiếng của Mỹ như đại học Harvard. Bên cạnh đó, viện Khổng học chu cấp học bổng cho những sinh viên Mỹ du học, nghiên cứu, tổ chức những lớp lớp ngắn hạn qua Trung Quốc học. 

Ngoài những trường chính thức từ bộ chính trị đảng cộng sản Trung Quốc đặt ra thì còn có những ngôi trường của Đài Loan tổ chức, với cái tên là Taiwan Academy. Đây cũng là một loại viện Khổng học. Hiện tại họ đã có 213 viện trên 64 quốc gia, riêng Mỹ có 79 văn phòng và 3 viện đại học. Điều quan trọng là trong tất cả các viện Khổng học có những bàn tay tuyên truyền chính trị của đảng cộng sản Trung Quốc nối dài trên đất nước này, chứ không đơn thuần theo qui chế đại học của những quốc gia như Mỹ. Thế nào là bàn tay nối dài của đảng cộng sản Trung Quốc, thứ nhất để tuyên truyền về chính sách của Trung Quốc, thứ hai là không cho phép bàn thảo đối với những vấn đề nhạy cảm, sinh viên không có quyền lạm bàn về Tây Tạng, biển Đông, Thiên An Môn, tức là các vấn đề dân chủ tuyệt đối không được bàn đến..."

PHÁP UYỂN - phiên tả. 

Sau đây là Dẫn Ngôn để mời gọi quý vị xem 35 buổi giảng. 

DẪN NGÔN
Đạo Phật đã theo bước chân của các vị Thánh Tăng Ấn Độ đến Việt Nam bằng đường thủy và đường bộ vào đầu kỷ nguyên Tây lịch. Thế nhưng phải đợi đến Ngài Khương Tăng Hội từ thủ phủ đất Giao Châu ngược đường lên mạn Bắc vào triều đình nhà Ngô năm 247 Tây lịch dựng lập đạo tràng, dịch Kinh, thuyết Pháp mới được ghi vào văn hiến, để làm chứng cứ thực cho sự có mặt của Đạo Phật trên đất nước này.
Hẳn nhiên, trên quê hương Đại Việt vào những ngày đất nước còn chìm trong bóng tối của Bắc thuộc, cho đến lúc bình minh của nền độc lập, Đạo Phật đã song hành cùng vận nước nổi chìm. Các thiền sư thời Ngô, Đinh, Lê đã cố vấn cho Hoàng đế trong công trình an định triều chính, khai hóa nhân tâm và rèn đúc tinh thần độc lập, tự chủ của dân tộc. Các thiền sư thời Lý, Trần đã vận dụng tinh thần Bồ Tát Đạo chung lòng, chung sức với vua quan và con dân Đại Việt định đô Thăng Long, bảo vệ biên cương quốc thổ, xây dựng nền độc lập phú cường và phát triển tính nhân văn vững chắc rực rỡ cho thế hệ cháu con nghìn sau ngẩng cao đầu, tự hào chủng dân Lạc Hồng trong cụm dân cư bách Việt
Học Lịch sử Phật giáo Việt Nam không chỉ để biết sự có mặt và công lao đóng góp của các vị­­­­­­ Thiền Tăng trong quá khứ, mà còn là sự tri ân của chúng ta đối với các bậc tiền nhân đã đem máu xương mình trải xuống trên từng tấc đất, để gìn giữ giang sơn Đại Việt đẹp đẽ, nguyên vẹn biển trời và nền văn hiến đặc thù, nhân văn của tộc Việt, để thế hệ cháu con chúng ta hôm nay không cảm thấy bị tủi nhục khi đứng trước bè bạn năm châu.
Chúng tôi mong rằng những bài học Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam này sẽ nuôi dưỡng được niềm tự tin vào hồn thiêng sông núi Đại Việt của chúng ta đối với tổ tiên nghìn đời truyền lại; để người Việt Nam mãi chói sáng, hòa ái nhưng vẫn rất kiêu hùng như ông cha chúng ta đã từng xây dựng." Mắt Thương Nhìn Đời

Nguồn: http://www.matthuongnhindoi.org/index.php/phap-am/vii-lich-su-phat-giao/lich-su-duc-phat-2

Thursday, July 12, 2018

Kính Tiễn Thầy Thạch Lữ Thích Thiện Hữu

KÍNH TIỄN THẦY THẠCH LỮ THÍCH THIỆN HỮU
Hoà thượng Thích Thiện Hữu (1944-2018)

Hòa Thượng Thích Thiện Hữu thế danh Nguyễn Hữu Nghĩa thượng Như hạ Lễ tự Viên Nhơn, hiệu Thiện Hữu sinh năm Giáp Thân (1944) tại
xã Nhơn Khánh, quận An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh. Ngài viên tịch vào lúc 4 giờ ngày 30 tháng 6, 2018. Nhằm ngày 17 tháng 5, Mậu Tuất, hưởng thọ 75 tuổi.

Ngài xuất thân từ một gia đình thuần túy Phật Giáo, thân phụ của Ngài là cụ ông Nguyễn Hàn, Pháp danh Như Đà. Thân mẫu của Ngài là cụ bà Bùi Thị Thiệp, Pháp danh Như Cảnh. Ngài có tất cả 10 anh em, 5 trai và năm gái. Trong đó có 3 người con trai đã xuất gia đầu Phật, là bản thân Ngài, Cố Hòa Thượng Thích Thiện Trì, và Thượng tọa Thích Viên Mãn.

Thuở thiếu thời được song thân cho xuất gia tu học với Hòa Thượng húy Không Hoa hiệu Huệ Chiếu với pháp danh Như Lễ dòng pháp phái Nguyên Thiều đời thứ 42. Sau khi Bổn sư viên tịch, Thầy cầu pháp với Hòa Thượng húy Không Tín hiệu Kế Châu được ban pháp hiệu Thiện Hữu pháp tự Viên Nhơn. Hoà thượng đã học tại Học viện Phước Huệ và Tổ đình Thập Tháp từ năm 1970-1973. Những năm sau 1981, Thầy hoằng pháp độ sanh tại chùa Phước Điền, thành phố Nha Trang, sau này sang Mỹ quốc.

Năm 2000, Thầy xuất ngoại để giúp chăm sóc bệnh tình của Sư Huynh người là Cố Hòa Thượng Thích Thiện Trì. Sau khi Sư huynh Thầy viên tịch, Thầy tiếp tục dấn thân trong GHPGVNTNHN VPII Viện Hóa Đạo. Sau này, Ngài cũng là một trong những vị giáo phẩm chứng minh GHPGVNTNHN VPII Viện Hóa Đạo tại Hoa Kỳ. Ngài thường nhắc nhở quý Chư Tôn Đức trong Giáo Hội rằng,  “Sống thì anh em cùng sống và chết thì ôm nhau mà chết”.

Thầy cũng là một nhà thơ, với tên là Thạch Lữ. Đây là hai trong những bài thơ tiêu biểu của Thầy.
 Nhớ Thầy
(Kỷ niệm ngày Hòa thượng Thích Kế Châu viên tịch)
Mở cửa nhìn sao sao lặng mất
Vào bàn thắp nến nến rơi châu.
Nhớ thầy con biết tìm đâu,
Nhìn lên di ảnh lệ sầu tràn mi.
Tiếc thương còn biết nói gì,
Nghẹt ngào sao nỡ Thầy đi vội vàng.
Bao nhiêu Phật sự dỡ dang,
Chúng con tử đệ một đàn thơ ngây.
Bây giờ con đã mất Thầy,
Chúng con mất cả đường đi lối về.
Thiếu Thầy như thiếu tình quê,
Từ đây như cả sơn khê cạn nguồn.
Thay bằng dòng lệ tràn tuôn,
Thay vì nỗi nhớ từ nguồn biệt ly.
Oái oăm thay cảnh phân kỳ,
Một lần tử biệt còn gì tài hoa.

Trăng Quê Chùa Tổ

Một thoảng hương bay nhẹ cõi lòng
Dạ lan theo gió quyện vào sông,
Đong đưa cành liễu trăng lùa bóng
Trời đầy sao từng chiếc long lanh,
Mây bay gió đuổi mây bay nhẹ
Mười sáu đêm nay trăng thật trong,
Yên ả chùa quê thanh tịnh quá
Rõ cảnh lòng ta ngộ sắc không.

Ngài là một hành giả Phật giáo với lòng tử tế, từ bi và luôn luôn đặt Đạo pháp và Dân tộc trên hết. Nay Ngài thị tịch, chúng con nhất tâm cầu nguyện Giác linh Ngài Cao Đăng Phật Quốc và xin ghi tạc bài thơ:

Tưởng nhớ Thầy Thạch Lữ Thích Thiện Hữu

Chùa xưa cảnh cũ còn đây
Thầy đi tự tại áng mây qua đồi
Phương xa thương xót bồi hồi
Trở về tĩnh lặng rừng chồi sắc không.

Nam Mô Tự Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Nhị Thế húy thượng Như hạ Lễ tự Viên Nhơn, hiệu Thiện Hữu giác linh Hòa Thượng tân viên tịch thùy từ chứng giám.

Tâm Thường Định
Viết tại Orlando, Florida vào tháng 7, 2018.

Tưởng nhớ Thầy Thạch Lữ Thích Thiện Hữu


Tưởng nhớ Thầy
Thạch Lữ Thích Thiện Hữu

Chùa xưa cảnh cũ còn đây
Thầy đi tự tại áng mây qua đồi
Phương xa thương xót bồi hồi
Trở về tĩnh lặng rừng chồi sắc không.

Wednesday, July 11, 2018

Đản Sinh Trong Đặc Khu Trung Quốc? - Nguyên Giác

Đản Sinh Trong Đặc Khu Trung Quốc?
Nguyên Giác
Seven giant lotus lanterns on Huong River - Photo: http://english.vietnamnet.vn

Đản sinh, là nói chuyện Đức Phật đản sinh. Đặc khu, là nói chuyện thị trấn Lumbini, nơi Đức Phật ra đời, và cũng là nơi một giáo sư Bắc Kinh bỗng nhiên “khám phá” rằng Lumbini thời xa xưa là một đặc khu của triều đình Thục Vương của Trung Hoa cổ thời. Nghĩa là, lịch sử Phật giáo sẽ bị một vài giáo sư TQ viết lại... Lo ngại là gần đây, báo Global Times của nhà nước TQ đã nói về một “nghiên cứu mới” rằng chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni mang dòng máu người Hán, chớ không phải người Ấn Độ. Trong khi đó, cũng có thêm một nỗi lo khác cho Phật tử thế giới, là sức khỏe của Đức Đạt Lai Lạt Ma.
Trong tuần lễ vừa qua, Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14 vừa tròn 83 tuổi. Viễn ảnh của nền văn hóa Tây Tạng tan biến trong biển người Hán tộc ngày càng thấy rõ. Đặc biệt là, nhà nước Trung Quốc đã nói minh bạch là sẽ lựa chọn và tấn phong người được xem là tái sanh của Ngài vào cương vị Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 15.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14 sinh ngày 6 tháng 7/1935.  Bản tin CNN hồi tháng 3/2018 nói rằng vị lãnh đạo Phật Giáo Tây Tạng sẽ không đi ra ngoài Ấn Độ thuyết pháp năm nay, vì tuổi già và sức yếu.
Sonam Dagpo, phát ngôn nhân chính phủ Tây Tạng lưu vong, nói rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma được mời đi nhiều nước, nhưng phải từ chối nhiều nơi vì tuổi cao, sức yếu. Tuy nhiên, Dagpo nói, tình hình sức khỏe của Ngài vẫn tốt, vẫn giữ lịch trình thuyết pháp trong Ấn Độ.
Tuy nhiên, điều lo ngại là vì, thời gian Ngài còn ở với chúng ta không lâu nữa, trong khi ước mơ trở về Tây Tạng của Ngài càng lúc càng xa vời.
Báo The Quint hôm 11 tháng 6/2018 loan tin rằng, Đức Đạt Lai Lạt Ma bị ung thư tiền liệt tuyến (prostate cancer) và được chữa trị tại Hoa Kỳ trong hai năm qua. Bản tin do phóng viên Rajeev Sharma của The Quint viết rằng nguồn tin riêng của báo này nói rằng bệnh của Ngài đã vào giai đoạn cuối của ung thư, rằng chính phủ Ấn Độ biết và quan sát từ hơn một năm nay, trong khi chính phủ TQ biết mới vài tháng nay.
Tuy nhiên, khi báo The Quint xin xác minh từ văn phòng chính phủ Tây Tạng lưu vong, Tsering Dhondup của viện Tibetan Policy Institute trả lời rằng sức khỏe Đức Đạt Lai Lạt Ma tốt, không có gì quan ngại, và sẽ có chuyến đi hải ngoại năm nay.
Đọc kỹ câu trả lời, chúng ta không thấy nói gì về có hay không có ung thư. Dĩ nhiên, đối với những bậc cao tăng như Ngài, chuyện bệnh có nặng thế nào cũng chỉ là do nghiệp, cũng chỉ là bình thường. Điều lo ngại là lịch sử dân tộc Tây Tạng sẽ bị thay đổi, bị lèo lái theo những ý đồ Hán tộc bành trướng.
Năm 2015, trong khi nói với báo giới quốc tế, Đức Đạt Lai Lạt Ma giễu cợt chính phủ TQ về chuyện tìm cách kiểm soát việc Ngài sẽ tái sanh. Ngài nói rằng chuyện tái sanh đó sẽ giải quyết chính thức vào lúc Ngài đón sinh nhật thứ 90. Nghĩa là, phải bảy năm nữa. Ngài cũng nói giỡn rằng Ngài có thể tái sanh trong thân nữ, nghĩa là tương lai sẽ chẳng hề gì khi có một phụ nữ giữ ngôi vị Đức Đạt Lai Lạt Ma.
Mới vài năm trước, Đức Đạt Lai Lạt Ma lần đầu tới thăm Trung Tâm Nghiên Cứu Y Khoa Mayo Clinic tại Hoa Kỳ, và có dấu hiệu bệnh lý nơi Ngài. Tập san Phật giáo Lion's Roar ngày 28/9/2015 loan tin rằng Ngài tới khám bệnh ở Mayo Clinic, và theo lời khuyên các bác sĩ đã hủy bỏ nhiều buổi thuyết pháp trong lịch trình để về tịnh dưỡng ở Ấn Độ. Tuy nhiên, cũng không có tin cụ thể là bệnh gì.
Báo The Quint nói rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma được chữa trị bằng phương pháp “proton beam therapy” (liệu pháp tia dương điện tử) tại Mayo Clinic.
Bây giờ Ngài đã hủy bỏ tất cả những chuyến đi hải ngoại dự định, vì không đủ sức khỏe cho đường xa. Chỉ trừ một sự kiện Ngài chưa hủy bỏ: dự định sẽ thăm Thụy Sĩ vào tháng 9/2018 để tham dự lễ mừng 50 năm thiết lập Phật học viện Tibet Institute Rikon tại đây.
Tuy nhiên, trong một video ngắn vài phút, thông tấn The News Now của Ấn Độ ghi lại hình ảnh Đức Đạt Lai Lạt Ma tới dự một buổi lễ ở Đại học University of Jammu ngày 18/3/2018, chúng ta thấy dáng đi của Ngài không còn bình thường, và phải nương vào các phụ tá dìu đi. Xem: https://youtu.be/pBdmgV5KrJ8  từ phút 1:00 khi Ngài bước ra xe và đi vào hội trường.
Sang năm 2019 sẽ có nhiều kỷ niệm về chuyến đi của Ngài vào Ấn Độ. Sau cuộc nổi dậy 1959 thất bại của dân tộc Tây Tạng, Ngài cùng một đơn vị tàn quân băng đường bộ vượt núi Hy Mã Lạp Sơn để vào Ấn Độ ngày 30/3/1959, tới thị trấn Tezpur trong tiểu bang Assam của Ấn Độ ngày 18/4/1959. Một thời gian ngắn sau, chính phủ Ấn Độ đưa Ngài về thị trấn Dharamshala, và nơi đây trở thành trú xứ cho chính phủ Tây Tạng lưu vong tới giờ.
Một điểm để suy nghĩ: tới đúng cuối tháng 3/2019, mới tròn 60 năm Đức Đạt Lai Lạt Ma ra đi lưu vong. Vậy thì, tại sao chính phủ Tây Tạng lưu vong tổ chức các nghi lễ tưởng niệm “60 năm Tây Tạng lưu vong” vào đúng ngày Thứ Bảy 31/3/2018 tại Dharamsala?
Báo The Guardian ghi rằng trong lễ tưởng niệm, Thủ tướng Tây Tạng lưu vong Lobsang Sangay nói rằng Tây Tạng trong 60 năm qua bị người Trung Hoa tàn phá về văn hóa và căn cước.
Đếm cho đúng, lẽ ra là 1959 mới tròn 60 năm. Nhưng cũng có thể, các lễ tưởng niệm sẽ kéo dài trọn một năm?
Trong những thay đổi lớn do nhà nước TQ áp đặt vào sắc dân Tây Tạng có một điểm nổi bật về tôn giáo: Sắc lệnh 5 của Tôn giáo vụ về Quản lý việc tái sanh của các vị Phật Sống (Measures on the Management of the Reincarnation of Living Buddhas). Sắc lệnh 5 viết rằng một đơn xin công nhận một thiếu niên nào là cao tăng tái sanh phải do các tự viện Phật giáo nộp lên chính phủ để xét rồi mới công nhận một trẻ em nào là tulkus (đạo sư tái sanh). Nghĩa là, Đức Đạt Lai Lạt Ma tương lai phải do nhà nước TQ chỉ định.
Khi Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng Ngài có thể sẽ tái sanh ở hải ngoại, thậm chí có thể sẽ không tái sanh… thế là Bắc Kinh nổi giận.  Thông tấn Reuters vào tháng 3/2015 ghi lời Zhu Weiqun, Chủ tịch Ủy ban Tôn giáo và Sắc tộc trong Quốc Vụ Viện Trung Quốc (tức, trong Quốc Hội TQ), nói rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma đời 14 đã “phản bội và không tôn trọng truyền thống” khi nói rằng có thể sẽ không còn chuyện tái sanh nữa.
Zhu nổi giận, nói: “Phút này, ông ta nói sẽ tái sanh làm người ngoại quốc… sang phút sau, ông ta nói sẽ tái sanh trong thân nữ giới. Nếu quý vị trao cho ông ta một hũ mật ong, ông ta sẽ vui vẻ nói rằng kiếp sau ông ta sẽ là một con ong.”
Lý do Zhu nổi giận cũng vì trước đó, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng chuyện Quốc hội TQ chọn người tái sanh Đạt Lai Lạt Ma cũng y hệt như lãnh tụ Fidel Castro của Cuba lựa chọn Đức Giáo Hoàng cho đạo Thiên Chúa.
Tuy nhiên, TQ luôn luôn có độc chiêu, và thế gian không thể đo lường hết các mê lộ do Bắc Kinh bày ra. Trong đó có một “khám phá khảo cổ” mới, nói rằng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni mang dòng máu người Hán, không phải người Ấn Độ.
Báo The Times of India trong ấn bản ngày 23/2/2018, có bản tin tiếng Anh “Chinese scholar slams claim that Gautam Buddha was of Chinese origin” (Một học giả Trung Quốc chỉ trích bài viết nói rằng Đức Phật Thích Ca là người Trung Hoa)… Bản tin này có thể tìm qua Google, khi gõ câu tiếng Anh trên.
Nghĩa là, hàng dỏm, hàng giả, hàng nhái cũng thấy có dấu tay Hán tộc trong cả khảo cổ học…
Báo Ấn Độ ghi rằng tờ báo quốc doanh Trung Quốc Global Times loan tin rằng một bài viết lưu hành rộng rãi trên mạng Internet tiếng Hoa kể từ ngày 1/1/2018, nói rằng một học giả người Nepal có tên là Amuhanson đã “khám phá” rằng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thực sự là người Trung Hoa, không phải Ấn Độ.
Bản tin nói rằng cùng bài viết đó đã lưu hàng trên mạng sohu.com tiếng Hoa hồi tháng 11/2017 mà không nhắc tên học giả Nepal nào. Bài viết nguyên thủy đó ký tên Li Liangsong, một giáo sư Đại Học Y Khoa Trung Hoa Bắc Kinh (Beijing University of Chinese Medicine) và là một chuyên gia về y khoa Phật giáo.
Li liệt kê ra 10 lý do ông “khám phá” như thế, thí dụ như sự kiện rằng Nepal, nơi có thị trấn Lumbini (nơi Đức Phật đản sanh) nằm trong một vùng từng được gọi là một đặc khu ("special district") của một đế quốc Trung Hoa thời cổ, và nội dung kinh điển Phật giáo có cho thấy văn hóa phát xuất từ miền Trung của Trung Quốc.
Li  không phải người đầu tiên tìm cách chứng minh rằng Đức Phật Thích Ca là người Hoa.
Một nghiên cứu có ảnh hưởng mà Li nhắc tới là "Rethinking the Origin of Buddhism" (Nghĩ Lại về Cội Nguồn Phật Giáo) của Zhang Rubai, một giáo sư đại học Chengdu University of Technology ở tỉnh Sichuan. Zhang tin rằng Phật giáo lan truyền từ TQ sang Trung Á và các vùng phía tây xuyên qua Ấn Độ, và sau đó quay trở về nội địa TQ. Nghiên cứu của Zhang in trong tạp chí của Chengdu University of Technology hồi tháng 1/2016.
Nghiên cứu của Zhang dựa vào các hình tượng Phật khắc trên vật dụng bằng ngà voi hay ngọc bích, cũng như một đầu tượng Phật thủy tinh từ triều đại Shu Kingdom (Vương Quốc Nhà Thục) – một vương quốc có từ 1,000 năm trước Tây lịch. Bây giờ, nước Thục cổ này nằm trong tỉnh Sichuan (Tứ Xuyên).
Năm 2009, Zhang ấn hành một cuốn sách về cổ vật văn hóa đào lên từ nơi di tích đổ nát có tên là Sanxingdui (tiếng Việt là: di chỉ Tam Tinh Đôi, hay là Gò Ba Ngôi Sao).
Tuy nhiên, tới 7 năm sau, Zhang mất mặt vì Viện bảo tàng Sanxingdui Museum trong tháng 3/2016 đưa ra chỉ trích Zhang rằng không có di chỉ cổ vật nào trong sách Zhang thực sự là từ khu di tích. Các nhà nghiên cứu tại Viện bảo tàng này nói rằng Zhang bịa đặt ra và viết về các điều vô nghĩa khi nói rằng Phật giáo phát xuất từ khu di chỉ Sanxingdui.
Bản nghiên cứu này khi phóng lên mạng xã hội Weibo, nói thẳng rằng, “Chúng ta chưa bao giờ thấy có ai không biết hổ thẹn như thế.”
Trong khi đó, Shen Guiping, một nhà nghiên cứu tôn giáo trong Học Viện Trung Ương Xã Hội Chủ Nghĩa (Central Institute of Socialism) ở Bắc Kinh, trả lời phỏng vấn từ tờ báo rằng, “Tôi không thấy ý nghĩa  nào trong nghiên cứu (Đức Phật là người Hoa). Các nghiên cứu như thế không giá trị, và phương pháp nghiên cứu lại sai. Nếu chỉ để chứng tỏ yêu nước, thì đó là ngạo mạn. Kiểu như thế cần kiểm soát, nếu không sẽ thành ra dị thường và rồi nguy hiểm.”
Có bài học nào nơi đây? Chúng ta đã thấy rồi đó: lịch sử Biển Đông đã bị các nhà nghiên cứu TQ bóp méo để trở thành tài sản nhiều ngàn năm trước của Phương Bắc.
Bây giờ phải coi chừng, có thể sẽ có một giáo sư sử học Bắc Kinh nào đó viết rằng An Dương Vương Thục Phán là cháu Thục Vương, kéo quân phương Bắc vào đánh tan vương quốc Văn Lang của dòng Hùng Vương, và rồi thiết lập một vùng có tên là Đặc khu Âu Lạc, nơi còn di tích là Thành Cổ Loa ở huyện Đông Anh, Hà Nội.
Đặc khu Âu Lạc? Hay Đặc khu Hà Nội? Hình như đó sẽ là một câu chuyện dài, đang còn chờ một giáo sư sử học nào đó của Bắc Kinh nghĩ ra…

x
x

Tác Giả T.T.Kh Là Ai?

Tác Giả T.T.Kh Là Ai?
                        Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Tác giả:
T.T.Kh là bút danh của một nhà thơ ẩn danh trong phong trào Thơ mới (1930–1945), là tác giả bài "Hai sắc hoa Ti-gôn" nổi tiếng. Nhiều người đã suy đoán lai lịch thật của T.T.Kh nhưng chưa có giả thuyết nào thuyết phục được công chúng.

Câu chuyện:

Tháng 7 năm 1937, tuần báo Tiểu thuyết thứ Bảy ở Hà Nội đăng truyện ngắn "Hoa Ti gôn"[1] của nhà văn Thanh Châu, khoảng 2 tháng sau, thì "tòa soạn nhận được một phong bì dán kín do một thiếu phụ trạc 20 tuổi, dáng bé nhỏ, thuỳ mị, nét mặt u buồn mang đến gửi cho chủ bút tờ báo trên, trong ấy chỉ vỏn vẹn có bài thơ 'Hai sắc hoa ti gôn', dưới ký tên là T.T.Kh...Có thể nói đây là lần duy nhất người thiếu phụ ấy xuất hiện"...[2]. Trong đó có những câu sau:
...Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim bóng một người...
Hoa ti-gôn
Sau khi bài thơ được đăng, sự việc trở nên rắc rối là vì một vài nhà thơ đương thời như Nguyễn BínhThâm Tâm đã sáng tác các bài thơ hưởng ứng, trong đó thầm thố lộ rằng mình có biết, thậm chí có "dính líu tình cảm với người này" từ trước (xem "Cô gái vườn Thanh" của Nguyễn Bính, "Màu máu Ti gôn" của Thâm Tâm). Và kể khi ấy, những lời đồn đại về T.T.Kh càng nhiều, và càng có thêm nhiều dị bản.

Tác phẩm

T.T.Kh chỉ đăng trên tờ Tiểu thuyết thứ Bảy có 3 bài thơ, đó là:

Hai Sắc Hoa tigôn
Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn 
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn 
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc 
Tôi chờ người đến với yêu đương 

Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng 
Dải đường xa vút bóng chiều phong 
Và phương trời thẳm mờ sương cát 
Tay vít dây hoa trắng chạnh lòng 

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi 
Thở dài trong lúc thấy tôi vui 
Bảo rằng: hoa giống như tim vỡ 
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi 

Thuở đó nào tôi đã hiểu gì 
Cánh hoa tan tác của sinh ly 
Cho nên cười đáp: Màu hoa trắng 
Là chút lòng trong chẳng biến suy 

Đâu biết lần đi một lỡ làng 
Dưới trời đau khổ chết yêu đương 
Người xa xăm quá, tôi buồn lắm! 
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường 

Từ đấy thu rồi, thu lại thu 
Lòng tôi còn giá đến bao giờ 
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ 
Người ấy, cho nên vẫn hững hờ 

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời 
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi 
Mà từng thu chết, từng thu chết 
Vẫn giấu trong tim bóng một người 

Buồn quá! Hôm nay xem tiểu thuyết 
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa 
Nhưng hồng, tựa trái tim tan vỡ 
Và đỏ như màu máu thắm pha 

Tôi nhớ lời người đã bảo tôi 
Một mùa thu trước rất xa xôi 
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã 
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi 

Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ 
Chiều thu, hoa đỏ rụng chiều thu 
Gió về lạnh lẽo, chân mây trắng 
Người ấy sang sông đứng ngóng đò 

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng 
Trời ơi, người ấy có buồn không? 
Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ 
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng


Ảnh hưởng:

Các bài thơ của T.T.Kh và sự bí ẩn của tác giả đă từng gây xôn xao dư luận một thời. Những điều đó cũng tạo cảm hứng cho nhiều nhà văn, nhà thơ sáng tác những tác phẩm hưởng ứng nối tiếp. Các bài thơ của T.T.Kh cũng được vài nhạc sĩ phổ nhạc, như bài "Hai sắc hoa Ti-gôn" được NS Trần Trịnh (phổ nhạc năm 1958) và NS Anh Bằng phổ nhạc.

Chú thích: 

  1. ^ Theo Truyện ngắn "Hoa ti gôn" của nhà văn Thanh Châu đăng trên tuần báo Tiểu thuyết thứ Bảy
  2. ^ Lược kể theo Nguyễn Tấn Long-Nguyễn Hữu Trọng, Việt Nam thi văn tiền chiến (quyển thượng), Sài Gòn, 1968, tr. 503.
  3. ^ Theo nhà văn Thanh Châu thì bài thơ "Đan áo cho chồng" không phải do TT. Kh gửi đăng, mà là do "người yêu của T.T.Kh" gửi cho báo Phụ nữ thời đàm. Và cũng theo nhà văn này, chỉ có ba thơ in trên báo Tiểu thuyết thứ Bảy là chắc của T.T.Kh (xem chi tiết trong bài viết "Nói thêm về T.T. Kh" của Thanh Châu, viết vào mùa thu 1990, in trong Thâm Tâm-T.T. Kh của Hoài Việt. Nhà xuất bản Hội nhà văn, 1991).

Theo bách thư toàn khoa mở Wikipedia, tải xuống ngày 10 tháng 7, 2018.