Tuesday, January 3, 2023

CÁO PHÓ và Chương Trình Tang Lễ của HTr. Quảng Quý / OBITUARY of Mr. LAN KIM HUYNH

 


 CÁO PHÓ / OBITUARY

Thuận thế Vô thường, đã mãn phần vào lúc 2:55PM ngày 31 tháng 12, 2022

(Nhằm ngày 9 tháng 12, năm Nhâm Dần) 

tại Thủ phủ Sacramento, CA, Hoa Kỳ.

Hưởng Thọ 75 tuổi

Mr. Huynh passed away at River Bend Nursing Center at 2:55PM

on Saturday December 31, 2022 in the city of Sacramento, CA.  

He was 75 years old.

 

Linh cữu hiện quàn tại Sacramento Memorial Lawn at 6100 Stockton Blvd, Sacramento, CA 95824. Tel. (916) 421-1171. 

Tang lễ được tổ chức vào các ngày: Thứ Sáu, ngày 13 tháng 1, 2023 từ 3 giờ chiều

đến 10 tối và Thứ Bảy, ngày 14 tháng 1, 2023 từ 9 giờ sáng đến 1 giờ chiều.

Memorial Services will be held at Sacramento Memorial Lawn on Friday Jan. 13, 2023 from 3:00PM-10:00PM

and Saturday, Jan. 14 from 9:00AM -1:00PM.

6100 Stockton Blvd, Sacramento CA 95824. Tel. (916) 421-1171

 

Đại diện Ban Tổ Chức Tang Lễ khấp báo

On Behalf of the Memorial Services Organizing Committee

HTr. Đồng Duy - Lê Ngọc Luôn

Châu Đức Nhã (Đại diện Gia quyến - Cháu ruột gọi bằng Cậu)

 

Mọi chi tiết về Tang lễ, xin liên lạc / Contact Information:  

1. HTr. Đồng Duy - Lê Ngọc Luôn, Trưởng Ban Tổ Chức, tại số Điện thoại. 209.623.8344; Email: dong_duy@yahoo.com 

2. HTr. Tâm Thường Định - Bạch Xuân Khỏe, Thư ký BTC, tại số Điện thoại. 916.607.4066 hoặc Email: tamthuongdinh@gmail.com

 

CÁO PHÓ NÀY THAY THẾ THIỆP TANG 

Special OBITUARY Note

 

Mọi phúng điếu, nếu có, sẽ được cúng dường đến Chư Tôn Thiền Đức Tăng Ni

Chứng minh và tham dự Tang lễ của HTr. Quảng Quý hoặc cúng dường vào các Chùa, Tự viện và các công tác từ thiện. 

 

In lieu of flowers, any monetary gifts will be donated to the Venerable Sanghas

who attended, blessed and cared for the memorial services of Mr. Lan Kim Huynh,

and various Temples in Northern California.


 ------------------------------


Chương Trình Tang Lễ

Memorial Service Schedule

Hương Linh Cố Phật Tử thọ Bồ Tát Giới

 Phật tử Huỳnh Kim Lân / LAN KIM HUYNH 

(25.12.1948 – 31.12.2022)

Pháp danh / Dharma Name: Quảng Quý

Sinh ngày 25 tháng 12 năm 1948 tại Khánh Hòa, Việt Nam

Born on December 25, 1948 in province of Khánh Hòa, Vietnam. 

 

Thuận thế Vô thường, đã mãn phần vào lúc 2:55 PM ngày 31 tháng 12, 2022

(Nhằm ngày 9 tháng 12, năm Nhâm Dần) tại Thủ phủ Sacramento, CA, Hoa Kỳ.

Hưởng Thọ 75 tuổi

 

Thứ Sáu, ngày 13 tháng 1 năm 2023 

(Nhằm ngày 22 tháng 12 năm Nhâm Dần) 

Friday, January 13, 2022

03:30PM – Lễ Trị Quan - Nhập Liệm / Blessing Casket Ceremony 

  • Lễ Bạch Phật Khai Kinh / Opening Prayer Ceremony

  • Lễ Tấn Phong Huynh trưởng Cấp Dũng (Có chương trình riêng)

  • Lễ Phục Hồn và Cúng Cơm / Blessing and Offering to the Death

5:00PM – Lễ Cầu Siêu / Prayer Session

6:00PM – Thăm viếng / Visitation

7:30PM - 10:00 PM – Đêm tâm tình cùng với HTr. Quảng Quý -  Huỳnh Kim Lân 

  / Gathering, Sharing and Celebrating the life of Mr. Huynh Kim Lan.

 

Thứ Bảy, ngày 14 tháng 1 năm 2023 

(Nhằm ngày 23 tháng 12 năm Nhâm Dần) 

Saturday, January 14, 2022

09:00AM   – Cúng Trà / Tea Offering / Visitation

10:00AM   – Lễ Tưởng Niệm / Remembrance Ceremony

(Có chương trình riêng / Special program)

11:45AM    – Lễ Khiển Điện - Di Quan / Blessing Casket Ceremony

12:45PM     – Lễ Hỏa Táng / Cremation Ceremony 

01:30PM     – Lễ An Vị Hương Linh tại Chùa Kim Quang 

/ Altar Welcoming Ceremony at Kim Quang Temple

02:00PM      – Hoàn mãn / Conclusion.











Thursday, December 15, 2022

LỜI GIỚI THIỆU: Tác phẩm MINDFULNESS - CHÁNH NIỆM; Chất liệu Tỉnh Giác trong Cuộc sống và Học đường của Tâm Thường Định và Tâm Nhuận Phúc.

                                           LỜI GIỚI THIỆU

Tác phẩm MINDFULNESS - CHÁNH NIỆM; Chất liệu Tỉnh Giác trong Cuộc sống và Học đường của Tâm Thường Định và Tâm Nhuận Phúc.


Chưa bao giờ chữ Thiền Định được nói nhiều trong xã hội Tây phương như trong vòng thập niên lại đây. Chỗ nào người ta cũng nói đến Thiền! Ở Chùa, ở các Trung tâm Tu học Phật giáo đã đành, mà cả trong nhà thờ Thiên Chúa hay Tin Lành, trong các Thánh đường Hồi giáo, trong các Hội thể thao, các phòng tập thể dục thẩm mỹ… đâu đâu cũng nghe nói đến. Thậm chí các công sở, hãng xưởng còn tổ chức các buổi tập thiền cho công nhân viên.

Nhưng, họ nghĩ khác mình! Nghĩ khác, vì họ có lý do truyền thống của họ. Truyền thống Tây phương gọi chữ Thiền Định của Phật Giáo là Meditation. Kỳ thực, chữ Meditation lại chỉ nói lên một phần rất nhỏ của ý nghĩa Thiền Định. Nguyên ngữ gốc từ La Tinh chữ “Mediatio” nghĩa là: suy nghĩ, suy ngẫm, xem xét. Thiền định Phật giáo bắt nguồn từ chữ “dhyāna” của Sanskrit. Chữ này tiếng Pāli viết là Jhāna lại có ý nghĩa khác trong triết lý Du Già (Yoga), nó có nghĩa là đốt cháy, chiếu sáng. Theo Hòa thượng Tuệ Sỹ, lần đầu tiên chính Ngài Huyền Trang đã dịch chuẩn được từ dhyāna sang Hán tự là tĩnh lự.

Bởi vậy, tuy nói về thiền định, tuy thực tập thiền định nhưng nội dung và phương pháp thực tập lại khác nhau, có khi còn lại mâu thuẫn với nhau. Đốt cháy, suy ngẫmtĩnh lự thì quả là có khác nhau thật.

Thêm vào đó, cuộc sống của xã hội phương Tây hiện nay lại quá khác với nếp sống tĩnh mặc của xã hội Á Đông thời xưa (ấy là nói thời xưa chứ bây giờ thì Á Đông thì cũng xô bồ chẳng kém). Giới trẻ ngày nay lại càng phải lao đầu vào các sinh hoạt với một tốc độ kinh khủng của các phương tiện khoa học kỹ thuật tân tiến. Cuộc sống thì ngày càng tăng tốc trong khi nhịp tim con người vẫn cứ đều đều lắc lư từ 60 đến 100 nhịp đập mỗi phút. Đập nhanh hơn là bệnh, là đến ngay bác sĩ. Đây là một mâu thuẫn giữa hai đối cực trong thời đại hiện nay. 

Văn hào Hermann Hesse người Đức từng viết trong tác phẩm Siddhartha: Người đời hầu hết kéo lê cuộc sống như một chiếc lá rơi, cứ để gió cuốn xoay tròn trong không khí, rồi lắc lư rơi xuống đất Die meisten Menschen sind wie ein fallendes Blatt, das weht und dreht sich durch die Luft, und schwankt, und taumelt zu Boden. 

Vậy làm sao tìm được một mức quân bình khả dĩ trong cuộc sống xô bồ này, đặc biệt nhất là với giới trẻ.

Hai tác giả Tâm Thường Định và Tâm Nhuận Phúc trong tác phẩm “MINDFULNESS - CHÁNH NIỆM; Chất liệu Tỉnh Giác trong Cuộc sống và Học đường” này đã thành công khi đề nghị được một đáp án cho bài toán khó đó. Họ đã giúp đưa ra được những luận thuyết và những bài thực tập giá trị trong cuộc sống thường nhật, ngay giữa thế kỷ 21 này.

Ngay từ bài 1: LÃNH ĐẠO TRONG CHÁNH NIỆM – 5 NGHỆ THUẬT LÃNH ĐẠO CHO HÀNG HUYNH TRƯỞNG, tác giả viết: Còn lãnh đạo, theo định nghĩa của chúng tôi là hướng dẫn người khác trong tinh thần cho đi mà không nhận lại, giúp ích cho mình và giúp người khác không có tính phân biệt.

Với cách hành văn dễ hiểu, họ còn kể xen kẽ vào những câu chuyện dí dỏm, ví dụ chuyện ông Tổng thống dạy sinh viên trong một Học viện Quân đội; chuyện em bé trong nhà trẻ, chuyện Khổng Tử – Nhan Hồi..., tất cả là những câu chuyện thú vị ấy đều chuyên chở được những ý nghĩa thực tiễn cho cuộc sống thường nhật.

Bài 2: TẠI SAO CHÚNG TA KHÔNG DẠY BẠN CHÁNH NIỆM, họ viết: Chánh niệm là nền tảng cho mọi việc học khác, cho tất cả thành công bạn sẽ có trong suốt cuộc đời.

(…) Hiện nay, Trường đại học Oxford có bằng Thạc Sĩ về Chánh Niệm. Đây không phải là tôn giáo; đây không phải kiểu ‘hippie’ vô nghĩa; đây không phải là một vài ý tưởng ngẫu nhiên mà tôi tự nghĩ ra ở sau vườn nhà. Đây là khoa học. Có hàng nghìn nghiên cứu cho thấy rằng thực hành chánh niệm làm giảm trầm cảm, lo lắng và căng thẳng; làm tăng cảm giác hạnh phúc, an lạc, sự tập trung, sự chú tâm, và khả năng đạt thành tích tốt trong học vấn.

Bài 3: PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH CHÁNH NIỆM TRONG LỚP HỌC (MINDFULNESS-BASED APPROACH IN THE CLASSROOM)

Vân vân và vân vân.

Trong các bài tiếp theo đó, hai tác giả đã ghi lại những bài viết hay các bài thuyết trình khác, hướng dẫn cách thực tập tỉnh thức tại các đại học, học viện, trường học, sinh hoạt thanh niên (như Hướng đạo, Gia Đình Phật Tử). Đó là những phương pháp thực tập rất tiện ích, thích hợp cho đời sống bận rộn hiện nay, nhất là cho giới trẻ. Một ví dụ nhỏ như họ đề ra ba chữ viết tắt PBS, là các chữ đầu của từ Pause = ngừng lại; Breath = thở; Smile = Cười. Hoặc họ áp dụng những bài ca thiền để học viên dễ ghi nhớ.

Điểm đặc biệt khác của tác phẩm này là tác phẩm viết bằng song ngữ Việt – Anh. Nghĩa là nếu ai yếu tiếng Anh thì đọc ngay phần tiếng Việt. Các cháu trẻ ở thế hệ thứ ba, thứ tư ở tất cả các nước trên thế giới cũng đều có thể đọc được phần tiếng Anh. Các độc giả ở Việt Nam biết cả hai thì có thể đối chiếu hai ngôn ngữ để trau dồi thêm ngoại ngữ. Thật là lợi lạc mọi bề.

Hai tác giả Tâm Thường Định và Tâm Nhuận Phúc, một người là nhà giáo, người kia là nhà báo và nhạc sĩ đã phối hợp nhịp nhàng với nhau làm được việc hữu ích ấy. Cả hai lại là những Phật Tử thuần thành, thâm hiểu và tinh tấn thực hành Phật Pháp. Quý hóa hơn, họ tâm nguyện mang những tri thức ấy chia sẻ với người đời, nhất là tới giới trẻ ở trường học, nơi tập trung để phát triển trí tuệ đầu đời. Họ như những người làm vườn giỏi, không những chỉ chăm sóc các đóa hoa trong mảnh vườn tâm của mình mà còn phát tâm hướng dẫn những người mới học nghề (hay mới vào nghề) vun trồng những đóa hoa tươi cho đời.

Có thể họ chính là những con người, mà ở đoạn tiếp theo của câu văn chúng tôi đã trích dẫn bên trên của văn hào Hermann Hesse: 

Người đời hầu hết kéo lê cuộc sống như một chiếc lá rơi, cứ để gió cuốn xoay tròn trong không khí, rồi lắc lư rơi xuống đất. Số khác, và số này rất ít, họ giống như những vì sao, họ đi theo một con đường cố định, không ngọn gió nào có thể chạm tới họ; tự trọng bản thân họ có quy luật và hướng đi của họ Die meisten Menschen sind wie ein fallendes Blatt, das weht und dreht sich durch die Luft, und schwankt, und taumelt zu Boden. Andre aber, wenige, sind wie Sterne, die gehen eine feste Bahn, kein Wind erreicht sie, in sich selber haben sie ihr Gesetz und ihre Bahn.

Thật đáng tán thán!

Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tác phẩm MINDFULNESS - CHÁNH NIỆM, Chất liệu Tỉnh Giác trong Cuộc sống và Học đường đến mọi độc giả gần xa, nhất là với các bạn trẻ.



Mùa Vu Lan PL 2565 (DL 2021)

Hòa Thượng Thích Như Điển

& Cư sĩ Nguyên Đạo


Saturday, December 10, 2022

Tâm Quảng Nhuận: Lòng “Từ Bi Tận Cùng” Của Những Vị Bồ Tát Trong Truyền Thống Phật Giáo

 Tâm Quảng Nhuận: Lòng “Từ Bi Tận Cùng” của Những Vị Bồ Tát Trong Truyền Thống Phật Giáo

LỜI THƯA: Vẫn âm thầm nương theo tâm ý của Thầy, những ngày gần đây, chúng tôi tập trung soạn thảo nhiều tư liệu tham cứu cho Anh-Chị-Em Huynh trưởng GĐPT xoay quanh chủ đề “Tinh Thần Bồ Tát Đạo”.

Vẫn còn rất sớm để đưa ra một lời nhận định và đề nghị cho việc Huynh trưởng nên tiếp cận nghiên cứu và thực hành Bồ Tát Đạo ngay từ những bước đi đầu đời vào nghề trưởng, chứ không nên đợi lên đến bậc cao, hay cao nhất trong chương trình tu học và huấn luyện như hiện nay của tổ chức chúng ta.

Ngày nay, nhiều tổ chức thanh niên Phật giáo đang hoạt động khắp thế giới, trang bị cho một thành viên bình thường, mà không cần thông qua bất kỳ cấp bậc hay vị trí nào trong một tổ chức, tinh thần dấn thân trên nền tảng Bồ Tát Đạo ngay từ buổi đầu. Tất nhiên sự dấn thân đó như một cách thực hành từ kiến thức giáo lý, hỗ tương. Ở nhiều quốc gia Phật giáo, tinh thần Bồ Tát đạo như vậy, được cụ thể hóa, hướng dẫn thực hành chuyên sâu hơn cho từng lãnh vực, vấn đề đang diễn ra xung quanh, hằng ngày trong xã hội.

Chúng tôi từng tham khảo hai tác phẩm Thắng Man Giảng Luận và Duy Ma Cật của Thầy, bay bổng và thích thú nhưng cái hiểu mơ hồ cho đến khi tiếp cận Du Già Bồ Tát Giới. Mặc dù bản dịch và chú giải này – theo Thầy – chỉ dành cho những vị đã thọ Bồ Tát Giới. Tất phải có nguyên do của nó. Vì vậy khi đem suy nghĩ này chia sẻ với anh Tâm Tựu, và mong là quý Trưởng niên hiện đang sinh hoạt trong chúng Bồ Tát do anh và chị Tâm Minh hướng dẫn, tham cứu và thâm nhập rốt ráo hơn. Với chúng tôi, anh chị Trưởng nói chung, học Thắng Man Giảng Luận cũng như Duy Ma Cật Sở Thuyết, mà không học Du Già Bồ Tát Giới, cư sĩ nói chung và Huynh trưởng nói riêng rất dễ rơi vào trạng thái chấp trước, tự ngã.

Nam Mô Thường Hoan Hỷ Bồ Tát Ma Ha Tát.

Lòng “Từ Bi Tận Cùng” Của Những Vị Bồ Tát
Trong Truyền Thống Phật Giáo

Tâm Quảng Nhuận dịch Việt | Theo “The Effortless Benevolence
of Heroic Figures in Buddhist Traditions” của Richard Mercer

Lịch sử, truyền thống và truyền thuyết kể rằng Siddhartha Gautama, Thích Ca Mâu Ni, Đức Phật, đã đạt được sự giác ngộ vào khoảng 35 tuổi trong suốt một đêm sau khi từ bỏ cuộc sống khổ hạnh khắc nghiệt và đe dọa tính mạng mà Ngài đã tuân theo trong sáu năm. Khoảnh khắc nhận thức tuyệt vời với cảm giác hạnh phúc, tự tin, tập trung và bình tĩnh này đã xảy ra ở đâu đó vào khoảng năm 450 trước Công nguyên tại khu vực ngày nay là miền bắc Ấn Độ. Từ đó đã phát triển một hệ thống tín ngưỡng rộng lớn gọi là Phật giáo.

Lúc bấy giờ Đức Phật nói rằng Ngài đã nhớ lại nhiều kiếp quá khứ của mình – một kiếp, hai kiếp, ba kiếp, và cứ như vậy cho đến trăm ngàn kiếp; ở đó Ngài được đặt tên như vậy… kinh nghiệm vui sướng và khổ đau của Ngài như vậy, tuổi thọ là như vậy; rồi qua đời từ đó, tái sinh ở nơi khác; và ở đó Ngài cũng được đặt tên như vậy… Phật tử tin điều này theo nghĩa đen; một người theo chủ nghĩa hiện đại có thể giải thích điều này theo thuật ngữ tâm lý học là có thể quay trở lại ký ức về tất cả các sự kiện của một người thời thơ ấu, tuổi thiếu niên, thanh niên, trung niên, v.v. khám phá vô thức và sự lãng quên dẫn đến một cuộc sống được đánh dấu bằng sự hiểu biết về nguyên nhân hơn là một cuộc sống bị điều khiển bởi các thế lực vô thức, nửa tỉnh táo và bí ẩn.

Tiếp theo, Ngài hiểu chúng sinh sống như thế nào tùy theo hành động của họ kéo dài trở lại quá khứ phi thời gian. Điều này dẫn đến sự xác minh nguyên tắc nghiệp báo và dẫn đến khái niệm phức tạp về quan hệ nhân quả được gọi là duyên khởi. Chúng ta được phước lạc và chịu đau khổ do kết quả của các hành động của mình, chứ không phải cách chúng chống lại các điều răn. Ở đây Phật tử nghĩ về sự tái sinh tốt lành hay đau khổ; một người theo chủ nghĩa hiện đại sẽ có một cái nhìn sát thực hơn và nghĩ lại một lần nữa về việc đạt được sự hiểu biết sâu rộng về quan hệ nhân quả và bối cảnh trong cuộc sống cá nhân của một người – đó là hiểu và chấp nhận cách một người đạt được vị trí hiện tại bằng hành động của mình – dù tốt hơn hay tồi tệ hơn – vào chính thời điểm này.

Cuối cùng, Đức Phật đã đạt được kiến thức về sự hủy diệt của phiền não – một khám phá mới, độc đáo xuất hiện từ các học thuyết truyền thống và quen thuộc về tái sinh và nghiệp báo. Hồi ức của Ngài về những kiếp trước đã phá hủy quá khứ như một nguồn gốc của bản sắc và thay thế nó bằng trải nghiệm hạnh phúc khi được giải thoát khỏi tất cả những điều đó. Trong hiện tại, Ngài thấy rằng danh tính con người là một ảo ảnh – nguyên nhân của đau khổ và chìa khóa để xoa dịu nó. Trong chuỗi duyên khởi không có người, không có tác nhân, không có ngã. Ngài đã biến tình trạng con người bị kịch tính hóa bởi ký ức về những kiếp trước thành cốt lõi của giáo pháp Phật giáo sơ khai – tứ diệu đế. Siddharta thức tỉnh.

Sau đó, Ngài tự hỏi liệu mình có nên đảm nhận nhiệm vụ mệt mỏi và rắc rối là giảng dạy những gì vừa học được cho những người khác có thể không hiểu hay chỉ nên ở một mình tận hưởng trạng thái tâm trí mới này – tập trung, sáng sủa, dễ uốn nắn, vững vàng, thuần khiết. Trong truyền thống Phật giáo sơ khai, chính tại đây, Phạm thiên Sahampati hiện ra và thỉnh cầu:

Hãy trỗi dậy, anh hùng chiến thắng, thủ lĩnh đoàn lữ hành,
Một người không vướng mắc, và đi lang thang trên thế gian.
Đức Thế Tôn hãy thuyết Pháp,
Rồi có những người sẽ hiểu.

Khi Sahampati nhận ra rằng Đức Phật đã đồng ý với yêu cầu của mình để hướng dẫn những người khác, anh ta rời đi; kinh nghiệm giác ngộ đã được hoàn thành bởi lời hứa thực hành và hoạt động vì người khác.

Trong suốt quá trình tư tưởng và thực hành lâu dài của Phật giáo sau đó, hai hình mẫu thống trị toàn cảnh—A La Hán và Bồ tát. Đối với những người theo đạo Phật thời kỳ đầu, sự viên mãn của một đời người bắt nguồn từ một cuộc sống rút lui, thường là tu viện, được đánh dấu bằng sự khó nghèo, khiết tịnh và vâng lời. Vị tăng hay ni thành đạt chứng ngộ niết bàn trở thành A La Hán. Đối với những Phật tử Đại thừa sau này, cuộc sống lý tưởng đã phát triển thành một cuộc sống được đánh dấu bằng sự tham gia vào xã hội, một cuộc sống dấn thân tràn ngập trí tuệ và lòng từ bi—cuộc sống sau này thường được nói đến như là sự giảng dạy rất khéo léo của con đường Đại thừa. Người thanh niên nam nữ đạt được giác ngộ này đã trở thành một vị Bồ tát và có khả năng là một vị Phật thực sự.

Nhưng Khai Thị là gì? Ý tưởng này khiến nhiều người hướng về Phật giáo một cách lâu dài là gì?

Trong truyền thống Đại thừa, một câu trả lời cho câu hỏi là sunyata (tánh không), khoảng trống trong một đoạn văn ngụ ý một câu trả lời không thể diễn đạt thành lời, một câu trả lời dọn sạch nền tảng và dọn đường cho câu trả lời thứ hai.

Đó là Bồ đề tâm (tâm giác ngộ), kinh nghiệm quan trọng, nhất thời đánh thức một người về khả năng trở thành một bậc giác ngộ và thúc đẩy một người thực hiện cuộc hành trình gian khổ để đạt được mục đích đóShantideva, nhà sư, nhà thơ và học giả vĩ đại của Ấn Độ vào thế kỷ thứ 8, so sánh trải nghiệm này với việc nhìn thấy một tia chớp xé toạc màn đêm, và trong ánh sáng chói lóa của nó cho thấy tất cả những gì mà những đám mây đen đã che giấu; Ông nói, giống như tia chớp, những tư tưởng tốt và đức hạnh ngắn ngủi và thoáng qua, nhưng Bồ đề tâm, giống như một vị anh hùng, bảo vệ chúng. Đó là một trạng thái tinh thần, một thái độ vô giá, một viên ngọc của sự hiểu biết truyền cảm hứng cho một lời hứa, một lời nguyện tiến từng bước để giúp đỡ người khác. Đây là lời thề ban đầu.

William James, nhà tâm lý học và triết gia người Mỹ, mô tả một trạng thái tâm trí và trải nghiệm tương tự khiến “một bản thân từ trước đến nay bị chia rẽ, sai lầm một cách có ý thức, kém cỏi và không hạnh phúc” trải nghiệm việc quay đầu lại hoặc vượt qua những phẩm chất tiêu cực này. Có một niềm hạnh phúc lớn, một cảm giác khỏe mạnh. Những bí ẩn được làm sáng tỏ, thay vào đó là cảm giác chân thật không thể diễn tả bằng lời. Thế giới tươi mới và an lành. Sự bình tĩnh thay thế những lo lắng và mở ra những phạm vi mới của sự dũng cảm và kiên nhẫn. Động cơ ác cảm giảm đi; có sự dịch chuyển của trung tâm cảm xúc, sự gia tăng của sự dịu dàng và bác ái đối với đồng loại. Sự thay đổi thái độ này mang theo lòng từ thiện, dẫn đến một cảm giác hân hoan, một tình trạng mở rộng sinh ra những tình cảm quên mình và tử tế.

Sự giác ngộ hoàn hảo tiềm ẩn trong thời điểm đó, nhưng chỉ được nhận ra hoàn toàn sau một thời gian dài tu luyện dẫn đến trạng thái mà hành động của một người thể hiện sự hiểu biết về dana (bố thí), sila (đạo đức), ksanti (kiên nhẫn), virya (tinh tấn), samadhi (sự bình tĩnh thiền định và cái nhìn sâu sắc), và prajna (trí tuệ). Điểm mà kiến thức và hành vi được tích hợp là sự hoàn thành, điểm mà việc làm đúng trở nên dễ dàng và xứng đáng. Điều kiện này là sự viên mãn của lời nguyện ban đầu.

Shantideva một lần nữa:

Đối với tất cả những người ốm yếu trên thế giới
Cho đến khi mọi bệnh tật của họ được chữa lành,
Tôi có thể tận hiến chính mình cho họ
Bác sĩ, y tá, thuốc men.

Mưa xuống một lũ thức ăn và đồ uống
Cầu mong tôi trở thành một kho báu luôn dồi dào,
Và trong thời đại được đánh dấu bằng sự khan hiếm và mong muốn,
Tôi có thể tự mình xuất hiện như thức uống và thức ăn.

Đối với chúng sinh, nghèo và cơ cực,
Cầu mong tôi trở thành một kho báu luôn dồi dào,
Và nằm trước mặt họ trong tầm với của họ,
Một nguồn đa dạng của tất cả những gì họ có thể cần.

___________________

* Tiểu luận này là bài phân tích thứ hai của Richard Mercer về “chủ nghĩa anh hùng” từ quan điểm Phật giáo. Bài luận đầu tiên của ông tập trung vào Bồ-tát. Mercer đã từng là Giảng viên thỉnh giảng tại Đại học Richmond. Ông đã nghiên cứu Phật giáo từ đầu những năm 1990. Chỉ gần đây anh mới nhận ra rằng lý tưởng Bồ-tát là một mô hình tuyệt vời và khả thi để noi theo.

The Effortless Benevolence of Heroic Figures in Buddhist Traditions

By Richard Mercer

History, tradition, and legend have it Siddhartha Gautama, Shakyamuni, the Buddha, achieved enlightenment at about the age of 35 during the course of one night after renouncing the life of severe and life threatening austerity which he had followed for six years.  This grand moment of cognition happened somewhere around 450  BCE in what is now northern India and was accompanied by feelings of happiness, confidence, concentration, and equanimity.  From it has grown the immense belief system called Buddhism.

At that time the Buddha said he recollected his manifold past lives–one birth, two births, three births, and so on up a hundred thousand births; there he was so named . . . such was his experience of pleasure and pain, such was his lifespan; and passing away from there he was reborn elsewhere; and there too he was so named . . . .   The orthodox and the faithful believe this literally; a modernist might interpret this in  psychological terms as being able to go back in memory to all the events of one’s infancy, childhood, adolescence, young adulthood, middle age, and so on–to all our own developmental lifespans, and view it as an exploration of the unconscious and the forgotten leading to a life marked by an understanding of causes rather than one driven by unconscious, semi-conscious, and mysterious forces.

Next he understood how beings fare according to their actions stretching back into the timeless past.  This amounted to a verification of the principle of karma and led to the complex concept of causality known as dependent origination. We are rewarded and suffer by the results of our actions, not how they stack up against commandments.  The orthodox and the faithful think here of auspicious or painful rebirth; a modernist would take a shorter view and think once more of gaining a large understanding of causality and contextuality in one’s personal life–that is understanding and accepting how one got to where one is by one’s actions–for better or worse–at this very moment.

Finally, the Buddha achieved knowledge of the destruction of defilements–a new, original discovery that emerged from the familiar and traditional doctrines of rebirth and karma.  His recollection of earlier lives destroyed the past as a source of identity and replaced it with the happy experience of release from all that.  In the eternal present he saw that human identity is an illusion–the cause of suffering and the key to its remission.  In the chain of dependent origination there is no person, no agent, no self.  He reworked the human condition dramatized by the memory of past lives into the core of early Buddhist dharma–the four noble truths.  Siddharta awakened.

He then asked himself if he should undertake the wearying and troublesome task of teaching what he had just learned to others who might not understand or should he remain alone enjoying this new state of mind–concentrated, bright, malleable, steady, pure.  In the early Buddhist tradition it is here the Brahma Sahampati appears to him and says,

Arise, victorious hero, caravan leader,
Debtless one, and wander the world.
Let the Blessed One teach the Dhamma,
There will be those who will understand.

When Sahampati realizes the Buddha has consented to his request to instruct others, he departs; the experience of enlightenment has been completed by the promise of practice and activity for others.

Throughout the long course of Buddhist thought and practice after this, two role models  dominated the landscape—the Arhat and the Bodhisattva.  For the early Buddhists, the consummation of a human lifetime derived from a withdrawn, often monastic, existence marked by poverty, chastity, and obedience.   The successful monk or nun who realized nirvana became an Arhat.  For the later Mahayana Buddhists the ideal life evolved into one marked by heroic involvement in the world, an engaged life infused with wisdom and compassion—the latter often spoken of as highly skillful teaching of the Mahayana way. The man or woman achieving this enlightenment became a Bodhisattva and potentially a veritable Buddha.

But what is Enlightenment?  What is this idea that causes many to look longingly in the direction of Buddhism?

In the Mahayana tradition, one answer to the question is sunyata (emptiness), open space in a paragraph implying an answer that cannot be put into words, an answer which clears the ground and prepares the way for a second answer.

It is Bodhicitta (awakened mind), the crucial, momentary experience of which awakens one to the possibility of becoming an enlightened being and motivates one to undertake the  arduous journey to that end.  Shantideva, the great 8th century Indian monk, poet, and scholar likens the experience to seeing a flash of lightning that rends the night, and in its glare shows all that the dark clouds hid; like lightning, he says, good and virtuous thoughts are brief and transient, but bodhicitta, like a hero, protects them.  It is a state of mind, an invaluable attitude, a jewel of the understanding that inspires a promise, a vow to advance step by step to help others.  This is the original vow.

William James, the American psychologist and philosopher, describes a similar state of mind and experience which causes “a self hitherto divided, and consciously wrong, inferior, and unhappy” to experience a turning around or tipping over of these negative qualities.  There is great happiness, a sense of wellness and health.  Mysteries are cleared up, replaced by a sense of truth beyond words.  The world is fresh and new.  Equanimity replaces anxieties and there is an opening up of new reaches of fortitude and patience.  Motives to antipathy are reduced; there is a shifting of emotional center, an increase of tenderness and charity for fellow creatures.  This alteration of attitude carries charity with it, resulting in a feeling of jubilation, an expansive condition engendering self-forgetful and kindly sentiments.

Perfected enlightenment is implicit in that moment, but is only fully realized after a long period of cultivation leading to a state where one’s actions enact an understanding of dana (generosity), sila (morality), ksanti (patience), virya (effort), samadhi (meditative calm and insight), and prajna (wisdom).  The point where knowledge and behavior are integrated is the consummation, the point where doing the right thing becomes effortless and rewarding.  This condition is the perfection of the original vow.

Shantideva once more:

For all those ailing in the world
Until their every sickness has been healed,
May I myself become for them
The doctor, nurse, the medicine itself.

Raining down a flood of food and drink
May I become a treasure ever plentiful,
And in the ages marked by scarcity and want,
May I myself appear as drink and sustenance.
            
For sentient beings, poor and destitute,
May I become a treasure ever plentiful,
And lie before them closely in their reach,
A varied source of all that they might need.

___________________

* This essay is Richard Mercer’s second analysis of heroism from the Buddhist perspective. His first essay focused on the Bodhisattva. Mercer has been a Visiting Instructor of English and Core (especially Edgar Allan Poe and Samuel Beckett) at the University of Richmond. He has studied Buddhism since the early 1990s. Only recently has he realized that the Bodhisattva ideal is a wonderful and practicable model to follow.

Monday, December 5, 2022

Tâm Thường Định: Huynh Trưởng Chánh Niệm: Nhận Thức Được Những Rào Cản Cho Sự Hòa Hợp & Nhiệt Tâm

Huynh Trưởng Chánh Niệm: Nhận Thức Được Những Rào Cản Cho Sự Hòa Hợp & Nhiệt Tâm

Thử đoán xem, nhiệt huyết hiện nay của nhóm, hay tổ chức của chúng ta là bao nhiêu? Tinh thần và năng lượng làm việc của chúng ta như thế nào?

Tại sao những câu hỏi này quan trọng?

Tất nhiên, nó có ảnh hưởng đến hiệu suất, nhiệt tâm cũng như kỹ năng “teamwork” của chúng ta. Mọi người NÊN quan tâm đến những điều gì đã và đang làm phân tán sự chú ý và nhận thức của mình. Bất cứ điều gì làm suy giảm, cạn kiệt hoặc phá hủy năng lượng đều ảnh hưởng đến cách chúng ta phản ứng, cũng như đáp ứng với công việc của mỗi người lẫn tổ chức.

Vậy, điều gì có thể mang chúng ta lại với nhau? Và điều gì có thể chia rẽ chúng ta?

Tất cả đều bắt đầu nơi chính bạn. Ý thức vai trò trách nhiệm của mình trong tổ chức. Nghĩa là hiểu vị trí của chúng ta trong nền văn hóa-truyền thống (của tổ chức) và sẵn sàng đóng góp tâm sức của mình vào đó, đồng thời giúp chúng ta – ví như – có thể lái xe suôn sẻ, tránh được những gờ giảm tốc cũng như chướng ngại vật dễ khiến mình chệch hướng.

We all SHOULD be concerned with identifying those specific things which can often distract our attention and our awareness. Anything that will diminish, drain, or destroy the energy affects how we react and respond to our job. What can bring us together? What can divide us? I think it all begins with you. It should be to understand what is your position in the organization…

Phòng hộ sự đàm tiếu và thị phi

Thông thường, giống như một đàn ngỗng cất tiếng kêu, chúng ta tạo hoặc phát minh ra kịch tính xung quanh. Rồi mình bị nó lôi cuốn. Đôi khi nó được thực hiện trước hoặc sau những lần gặp gỡ hay một cuộc họp tạo nên sự đàm tiếu và thị phi. Vấn đề là cũng không nên e ngại hay ra sức chống chế. Trên thực tế, bên cạnh sự đàm tiếu thị phi vẫn có một liều thuốc cho những cơn đau nhức, chúng ta chỉ cần cân nhắc và thận trọng. Nguyên nhân dẫn đến có thể là bất cứ điều gì —  vì những người khuấy nồi, khi thiếu thông tin, họ đi tìm hoặc tạo ra chúng.

Nothing against laughter, and. So besides laughter as medicine for our daily aches and pains, let’s focus on the harmful stuff. We know the people who stir the pot for whatever reasons they have. When details are missing, they find or suggest them.

Nên biết giới hạn ở đâu?

Cũng khá đơn giản. Chúng ta nên vạch ra ranh giới nơi các sự kiện cần dừng lại và các nguồn đáng nghi kỵ hay không thật có. Những thông tin này trong công việc của chúng ta là nghiêm trọng vì nó có thể khiến ai đó sẽ bị tổn thương, hoặc làm mọi người hoang man. Đặt câu hỏi đơn giản như thế này: “Điều này có đúng không?” Thật đáng kinh ngạc khi câu hỏi đơn giản này thường xuyên khiến một câu chuyện dừng lại (thậm chí là một câu chuyện đang có trong đầu bạn). Rồi khi nếu nó có thể đúng (hoặc sai), hãy tìm hiểu với tinh thần cởi mở.

Pretty simple. We draw the line where facts stop and sources are questionable or nonexistent. This type of talk in our line of work is serious because it can get someone hurt, or replace relative certainty with things like fear or hesitation. Ask this simple question: “Is this true?” It’s amazing how often this simple question will stop a story in its tracks (even a story inside your head). If it might be true (or false), investigate with an open mind.

Trong công đoạn này, chúng ta cần giải quyết các sự kiện. Vì vậy, hãy gạt bỏ những thứ nhảm nhí ngay từ đầu. Làm như vậy là cần thiết cho công việc và nó tốt cho tinh thần mỗi cá nhân lẫn tập thể. Tin đồn có thể ảnh hưởng tiêu cực đến mọi thành viên, công việc. Cuối cùng nó ảnh hưởng đến toàn bộ tổ chức.

Buông bỏ ngã chấp hay giữ sự khiêm tốn

Hãy không ngừng học hỏi. Tránh nghĩ rằng mình là chuyên gia giỏi nhất hoặc không có khóa đào tạo nào có thể dạy cho mình bất cứ điều gì vào thời điểm này. Mỗi người có thể là những bộ phận rất hữu ích và thiết yếu của toàn bộ bộ máy đang chuyển động. Đừng mong đợi sự hoàn hảo từ những người không cầu toàn. Vì chính điều đó cũng tạo ra một số vấn đề.

Often expecting perfection out of non-perfectionists, is the reason that creates some problems.

Còn nữa, không phải lúc nào cũng chỉ có những người lớn tuổi không thích thay đổi. Hãy cố gắng chia sẻ thật lòng với người khác những điểm mạnh và điểm yếu của bạn, bởi vì tất cả chúng ta đều có chúng. Sự hoàn hảo không phải là tuyệt đối, bởi vì chúng ta học hỏi từ những sai lầm và thất bại của mình. Ngồi và nói chuyện với những cộng sự của mình có thể học cách làm việc cùng nhau. Có thể có những khía cạnh giúp bạn cải thiện cá nhân. Hãy nhớ rằng: Tất cả chúng ta học và hành khác nhau.

It’s not always just the older folks who dislike change.  Try to share with others honestly your strengths and weaknesses, because we all have them. Perfection is not perfect, because we learn through our mistakes and our failures. Sit and speak to your folks and you can learn to work together. There may be aspects you can improve upon personally. Others you might excel at. Remember: We all learn differently.

Những thành tố bi quan và tiêu cực

Nói một cách đơn giản, thực tế vẫn có nhiều người chăm chú và CHỈ chia sẻ những thứ tiêu cực, bi quan và không hiệu quả. Điều này có thể nhìn thấy nhiều phương tiện truyền thông lớn ngày nay… Bất kể bạn xem kênh nào, đều là tin xấu. Tương tự nhiều người trong chúng ta rơi vào sự kiến chấp.

Nếu là bạn, dù chỉ một chút, hãy xem liệu bạn có thể cố gắng, ít nhất 51% thời gian, để nhìn thấy điều tích cực trong những gì chúng ta làm và trong thế giới xung quanh chúng ta hay không. Nghi kỵ và phàn nàn mai một năng lượng quý giá và hủy diệt tinh thần. Nếu có điều gì cần sửa chữa, hãy sửa chữa nó—ngay cả khi điều đó có nghĩa là sửa chữa chính mình.

If this is you, even just a little bit, see if you can try, at least 51% of the time, to see the positive in what we do and the world around us. Complaints and gripes eat up precious energy and kill morale. If something needs fixing, fix it—even if it means fixing yourself.

Tạm kết:

Tiêu cực là mệt mỏi, và không có gì lạ khi “Huynh trưởng” chúng ta có lúc cảm thấy nản chí nản lòng. Cuộc trò chuyện chân thành, quan tâm sẽ đi một chặng đường dài— vì vốn chúng ta là Gia đình Phật tử. Chia sẻ mục tiêu của bạn, từng mục tiêu một, với ngôn ngữ rõ ràng với từng thành viên. Nó sẽ cung cấp cho bạn và cộng sự năng lượng và tập trung trở lại.

Negativity is exhausting, and it’s no wonder we “Huynh truong” all feel exhausted. Honest, the caring conversation goes a long way—and just in the GĐPT. Share your goals, one at a time, with clear language with each member too. It will give you and them that energy and focus back.

 

_______________________________

* Tham khảo: Training Network